NHU CẦU CỦA PHỤ NỮ NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM VỚI CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH QUẢN LÝ RỦI RO - Pdf 67


1
Nhu cầu của Phụ nữ Nghèo Khu vực Nông thôn Việt nam với các Dịch
vụ Tài chính Quản lý rủi ro Bối cảnh:
Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ dự án của ILO “Mở rộng Chương trình Bảo hiểm và
Tài chính vi mô (TCVM) cho lao động nữ trong khu vực phi kết cấu”.

Phụ nữ nghèo đặc biệt dễ bị tác động bởi những rủi ro vì họ thiếu khả năng tài chính và thiếu các
tài sản khác. Một sự cố nhỏ như ốm đau cũng có thể gây tác động bất lợi đến cuộc sống của họ.
Vì vậy mục đích của dự án tại Việt nam là xác định và thử nghiệm những sản phẩm mới về tài
chính nhằm giúp phụ nữ nghèo bảo vệ mình hay đối phó với những rủi ro mà họ gặp phải trong
cuộc sống hàng ngày.

Phạm vi nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là phân tích những rủi ro mà phụ nữ nghèo trong khu vực kinh tế phi
chính thức gặp phải và các biện pháp đối phó của họ. Nghiên cứu so sánh các rủi ro phụ nữ nghèo
phải đối mặt và các biện pháp đối phó họ sử dụng nhằm xác định những bất cập có thể giải quyết
bằng các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro như hình thức tiết kiệm linh hoạt, vay nóng hay bảo
hiểm.

Phương pháp luận:
Mục đích của nghiên cứu là hiểu rõ hơn về rủi ro mà các khách hàng ở hai điểm lựa chọn ở miền
Bắc Việt nam của tổ chức TYM và AAV gặp phải. Vì vậy mục đích của điều tra này không tìm
hiểu những rủi ro mà phụ nữ nghèo gặp phải và các biện pháp đối phó của họ đại diện cho cả
nước Việt nam. Điều tra này không nhằm mục đích đại diện mà chỉ được xem như là một nghiên
cứu thị trường khách hàng của TYM và AAV.

Nghiên cứu tập trung vào các khách hàng của hai tổ chức TCVM. Ban đầu, mục đích của dự án


Vật nuôi ốm/chết: Vật nuôi (gia súc, gia cầm) ốm chết cũng là một rủi ro phổ biến đối với nông
dân. Khoảng 1/3 hộ gia đình điều tra gặp phải rủi ro này trong suốt năm qua. Vật nuôi chết có thể
gây ra hậu quả thiệt hại cho gia đình. Các hộ gia đình thường dùng vật nuôi như là một cách thức
tiết kiệm và là vật “đệm” khỏi những cú sốc. Khi mất vật nuôi, các hộ gia đình mất đi một phần
tiết kiệm quan trọng và mất đi một vật “đệm” quan trọng khi gặp sốc. Vì vậy, mất vật nuôi làm
tăng đáng kể tình trạng bị tổn thương của hộ gia đình.

Các chi phí liên quan đến giáo dục: Mặc dù các chi phí giáo dục bao gồm học phí và các chi
phí liên quan đến nhà trường khác không đột xuất, có thể thấy trước và lên kế hoạch trước nhưng
chúng vẫn là một áp lực kinh tế quan trọng đối với phụ nữ nghèo. 60% phụ nữ được phỏng vấn
thấy việc dành tiền cho các khoản chi phí liên quan đến giáo dục là khó khăn.

Những rủi ro/áp lực kinh tế khác gồm có rủi ro chuột bọ phá hoại mùa màng và thiên tai. Đây
là những rủi ro hiệp biến, một khi những rủi ro này xảy ra có thể gây ảnh hưởng đến một số
lượng lớn các hộ gia đình. Còn có một số áp lực kinh tế khác như phải chi phí cho đám cưới, đám
ma, sắm Tết và các khoản chi tiêu tiêu dùng khác.

