ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ VÂN TÌM HIỂU VIỆC THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƯỢC
BẢO VỆ TRONG CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN
TRẺ EM CỦA CÁC GIA ĐÌNH NGƯỜI DÂN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: TS. Mai Thị Kim Thanh
HÀ NỘI - 2008
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
2
MỤC LỤC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 18
1.1.1.Trên thế giới 18
1.1.2. Tại Việt Nam 19
1.2. Khái niệm công cụ 21
1.2.1.Trẻ em 21
1.2.2. Gia đình 21
1.2.3. Bảo vệ 21
1.2.4. Nhóm quyền được bảo vệ 22
1.2.5 Một số khái niệm liên quan 23
1.3.Lý thuyết nghiên cứu 25
1.3.1.Lý thuyết hành vi 25
1.3.2.Lý thuyết biến đổi xã hội 27
1.3.3.Lý thuyết hành động xã hội 29
1.4. Những điều đƣợc quy định về quyền đƣợc bảo vệ trong Công ƣớc
quốc tế về quyền trẻ em 31
1.4.1. Vì sao trẻ em cần được bảo vệ 31
1.4.2. Sơ lược về Công ước quốc tế về quyền trẻ em và nhóm quyền được bảo
vệ. 31
1.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về việc thực hiện Công ƣớc quốc tế
về quyền trẻ em 32
1.5.1. Vị trí, vai trò của trẻ em trong đời sống xã hội nước ta 32
1.5.2. Những quan điểm cơ bản Đảng về việc thực hiện Công ước quốc tế về
quyền trẻ em 33
1.6. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 35
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
4
1.6.1. Vài nét về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của thành phố Hà Nội và
địa bàn khảo sát 35
1.2.2.1 Làm việc nhà 55
1.2.2.2. Sức ép học hành 57
1.2.3. Về vấn đề bạo lực đối với trẻ khi chúng mắc lỗi của các cha mẹ 59
1.2.3.1 Bạo lực thân thể 59
1.2.3.2 Bạo lực tinh thần 63
1.2.3.3 Chứng kiến bạo lực gia đình 65
II. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƢỢC BẢO
VỆ TRONG CÔNG ƢỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN TRẺ EM CỦA NGƢỜI DÂN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI 67
2. 1. Nhận thức của trẻ em 67
2.2. Nhận thức của gia đình 67
2.3. Phong tục tập quán 72
2.4. Hoạt động của Hội phụ nữ 75
2.5. Hoạt động của truyên thông văn hóa 77
2.6 Điều kiện kinh tế gia đình 79
2.5. Chính sách luật pháp của Đảng và Nhà nƣớc
III. XU HƢỚNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN NHÓM QUYỀN ĐƢỢC BẢO VỆ TRONG
CÔNG ƢỚC TRONG CỦA CÁC GIA ĐÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 80
3. 1. Nhận thức của ngƣời dân về nhóm quyền đƣợc bảo vệ trong thời
gian tới 80
3. 2. Xu hƣớng thực hiện nhóm quyền đƣợc bảo vệ trong thời gian
tớ 81
KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ .83
PHỤ LỤC 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
6
7
đã phê chuẩn Công ước 182 của Tổ chức lao động quốc tế về chống lại các
hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Năm 1991 Nhà nước ta cũng đã ban
hành “Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Như vậy, điều này đã minh
chứng cho sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện những gì
tốt đẹp nhất cho trẻ em. Vậy mà, ở nhiều nơi trong các gia đình trên địa bàn
của Thủ đô – trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của cả nước, tình trạng trẻ
em trong gia đình vẫn bị đánh đập, chửi rủa, bị bóc lột, bị sao nhãng…vẫn tồn
tại phổ biến. Tại sao tình trạng này vẫn tồn tại, thậm chí có những loại hình
xâm hại trẻ em còn phổ biến hơn tại các địa bàn khác, khi mà người dân Hà
Nội hoàn toàn có điều kiện hơn trong việc thực hiện quyền trẻ em, khi mà
hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em được nhiều cơ quan đoàn thể,
chính quyền tham gia?
