Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang - Pdf 26

TÓM TẮT
Với hơn 2 triệu dân số sống ở khu vực nông thôn, việc phát triển kinh tế cải thiện đời
sống của các hộ gia đình là điều mà các cấp chính quyền địa phương luôn đặt lên hàng đầu.
Do đó việc chuyển dịch cơ cấu, phát triển các ngành nghề mới, các ngành nghề truyền thống
cần được quan tâm đẩy mạnh. Hệ quả của các chính sách đó có tác động trực tiếp đến các hộ
gia đình nông thôn, vì vậy quá trình tích lũy để tái đầu tư cho sản xuất là rất cần thiết để nâng
cao thu nhập. Với các mức thu nhập khác nhau các hộ gia đình cũng có các hình thức tiết
kiệm và quy mô đầu tư cũng khác nhau.
Đề tài tập trung nghiên cứu Hành vi đầu tư và tiết kiệm hộ gia đình khu vực nông thôn
An Giang. Với mục tiêu:
- Tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư và tiết kiệm của người dân ở địa
bàn nông thôn An Giang.
- Ước lượng xu hướng chi tiêu khi thu nhập thay đổi.
- Tìm hiểu các hình thức tín dụng và tiết kiệm mà hộ gia đình sử dụng khi thiếu vốn và
thừa vốn.
Bố cục của đề tài được chia thành 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu. Chương này giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu và phạm
vi nghiên cứu.
- Chương 2: Cơ sở lý luận. Chủ yếu giải thích những khái niệm liên quan đến đề tài,
mối quan hệ giữa các khái niệm với nhau.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Giới thiệu về các phương pháp thực hiện đề tài.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Từ kết quả nghiên cứu đưa ra nhận xét, đánh giá,
thực trạng thu nhập, chi tiêu, đầu tư, tiết kiệm và các yếu tố ảnh hưởng. Ước lượng chi tiêu
khi thu nhập thay đổi. Tìm hiểu các hình thức tín dụng và tiết kiệm mà hộ gia đình sử dụng
khi thiếu vốn và thừa vốn.
- Chương 5: Kết luận, kiến nghị và đề xuất giải pháp.
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU.........................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.........................................................................................................2
1.3. Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................................2

4.7.2. Các hình thức tín dụng phân theo trình độ học vấn................................................31
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT........................................................35
GIẢI PHÁP................................................................................................................................35
5.1. Kết luận ..........................................................................................................................35
5.2. Kiến nghị........................................................................................................................36
5.2.1. Đối với hộ gia đình nông dân..................................................................................36
5.2.2. Đối với nhà nước và chính quyền địa phương.......................................................37
5.2.3. Đối với các tổ chức tín dụng nông thôn..................................................................37
5.3. Giải pháp.........................................................................................................................38
5.3.1. Các giải pháp tăng thu nhập cho hộ gia đình ở nông thôn.....................................38
5.3.2. Giải pháp thúc đẩy các hình thức tín dụng chính thức ở nông dân........................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................................41
PHỤC LỤC 1.............................................................................................................................42
PHỤC LỤC 2.............................................................................................................................46
DANH MỤC BẢNG
Sơ đồ 2.1. Mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, thu nhập và chi tiêu.........................................4
Bảng 3.1. Các bước nghiên cứu..................................................................................................5
Bảng 4.1. Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất.....................................................................9
Bảng 4.2. Nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấp của hộ nông dân và hệ quả đối với từng
nhóm hộ.....................................................................................................................................16
...................................................................................................................................................25
Bảng 4.3. Những lý do mà hộ gia đình tích lũy........................................................................26
Bảng 4.4. Kết quả ước lượng hồi quy.......................................................................................28
Bảng 4.5. Lý do chọn và không chọn các hình thức tín dụng..................................................32
Bảng 4.6. Tỷ lệ các hộ sử dụng các dịch vụ chính thức...........................................................34
Bảng 4.7. Các dịch vụ hộ gia đình sử dụng..............................................................................34
Bảng 4.8. Mức độ giao dịch......................................................................................................34
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1. Cơ cấu kinh tế nông thôn (% trên tổng số hộ điều tra)..........................................8
Biểu đồ 4.2. Thu nhập phân theo trình độ học vấn...................................................................12