2. Những biện pháp đối phó được sử dụng nhiều nhất và hạn chế

2.1 Tiết kiệm:
Mặc dù những phụ nữ được phỏng vấn nói rằng họ rất khó tiết kiệm tiền vì họ chỉ có chút ít tiền
và 90% trong số họ nói họ có tiết kiệm cách này hay cách khác. Hình thức tiết kiệm thông dụng
nhất là tiết kiệm tại nhà, tiết kiệm theo nhóm, tiết kiệm bằng cách đầu tư chăn nuôi gia súc, gia
cầm hay mua nông sản (gạo), và tiết kiệm bằng hiện vật (đồ kim hoàn). Tiết kiệm tự nguyện
trong khuôn khổ tổ chức TCVM cũng là một biện pháp quan trọng ở Đông Triều. Các hình thức
tiết kiệm khác là tiết kiệm ở tổ chức tài chính chính thức như ngân hàng hay bưu điện và cho
người khác vay.

Tiết kiệm tiền mặt tại nhà là một cách tiết kiệm linh hoạt. Mọi người không phải mang tiền đến


Tiết kiệm tự nguyện theo chương trình AAV rất phát triển ở Đông Triều. 24% người được phỏng
vấn ở Đông Triều có tiết kiệm tại tổ chức TCVM. Khách hàng ở Đông Triều bày tỏ sự hài lòng
đối với dịch vụ tiết kiệm vì tính linh hoạt của số tiền gửi của dịch vụ này. Mọi người có thể tiết
kiệm một khoản nhỏ 1.000 đồng. Tiền tiết kiệm được thu tại thôn hai tuần/lần. Những người
không phải là khách hàng vay của Quỹ cũng có thể tham gia tiết kiệm. Một hạn chế của dịch vụ
tiết kiệm này là khi mọi người muốn rút tiền tiết kiệm phải thông báo trước cho Quỹ ít nhất 2
tuần. Trong trường hợp khẩn cấp, việc chậm chễ này làm mọi người cảm thấy không thuận tiện.

Chỉ có ít người trong mẫu điều tra gửi tiết kiệm tại ngân hàng hay bưu điện (3,5% người được
phỏng vấn cho biết là có sử dụng 2 hình thức tiết kiệm này). Được biết, lý do là thủ tục phức tạp
và quy định mức gửi tối thiểu (50.000 đồng) của các tổ chức chính thức này. Ngoài thủ tục phức
tạp ra, mọi người còn không muốn phải đi một quãng được xa để đến được ngân hàng hay bưu
điện và chỉ mở cửa vào giờ làm việc khi mà họ cũng đang phải làm việc. Đây thực sự là một sự
phiền phức, đặc biệt khi họ chỉ có một khoản tiền nhỏ để gửi.

2.2 Tín dụng:
Vay mượn là một trong biện pháp phổ biến để đối phó với rủi ro và các áp lực kinh tế. 82% đối
tượng không phải là khách hàng được phỏng vấn cho biết họ cũng đã từng nợ nần. Gần một nửa
số vốn vay (44%) được sử dụng cho các mục đích sản xuất. Vốn vay cũng được sử dụng cho các
mục đích tiêu dùng khác ví dụ như sắm Tết (10%), để thanh toán các chi phí liên quan đến sức
khoẻ (9%), giáo dục (8%), xây dựng, sửa sang nhà cửa (8%) và cho thực phẩm như mua gạo
(7%). Các nguồn vay là từ họ hàng và bạn bè, vay từ người cho vay nặng lãi, từ tổ chức TCVM,
Ngân hàng NNPTNT và từ Ngân hàng chính sách xã hội.

Vay từ họ hàng/bạn bè được biết là biện pháp thường xuyên nhất để đối phó với ốm đau, tai nạn
và một số sự kiện trong chu kỳ cuộc sống. Khi vay nóng từ họ hàng/bạn bè, mọi người thường
không phải trả lãi suất và có thể vay được ngay nếu người cho vay có sẵn tiền. Vấn đề là những
phụ nữ nghèo thường không có nhiều họ hàng hay bạn bè giàu có, người có thể cho vay tiền. Một
hạn chế nữa ở hình thức vay này là về vật chất nói chung không phải tốn kém nhưng về cái giá về

Vay từ ngân hàng chính thức không được xem là biện pháp thông dụng để đối phó với trường
hợp khẩn cấp. Những người được phỏng vấn phàn nàn về thủ tục cồng kềnh và thời gian chờ đợi
dài.