Rõ ràng, hiện nay nhiều trẻ em vẫn phải chịu những xâm phạm từ phía
những người lớn tuổi, bởi sự tác động của những yếu tố về kinh tế, xã hội.
Tiếp cận từ góc độ quyền trẻ em chúng ta nhận thấy rằng người lớn đang vô
tình vi phạm các quyền của trẻ em, vi phạm luật pháp Việt Nam về bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ em. Thêm vào đó, chính trẻ em cũng chưa nhận thức
được những quyền của mình để tự bảo vệ khi bị xâm phạm. Có thể nói, đây là
một vấn đề bức thiết không chỉ ở góc độ gia đình mà đã trở thành một vấn đề
mang tính quốc tế, vấn đề vi phạm nhân quyền, cụ thể ở đây là quyền trẻ em.
Đã đến lúc chúng ta cần nhận thức lại một cách nghiêm túc những vấn đề liên
quan đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ cho trẻ em của các gia đình
và có những phân tích cẩn trọng nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người
mà Liên hiệp quốc đã nêu và nước ta đang phấn đấu. Đây cũng là ý tưởng gợi
nên trong tôi hướng nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền
được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của các gia đình người
dân thành phố Hà Nội hiện nay”.
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
9
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhóm quyền được
bảo vệ của trẻ em tại các gia đình được chọn nghiên cứu.
- Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị có tính khả thi giúp người dân
nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục
con cái trong gia đình.
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền
trẻ em tại các gia đình người dân.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các gia đình người dân ở thành phố Hà Nội có trẻ em dưới 18 tuổi.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung
Nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em quan
tâm đến việc trẻ em được bảo vệ khỏi:
- Sự bỏ rơi.
- Các tình huống nguy hiểm và chiến tranh.
- Sự bạo lực, lạm dụng, xâm hại, bóc lột và ngược đãi.
- Sự phân biệt đối xử.
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi quan tâm tìm hiểu tình
hình thực hiện một số quyền trong nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em của
các gia đình người dân thành phố Hà Nội, cụ thể là quyền được bảo vệ khỏi
các hành vi bạo lực, bị bóc lột và bị sao nhãng.
+ Đối tượng nghiên cứu
Vì điều kiện nghiên cứu, đề tài chỉ khảo sát các gia đình hạt nhân với
hai đối tượng chính là cha mẹ và trẻ em, nên đề tài chỉ tập trung khảo sát
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
học vấn, phong tục tập quán và nhận thức của các gia đình.
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
11
Chủ nghĩa DVCB và Chủ nghĩa DVLS xem xét các sự vật hiện tượng
theo một quá trình. Mọi sự vật hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách
bất biến mà chúng luôn vận động, biến đổi không ngừng, từ sự hình thành,
đến sự phát triển và suy vong. Trong mỗi bối cảnh khác nhau, chúng vận động
và phát triển gắn liền với bối cảnh ấy. Vì vậy, tìm hiểu việc thực hiện quyền
được bảo vệ của trẻ em cần đặt nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể về thời
gian, không gian, gắn liền với văn hóa vùng- miền.
Trên cơ sở phương pháp luận Macxit, với đề tài nghiên cứu chúng tôi sử
dụng các cách tiếp cụ thể dưới đây:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa
Văn hóa quốc gia, văn hóa vùng miền, văn hóa gia đình là những yếu tố
ảnh hưởng đến nhận thức thái độ, hành vi của mỗi con người. Mỗi con người
chịu sự tác động của nhiều môi trường văn hóa khác nhau và bản thân họ là
chủ thể sáng tạo và đồng thời là sản phẩm của nền văn hóa đó. Có thể dễ dàng
nhận thấy, ở tầm vĩ mô, tại một giai đoạn lịch sử nhất định, mô hình hành vi
của những người trong một cồng đồng là khá giống nhau. Bởi họ đã tiếp nhận
quá trình xã hội hóa một cách chính thức hay không chính thức các hệ giá trị,
chuẩn mực của cộng đồng để trở thành một con người xã hội.