thôn, vùng dân tộc mức sống hiện còn rất thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, trình độ thấp. Sản
xuất nông nghiệp tuy có phát triển nhưng thiếu tính ổn định và bền vững. Nhiều nông dân
còn sản xuất theo truyền thống, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế,
ngoài sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh của An Giang. Hoạt động
sản xuất của các hộ gia đình nông dân nông thôn An Giang thường gắn liền với chăn nuôi và
trồng trọt. Dó đó thu nhập cũng mang tính thời vụ, không ổn định, chịu tác động của diễn
biến thị trường…. Thu nhập của nông dân sau khi trừ chi phí, thuế và các khoản khác… một
phần sẽ được dành cho tiết kiệm, phần còn lại để đầu tư tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất.
Tiết kiệm và đầu tư ở khu vực nông thôn chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố trong đó việc
tăng giá của các yếu tố sản xuất đầu vào như: giá cả vật tư, phân bón, xăng dầu… trên thị
trường hiện đang tăng mạnh.
Khu vực nông thôn Việt Nam nói chung và nông thôn An Giang nói riêng đang ngày
một phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nhưng thực trạng hiện nay
vẫn dựa vào nông nghiệp là chính, thị trường nông thôn còn bỏ ngỏ, tiềm năng về vốn dồi
dào trong thời gian qua chưa được khai thác đúng mức, nhất là mấy năm gần đây nhờ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nhiều trang trại, các hộ nuôi thủy sản, trồng cây ăn trái đặc
sản, chăn nuôi... mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu đồng và thậm chí cả tỷ đồng có dư để tích
lũy. Một tập quán lâu đời và đã trở thành thói quen của đại đa số người dân nông thôn là
thích giữ tiền, vàng… ở nhà thay vì gửi ngân hàng đã làm cho một lượng lớn tiền mặt nhàn
rỗi. Bên cạnh đó một số hộ gia đình trong quá trình canh tác sản xuất do thiếu vốn để tiếp tục
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 1
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
hoạt động sản xuất thì lại vay mượn người thân, bạn bè, hàng xóm, vay nóng…với lãi suất
cao hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng.
Xuất phát từ những thực tiễn trên nên tôi chọn đề tài “Hành vi đầu tư và tiết kiệm
của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang” làm mục tiêu nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư và tiết kiệm của người dân ở địa bàn
nông thôn An Giang.
Ước lượng xu hướng chi tiêu khi thu nhập thay đổi.

lai của hộ gia đình khu vực nông thôn.
Đầu tư là một hàm số theo quy mô sản xuất, thu nhập, tài sản dành cho sản xuất,
tiết kiệm, khấu hao, tập quán sinh hoạt, thuế, trình độ học vấn…
2.1.3. Chi tiêu
Chi tiêu của hộ nông dân là hành vi nhằm thỏa mãn đời sống vật chất và tinh thần.
Chi tiêu là một khoản chi bắt buộc tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của nông hộ và khả
năng của từng hộ mà mức chi tiêu nhiều hay ít. Hộ giàu thường có xu hướng chi tiêu
nhiều hơn những hộ trung bình và nghèo. Chi tiêu của hộ nông dân phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: thu nhập, của cải hay tài sản, tập quán sinh sống… trong đó thu nhập đóng
vai trò quan trọng nó quyết định đến mức chi tiêu nhiều hay ít của hộ gia đình.
Chi tiêu là một hàm số theo thu nhập, tiết kiệm, tập quán sinh hoạt, đầu tư mở rộng
sản xuất, giá cả hàng hóa, lạm phát….
2.1.4. Thu nhập
1
Thu nhập của một nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ
được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy và tái sản xuất mở
rộng nếu có. Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh
doanh mà họ thực hiện. Có thể phân thu nhập của hộ nông dân thành 2 loại:
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 3
(1)
(2)
(3)
(4a)
(4b)
(4c)
(6a)
(5a)
(5b)
(6b)
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang


Đầu tư
Tiết kiệm Chi tiêu,
chi khác

Thu nhập thuần
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thiết kế nghiên cứu
Bảng 3.1. Các bước nghiên cứu
Bước Dạng nghiên cứu Phương pháp Kỹ thuật phỏng vấn
1 Sơ bộ Định tính
Phỏng vấn sâu
n = 3
2 Sơ bộ Định lượng
Phỏng vấn trực tiếp
n = 5
3 Chính thức Định lượng
Phỏng vấn trực tiếp
n = 100
Xử lý thông tin
3.1.1. Nghiên cứu sơ bộ
Phỏng vấn sâu với 3 hộ nông dân được chọn thuận tiện việc phỏng vấn, ý kiến của
các nông dân đưa ra được ghi lại để làm cơ sở cho việc thiết kế bảng câu hỏi.
Phỏng vấn trực tiếp 5 hộ nông dân dựa trên bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn, mục
đích của việc phỏng vấn này là phát hiện ra những sai sót:
- Người được phỏng vấn có hiểu và trả lời được câu hỏi của mình hay không?
- Câu hỏi đưa ra có đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin cần thiết hay không?
- Những câu hỏi có gây khó khăn cho quá trình trả lời của người được phỏng vấn
hay không?

Ta có phương trình hàm chi tiêu: Y = b + aX
Với:
Y: Chi tiêu (biến phụ thuộc).
X: Thu nhập (biến độc lập).
b: Hằng số
a: Hệ số của X.
Sau khi phỏng vấn 100 mẫu dữ liệu được mã hóa, làm sạch, nhập liệu trên máy tính
và xử lý. Dữ liệu sau khi được xử lý cần phải xem xét tính hợp lý, phù hợp với mục tiêu
cần nghiên cứu để tiến hành phân tích, đánh giá, nhận xét.
3.2. Mẫu
3.2.1. Phương pháp chọn mẫu
Sau khi lựa chọn địa điểm nghiên cứu tại 2 Xã Vĩnh Khánh và Vĩnh Chánh. Việc
chọn hộ điều tra được thực hiện với 20 mẫu được chọn ngẫu nhiên ở khu vực chợ Vĩnh
Khánh, 80 mẫu được chọn thuận tiện những nông hộ ở 2 Xã. Mục đích của việc lựa chọn
này nhằm xem xét coi việc ngành nghề tạo ra thu nhập giữa nhóm nông hộ và nhóm hộ
sống ở khu vực chợ có khác nhau không.
3.2.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu càng lớn thì ước lượng càng tin cậy nhưng do giới hạn về thời gian, kinh
phí nên tôi chỉ chọn 100 mẫu để nghiên cứu và kết luận cho một tổng thể là tỉnh An
Giang.
3.3. Thang đo
Có 2 loại thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi chính thức: Thang đo biểu
danh và thang đo tỷ lệ.
3.3.1. Thang đo biểu danh (danh xưng)
Thang đo biểu danh là loại thang đo trong đó số đo dùng để xếp loại, nó không có ý
nghĩa về lượng, bao gồm câu hỏi một lựa chọn và nhiều lựa chọn:
- Câu hỏi một lựa chọn
Câu 19: Trình độ học vấn cô (chú) cấp mấy?
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 6
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang

Biểu đồ 4.1. Cơ cấu kinh tế nông thôn (% trên tổng số hộ điều tra)
Đa số hộ gia đình khu vực nông thôn sống bằng nghề trồng lúa chiếm đến 80%,
làm thuê 34 %, buôn bán 22 %, chăn nuôi 19 %, trồng hoa màu 15 %, nuôi trồng thủy sản
9%, dịch vụ 9 %, tiểu thủ công nghiệp 6 %, khác chiếm 15% như: kiều hối, phụ cấp, làm
công ăn lương… trên tổng số hộ điều tra. Ta thấy sự phân công lao động khu vực nông
thôn vẫn nặng về nông nghiệp và cụ thể là trồng lúa. Riêng trong lĩnh vực chăn nuôi và
nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua đã phát triển đáng kể nhờ chuyển đổi những diện
tích trồng lúa năng suất thấp và tận dụng những phế phẩm từ trồng trọt và đời sống hàng
ngày.
Bên cạnh đó hệ thống thủy điện, giao thông nông thôn được phủ khắp các ấp, xã
trong tỉnh. Vì vậy hầu hết các hộ gia đình đều có tivi, xe gắn máy… tạo điều kiện thuận
lợi cho việc đi lại cũng như phát triển kinh tế nông thôn được dễ dàng. Đặc biệt là người
dân có điều kiện tiếp thu tiến bộ khoa học – kỹ thuật, những mô hình chăn nuôi, trồng trọt
đạt hiệu quả từ những hộ nông dân khác thông qua chương trình làm bạn với nhà nông,
nông thôn An Giang trên tivi và học hỏi kinh nghiệm từ những hộ nông dân sản xuất giỏi,
nhờ vậy mà sản xuất ngày càng đạt hiệu quả hơn góp phần gia tăng thu nhập cho kinh tế
hộ.
Trong lĩnh vực trồng trọt và đặc biệt là trồng lúa hiện nay với giá cả dao động
4.400 đồng/kg – 6.000 đồng/kg từ đầu mùa vụ đến nay làm cho nông dân rất phấn khởi
thay vì trong những năm trước lợi nhuận thu được cho một công từ vụ đông xuân từ 1
triệu – 2 triệu thì vụ mùa năm nay hộ đạt lợi nhuận thấp nhất cũng là 2,5 triệu/công và
cao nhất có thể đạt 5 triệu/công. Ông Nguyễn Văn Dự một hộ nông dân cho biết: “Những
năm trước khi giá lúa cao nhất cũng chỉ đạt được 3.500 đồng/kg gia đình ông sản xuất chỉ
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 8
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
đủ ăn nhiều khi chỉ dư được chút đỉnh. Do vậy món nợ ông vay ngân hàng 50 triệu để mở
rộng sản xuất vẫn chưa trả được nhưng năm nay với giá lúa như vậy khi bán ông không
những trả được nợ mà có dư nữa. Nhưng hiện nay với giá cả vật tư nông nghiệp tăng
chóng mặt gấp 2 – 3 lần mà nếu giá lúa không giữ ở mức này thì có lẽ vụ tới sẽ lỗ nặng”.
Chăn nuôi chủ yếu tập trung vào các loại gia súc và gia cầm phổ biến như: gà, vịt,