2.3 Bảo hiểm:
Mặc dù các cuộc phỏng vấn cấu trúc cho thấy rằng khoảng 60% các hộ gia đình có mua bảo hiểm
nhưng những phụ nữ được phỏng vấn không đề cập đến bảo hiểm như là một biện pháp quản lý
rủi ro thường xuyên. Trên thực tế, hầu hết những hợp đồng bảo hiểm thuộc loại bảo hiểm cho học
sinh. Cha mẹ học sinh mua bảo hiểm cho con bởi nhà trường khuyên họ làm như vậy mà không
thực sự hiểu thấu đáo về những lợi ích của bảo hiểm. Thực tế đó có thể giải thích lý do tại sao
trong số 23% người mua bảo hiểm đã từng gặp rủi ro thì chỉ có 14% nhận được bồi thường. Số
còn lại 9% không nhận được bồi thường là do thủ tục phức tạp hoặc họ không biết phải đi đến
đâu để yêu cầu bồi thường. Thêm vào đó, một số lượng lớn những người mua bảo hiểm không rõ
những loại tổn thất nào thì được bồi thường theo diện bảo hiểm y tế hay bảo hiểm nhân thọ.
Những người có thẻ bảo hiểm y tế thướng phàn nàn về chất lượng các dịch vụ y tế.

100% khách hàng của TYM tham gia Quỹ tương trợ của TYM mà không nghĩ rằng đó như là
một hình thức bảo hiểm (khách hàng của TYM được thực sự khuyến khích tham gia vào quỹ
này). Thực tế, Quỹ tương trợ là một hình thức bảo hiểm đơn giản. Quỹ bảo vệ thành viên trong
trường hợp tử vong: nếu một thành viên qua đời, người đó sẽ được xoá nợ và gia đình sẽ nhận
được trợ cấp ở mức 500.000 đồng. Quỹ này cũng hỗ trợ ở mức hạn chế đối thành viên trong gia
đình trong trường hợp bị ốm nặng. Khách hàng rất hài lòng với dịch vụ này của Quỹ.

Khi được hỏi về nhu cầu đối với dịch vụ bảo hiểm, 26% người được phỏng vấn tuyên bố cần bảo
hiểm y tế. Con số này không thực sự phản ánh đúng thực tế là vấn đề ốm đau làm phụ nữ nghèo
nông thôn lo lắng nhất và là một rủi ro thường xuyên xảy ra nhất. Có thể giải thích điều này bởi

5
một thực tế: niềm tin vào hệ thống bảo hiểm y tế đã bị mai một đi do chất lượng y tế đôi khi rất
kém.

nặng, hầu hết nguồn vay tiền thường xuyên là từ họ hàng/bạn bè hay từ người cho vay lấy lãi. Để
đối phó với các trường hợp khẩn cấp hay các áp lực kinh tế (học phí, tiêu Tết…) người nghèo có
thể sử dụng các biện pháp cùng đường là bán những tài sản sinh lợi, cho con nghỉ học, hay buộc
con phải đi làm thêm kiếm tiền…

Để đáp ứng những nhu cầu của khách hàng tốt hơn, các tổ chức TCVM nên xem xét đa dạng hoá
danh mục vốn vay bằng cách đưa thêm loại vốn vay với mục đích phi kinh doanh vào danh sách
sản phẩm của mình. Vốn vay khẩn cấp có thể đáp ứng yêu cầu vay ngay lập tức khi cần là một
giải pháp. Sản phẩm đó có thể giúp phụ nữ nghèo tránh phải dùng đến những biện pháp tiêu cực
ảnh hưởng đến công việc kinh doanh và đời sống của họ. Hạn mức tín dụng đối với những khách
hàng có lịch sử hoàn trả tốt có thể là một giải pháp khác.

3.3 Bảo hiểm
Bảo hiểm có thể là một công cụ phù hợp và có hiệu quả kinh tế trong một số hoàn cảnh cụ thể.
Bằng cách chia sẻ rủi ro cho nhiều hộ gia đình, các sản phẩm bảo hiểm có khả năng bảo vệ họ
khỏi những rủi ro nghèo đói, sức khoẻ, tử vong và mất khả năng. Bằng cách chia sẻ rủi ro cho
một số lượng lớn các hộ gia đình, bảo hiểm có thể bảo vệ họ khỏi những tổn thất nghiêm trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status