Riêng văn hóa gia đình có đặc thù riêng và là môi trường ảnh hưởng trực
tiếp đến hành vi của mỗi thành viên. Có thể nói gia đình là môi trường xã hội
hóa quan trọng đầu tiên đối với các cá nhân từ khi sinh ra và lớn lên, nó tạo
nên những nhân cách với thái độ, hành vi khác nhau. Tiểu văn hóa gia đình có
thể được lưu truyền, gìn giữ từ đời này qua đời khác tất nhiên có biến đổi ít
nhiều. Tiểu văn hóa này quy định cách nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
cái của các bậc cha mẹ khác nhau. Có những bậc cha mẹ quan niệm “thương
đình trong việc nuôi dạy con cái.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phân tích tài liệu
- Các nghiên cứu về vấn đề bảo vệ trẻ em, trẻ em bị lạm dụng, xâm hại,
bóc lột, sao nhãng và các vấn đề liên quan như: “Nghiên cứu của Tổng thư ký
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
13
Liên hiệp quốc về vấn đề bạo lực với trẻ em”, “báo cáo tình trạng lạm dụng trẻ
em ở Việt Nam” của UNICEF; “Báo cáo về hoạt động tham vấn đối với trẻ em
bị bạo lực tại khu vực Trung á và Châu Á Thái bình dương”; “Khảo sát thực
trạng trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em”.
- Các báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện Công ước quốc tế về
quyền trẻ em lần 1, lần 2 và dự thảo báo cáo lần 3, lần 4.
- Các văn kiện, quyết định, đề án của Chính phủ liên quan đến vấn đề
BVTE, ngăn ngừa tình trạng trẻ em bạo lực, xâm hại, bóc lột, lạm dụng trẻ em.
- Các tài liệu trên mạng, sách báo, tạp chí.
- Các tài liệu khác.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu với 3 nhóm đối tượng:
- Cha mẹ - với tư cách là người trực tiếp chăm sóc, bảo vệ trẻ.
Phỏng vấn 5 cha mẹ theo các chỉ báo về nghề nghiệp, trình độ học vấn,
độ tuổi, mức sống.
- Trẻ em – Người được bảo vệ và chăm sóc
Phỏng vấn 3 trẻ em theo các bậc học ( 1 em độ tuổi tiểu học, 1 em độ
tuổi THCS, 1 em độ tuổi THPT)
- Đại diện các cơ quan đoàn thể tại địa phương: 3 người thuộc các
phường/ xã thuộc 3 Quận, huyện (Chủ tịch hội phụ nữ phường/xã
hoặc cán bộ dân số phường/xã).
- Trong số các bậc cha mẹ biết đến Công ước và nhóm quyền được bảo
vệ, đại đa số họ vẫn có những hành động vi phạm các quyền của trẻ em.
- Phong tục tập quán lạc hậu và hoạt động của các tổ chức đoàn thể,
chính quyền chưa hiệu quả trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em là nhân tố cơ bản ảnh
hưởng đến nhận thức và hành động của các bậc cha mẹ trong việc thực hiện
nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước quốc tế về QTE.
- Việc thực hiện chưa tốt nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước
quốc tế về QTE trong thời gian tới vẫn còn tồn tại.
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
15
6.2. Khung lý thuyết
luật
pháp
Đặc điểm
cộng đồng
(Phong tục
tập quán)
Hoạt
động
truyền
thông
văn hóa
Việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong
Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Trẻ em được bảo vệ
Trẻ em không được
bảo vệ
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
16
Sự tương quan của các biến số:
+ Biến độc lập: Môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội thành phố HN.