Ngđồng % Ngđồng % Ngđồng % Ngđồng %
Trồng lúa 3.711 71,9 1.149 60,1 712 65,7 211 43,8
Trồng hoa màu 10 0,2 44 2,3 46 4,2 7 1,5
Chăn nuôi 0 0 50 2,6 91 8,4 53 11
NTTSản 1.044 20,2 51 2,7 0 0 0 0
Buôn bán 265 5,1 386 20,2 64 5,9 44 9,1
TTCNghiệp 0 0 48 2,5 42 3,9 0 0
Dịch vụ 15 0,3 63 3,3 47 4,3 15 3,1
Làm thuê 52 1 24 1,3 65 6 134 27,8
Khác 65 1,3 96 5 16 1,5 18 3,7
Tổng 5.162 100 1.911 100 1.083 100 482 100
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 9
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
Mặc dù kinh tế hộ nông dân ở khu vực nông thôn An Giang rất phong phú và đa
dạng. Nhưng cho đến nay, nông nghiệp vẫn là nền tảng và là thế mạnh của kinh tế hộ.
Đại đa số cư dân nông thôn An Giang đều coi sản xuất nông nghiệp là hoạt động đem lại
thu nhập chính lâu dài cho hộ gia đình. Bên cạnh đó nó còn đảm bảo nguồn lương thực
tại chỗ cho gia đình.
Kết quả khảo sát cho thấy:
- Nhóm hộ thu nhập cao có nguồn thu chính chủ yếu từ trồng lúa 3,711 triệu
đồng/người/tháng (chiếm 71,9%), nuôi trồng thủy sản là 1,044 triệu đồng/người/tháng
chiếm (20,2%).
- Nhóm hộ thu nhập khá có nguồn thu chủ yếu là từ trồng lúa 1,149 triệu
đồng/người/tháng (chiếm 60,1%), buôn bán 386 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 20,2%).
- Nhóm hộ trung bình có nguồn thu chủ yếu là từ trồng lúa 712 triệu
đồng/người/tháng (chiếm 65,7%) chăn nuôi 91 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 8,4%).
- Nhóm hộ thu nhập thấp nhất thì nguồn thu chủ yếu từ trồng lúa 211 ngàn
đồng/người/tháng (chiếm 43,8%), làm thuê 134 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 27,8%),
chăn nuôi 53 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 11%).
Hầu hết các nhóm hộ có mức thu nhập chênh lệch khác nhau khá xa, thu nhập

- Đòi hỏi phải có nhiều vốn, trình độ hiểu biết, kỹ thuật nuôi trồng.
- Có khả năng gặp nhiều rủi ro vì chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: dịch bệnh,
chất lượng con giống, giá cả đầu ra…
Vì vậy, một số hộ từ con cá, tôm mà làm giàu thì cũng có một số hộ vì nó phải phá
sản lâm vào cảnh nợ nần từ hộ giàu trở thành hộ nghèo.
Buôn bán tập trung những khu vực đông dân cư, chợ thu nhập trung bình của từng
nhóm quan sát cụ thể như sau:
- Nhóm thu nhập cao 265 ngàn đồng/người/tháng.
- Nhóm thu nhập khá 386 ngàn đồng/người/tháng.
- Nhóm thu nhập trung bình 64 ngàn đồng/người/tháng.
- Nhóm thu nhập thấp 44 ngàn đồng/người/tháng.
Buôn bán ở nhóm hộ thu nhập cao nhất và khá chủ yếu bán vật tư nông nghiệp, tạp
hóa, thuốc tây… còn nhóm hộ thu nhập trung bình và nhóm thấp nhất chủ yếu là buôn
bán nhỏ: bán bún, rau cải, bán cá…
Chăn nuôi chủ yếu tập trung ở nhóm hộ trung bình chiếm 8,4% và hộ thấp nhất là
11%. Bên cạnh các nhóm hộ có thu nhập chính từ trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, buôn
bán… thì ở nhóm hộ thấp nhất có nguồn thu nhập chính khác cũng rất quan trọng đó là
làm thuê 134 ngàn đồng/người/tháng. Đây là nhóm thường tập trung những hộ không có
đất canh tác hoặc có diện tích đất canh tác thấp, vì vậy làm thuê được coi như là hoạt
động chính nhằm mang lại nguồn thu nhập cho gia đình, tuy nhiên thu nhập của nhóm hộ
này thường không ổn định, bấp bênh vì chỉ mang tính thời vụ.
Ngoài ra, các nhóm hộ còn có nguồn thu khác từ hoa màu, tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ, kiều hối, phụ cấp… mặc dù đây là một khoản thu không lớn chỉ tập trung ở một
số hộ nhưng nó cũng rất quan trọng đối với việc đầu tư nông nghiệp của hộ nông dân đặc
biệt là nhóm hộ có thu nhập thấp, thường thì nhóm hộ này chỉ cần 100 – 500 ngàn đồng là
có thể đầu tư cho chăn nuôi, trồng trọt góp phần gia tăng thu nhập.
Nhìn chung, nguồn thu nhập chính của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
chủ yếu từ các nguồn trồng lúa, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, buôn bán, làm thuê.
Ngoài ra một số hộ còn có nguồn thu từ trồng hoa màu, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp,
kiều hối và phụ cấp…. Việc chênh lệch về diện tích đất canh tác, nuôi trồng càng tạo

- Nhóm thu nhập khá 32%.
- Nhóm thu nhập trung bình 24%.
- Nhóm thu nhập thấp 12%.
Vì vậy việc chất lượng giống tốt là nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất góp
phần gia tăng thu nhập giúp kinh tế hộ phát triển.
Giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn: Đây là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quá
trình sản xuất và cũng như thu nhập của các nhóm hộ:
- Nhóm thu nhập cao chiếm 96%.
- Nhóm thu nhập khá 64%.
- Nhóm thu nhập trung bình 84%.
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 13
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
- Nhóm thu nhập thấp 64%.
Biến động tăng giá sẽ làm tăng chi phí sản xuất, tạo ra sức ép về vốn đối với các hộ
nông dân. Hệ quả là năng suất lao động nông nghiệp có thể giảm xuống và thu nhập của
người nông dân cũng bị ảnh hưởng theo. Sản lượng cung cấp ra thị trường vì thế cũng
hạn chế. Từ đó có thể dẫn đến việc nông dân hạn chế đầu tư thâm canh hoặc sẽ chuyển
đổi hệ thống sản xuất, lựa chọn những cây trồng, vật nuôi ít chịu tác động của giá cả vật
tư nông nghiệp, thức ăn đồng thời áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật để tăng
năng suất lao động, giảm thiểu chi phí sản xuất.
Vốn: Đây là yếu tố có tác động lớn nhất trong quá trình sản xuất, đặc biệt ở nhóm
các hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình thường gặp nhiều khó khăn trong việc đầu
tư vốn sản xuất cụ thể:
- Nhóm hộ có thu nhập cao chiếm 56%
- Nhóm thu nhập khá 60%
- Nhóm thu nhập trung bình 96%.
- Nhóm thu nhập thấp 100%.
Rõ ràng các nhóm hộ thu nhập cao, thu nhập khá cũng chịu tác động lớn từ nguồn
vốn để mở rộng sản xuất. Đối với nhóm thu nhập trung bình và thấp thì bên cạnh việc
thiếu vốn trong quá trình sản xuất còn thiếu tiền trong chi tiêu hằng ngày.

Dịch bệnh: Ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất như: dịch ốc bưu
vàng, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa, dịch cúm trên gia cầm, lỡ mồm long móng trên
gia súc, bệnh đốm trắng trên cá… gây thiệt hại nặng đến cây trồng, vật nuôi. Do đó, việc
hiểu biết và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng và trị dịch bệnh là
yếu tố rất cần thiết để tăng năng suất cải thiện thu nhập.
Kỹ thuật canh tác, nuôi trồng: Bón phân khi nào, hàm lượng thuốc trừ sâu bao
nhiêu là đủ và an toàn, áp dụng máy móc vào trong quá trình sản xuất, đối với từng loại
bệnh trên cây trồng, vật nuôi thì phải biết sử dụng loại thuốc nào cho phù hợp. Vì vậy kỹ
thuật canh tác nuôi trồng là khâu quyết định đến năng suất, chất lượng hàng nông sản
cung cấp ra thị trường.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: trình độ quản lý, tay nghề lao động… cũng
gây khó khăn đến quá trình sản xuất.
4.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
Cơ cấu kinh tế theo ngành chuyển đổi còn chậm, ngành trồng trọt vẫn còn chiếm tỷ
lệ cao. Trong cơ cấu ngành trồng trọt, trồng lúa chiếm một phần rất quan trọng trong cơ
cấu ngành. Dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp đã có sự gia tăng về giá trị nhưng vẫn
còn quá thấp so với trồng trọt. Với cơ cấu thiên về cây lương thực chủ yếu là lúa đã gây
nên tính thời vụ cao cho việc sử dụng sức lao động nông nghiệp, đồng thời khả năng tăng
thu nhập cũng hạn chế.
Chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình trong thời gian qua chưa được chú
trọng phát triển.
Cơ sở hạ tầng nông thôn trong thời gian qua đã có bước cải thiện đáng kể nhưng
vẫn còn tình trạng không đồng bộ, chưa đủ sức tạo ra những tiền đề vật chất để phát triển
nông nghiệp và nông thôn.
Chất lượng lao động nông thôn thấp đã gây trở ngại cho việc tiếp cận, tìm kiếm và
tạo lập việc làm của lao động nông thôn trong các lĩnh vực phi nông nghiệp thuộc nhiều
thành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt là trong các ngành đòi hỏi kỹ thuật và trình độ tay
nghề cao.
Quy mô diện tích đất canh tác giữa các nhóm hộ cách biệt khá xa, gây khó khăn
cho các nhóm hộ đặc biệt là nhóm có thu nhập thấp trong việc mở rộng sản xuất.

Quy mô sản xuất còn hạn chế
Phụ thuộc vào lúa Khó phát triển kinh tế
Khó tìm ngành nghề đầu tư
mới do thiếu trình độ
chuyên môn
Vẫn duy trì ngành nghề sản xuất

Giống cây trồng, vật nuôi
không đảm bảo chất lượng
Năng suất thấp, thu nhập giảm
Thiếu lao động Khó khăn trong quá trình sản xuất
Thiếu vốn Gây khó khăn cho mở rộng sản
xuất
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
4.2.5. Sử dụng thu nhập sau khi trừ chi phí
Biểu đồ 4.4. Sử dụng thu nhập sau khi trừ chi phí

Số tiền sau khi trừ chi phí hầu hết các nhóm hộ từ thu nhập thấp đến thu nhập cao
đều dùng vào việc chi tiêu hàng ngày và tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực mà họ đang hoạt
động sản xuất chiếm 100%. Trong khi đó tích lũy chỉ tập trung ở nhóm hộ:
- Nhóm hộ thu nhập cao và thu nhập khá cùng chiếm 100%.
- Nhóm trung bình chiếm 40%.
- Còn đối với nhóm hộ có thu nhập thấp việc đủ tiền trong chi tiêu hàng ngày và
tiếp tục đầu tư sản xuất đã là một điều khó khăn chứ nói chi đến tích lũy. Bà Lê thị Thơ
một hộ nông dân tâm sự: “Gia đình tôi có 5 miệng ăn mà chỉ sống dựa vào 3 công ruộng,
tiền làm thuê của chồng và các con, mà tôi lại nay ốm mai đau đôi khi không đủ tiền để
chi tiêu hàng ngày lấy gì mà tích lũy”.
Ngoài số tiền dùng để chi tiêu hàng ngày, đầu tư tiếp tục sản xuất, tích lũy thì hộ
nông dân còn phải chi thêm một khoản đó là trả nợ vay, số tiền mà hộ gia đình đã vay các
tổ chức tín dụng, người thân, hàng xóm… trong quá trình sản xuất cũng như chi tiêu. Cụ

nhập thấp là 183 ngàn đồng/người/tháng. Bên cạnh chi tiêu cho việc ăn uống thì đi lại,
học hành, mua sắm, đám tiệc, du lịch… cũng chiếm một khoản khá lớn trong tổng chi
tiêu của các nhóm hộ.
Chi tiêu ở các khu vực và nhóm dân cư cũng có sự khác nhau. Nhóm hộ gia đình
thuần nông có mức chi tiêu thấp hơn so với nhóm hộ ở khu vực chợ là vì: Nhóm hộ sống
bằng nông nghiệp có thể tận dụng được những phế phẩm từ sản xuất lúa và trong cuộc
sống hằng ngày để trồng trọt và chăn nuôi thêm để phục vụ cho nhu cầu ăn uống hàng
ngày. Ngoài ra vào mùa nước nổi họ có thể giăng lưới bắt cá, do đó sẽ tiết kiệm được một
khoản chi tiêu đáng kể so với nhóm hộ ở khu vực chợ thì cái gì cũng phải mua.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu
Biểu đồ 4.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 19
Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giang
Thu nhập: Thật vậy thu nhập là yếu tố rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày
nó chi phối hầu hết các yếu tố khác trong đó có chi tiêu, 100% số hộ từ thu nhập thấp
nhất đến thu nhập cao đều cho rằng chi tiêu chịu ảnh hưởng bởi thu nhập.
Lạm phát: Chỉ có 28% số hộ nhóm thu nhập cao và 44% thu nhập khá cho rằng
lạm phát ảnh hưởng đến chi tiêu. Trong khi đó hai nhóm còn lại chiếm tỷ lệ cao hơn cụ
thể: Nhóm hộ thu nhập trung bình là 68%, thu nhập thấp là 80%.
Giá cả hàng hóa: Việc giá cả hàng hóa tiêu dùng trong hàng ngày trong thời gian
qua liên tục tăng đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, thực phẩm cũng đã
ảnh hưởng phần nào đến mức chi tiêu của các nhóm hộ. Cụ thể:
- Nhóm thu nhập cao là 52%.
- Nhóm thu nhập khá có 56%.
Nhóm này cho rằng do thói quen chi tiêu như vậy, thì dù giá cả sinh hoạt có tăng
nhưng họ vẫn giữ ở mức chi tiêu cũ. Hơn thế nữa, mặc dù giá cả hàng hóa có tăng nhưng
thu nhập mà họ thu được từ sản xuất kinh doanh cũng tăng tính qua tính lại cũng chẳng
thấy có ảnh hưởng gì.
Còn hai nhóm còn lại thì việc giá cả hàng hóa tăng ảnh hưởng nhiều đến chi tiêu:
- Nhóm thu nhập trung bình là 96%.

Học hành: Chiếm một tỷ lệ không lớn so với các yếu tố khác:
- Nhóm thu nhập cao chiếm 44%
- Nhóm thu nhập khá 24%.
- Nhóm thu nhập trung bình 16%.
- Nhóm thu nhập thấp 24%.
Nhưng được coi là khoản chi tiêu không thể cắt giảm được.
Ngoài ra còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc chi tiêu của hộ gia đình như:
số thành viên trong gia đình, độ tuổi, giới tính của các thành viên, mua sắm, rủi ro bất
thường…
4.4. Các hình thức đầu tư
Từ các nguồn thu nhập của hộ gia đình. Ta có thể chia ra ở khu vực nông thôn có 2
hình thức đầu tư chính đó là: Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp (lúa, hoa màu, chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản) chiếm 86% và đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp (buôn bán, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ, làm thuê…) chiếm 34%.
Đầu tư là việc rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất của hộ gia đình khu
vực nông thôn. Ta thấy đa số hộ gia đình đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chiếm 86%.
Vì:
- Đây được coi là lĩnh vực dễ đầu tư.
- Mang lại nguồn thu nhập tương đối ổn định.
- Đây còn là ngành nghề truyền thống của gia đình từ bao đời nay.
- Không đòi hỏi trình độ cao và hơn thế nữa những hộ nông dân không tìm được
ngành nghề mới để thay thế.
Một số hộ gia đình đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm 34% là do:
SVTH: Nguyễn Thị Kiều Lam Trang 21

Trích đoạn Các hình thức tín dụng phân theo trình độ học vấn Đối với hộ gia đình nông dân Giải pháp thúc đẩy các hình thức tín dụng chính thức ở nông dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status