+ Biến can thiệp (trung gian).
- Đặc điểm gia đình
- Đặc điểm cộng đồng
lớn và trẻ em đã góp phần tạo ra sự bạo hành về cả thể chất và tâm lý đối với
trẻ em. Những đối tượng như trẻ em lang thang đường phố, trẻ em tàn tật, trẻ
em vi phạm pháp luật, trẻ em sống trong các cơ sở giáo dưỡng là những đối
tượng có nguy cơ bị bạo lực cao. Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra các kiến nghị
cần thiết để ngăn chặn và giải quyết tình trạng bạo lực với trẻ em ở mọi nơi
trên thế giới.
“Đánh giá về tình trạng bạo lực trẻ em ở Đông Á và Châu Á Thái Bình
Dương” do UNICEF tiến hành năm 2002 đã tiến hành nghiên cứu ở nhiều
nước khác nhau như Australia, Trung Quốc, Combodia, Indonexia, Việt
Nam…Nghiên cứu đã cho thấy hiện nay dữ liệu định lượng và định tính về
tình hình bạo hành với trẻ em ở các quốc gia còn hạn chế. Sự cởi mở và nhận
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
18
thức về vấn đề bạo lực với trẻ em ở các quốc gia là khác nhau. Và để có sự
thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề này cần có một thời gian nhất
định và cần có sự nâng cao nhận thức của chính các em về bạo lực và những
điều quy định trong Công ước quốc tế về QTE.
“Báo cáo tại Hội nghị tham vấn khu vực Đông Á và Thái Bình dương
về tình trạng bạo lực đối với trẻ em” thực hiện năm 2005, do UNICEF tiến
hành đã bổ sung nhiều và đóng góp quan trọng cho nghiên cứu của Tổng thư
ký Liên hiệp quốc về tình trạng bạo lực đối với trẻ em.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ em bị bạo lực tại nhiều môi trường khác
nhau, ở nhà, tại trường học, ở các tổ chức, ở nơi làm việc, tại cộng đồng, trên
đường phố hay cả trên mạng. Trong đó, tại
gia đình thì các em bị các hình thức đối xử
tàn tệ như: trừng phạt thân thể, lạm dụng
tình dục và tâm lý, sao nhãng, bắt lao động,
phân biệt đối xử dựa trên giới, khả năng.
Nam đang nghiên cứu để xây dựng “báo cáo lần 3 và 4 về tình hình thực hiện
Công ước quốc tế về QTE”.
Nghiên cứu về “tình trạng lạm dụng trẻ em tại Việt Nam” do UNICEF
thực hiện năm 2003. Nghiên cứu này đã xác định khái niệm, bản chất và phạm
vi vấn đề lạm dụng trẻ em. Theo nghiên cứu này khái niệm về lạm dụng trẻ
em phải được hiểu một cách toàn diện, lạm dụng bao gồm các loại hình khác
nhau như lạm dụng thân thể, lạm dụng tình dục, sao nhãng, đối xử tàn tệ về thể
chất và tinh thần, bạo lực, bóc lột vì mục đích tình dục, mại dâm trẻ em, du lịch
tình dục.
Nghiên cứu được tiến hành tại ba tỉnh Hà Nội, An Giang và Lào Cai để
phản ánh các đặc điểm khác nhau về địa lý, văn hoá, xã hội. Nghiên cứu đã chỉ ra
rằng trong đời sống tồn tại rất nhiều loại hình bạo lực đối với trẻ em.
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
20
Phát hiện đáng chú ý nhất của nghiên cứu là tình trạng đánh trẻ em nhằm
“giáo dục”, hay “kỷ luật” là khá phổ biến, trong khi các bậc cha mẹ đều ý thức
được rằng phương pháp dạy dỗ này là đã lạc hậu và khó chấp nhận, nhưng
trên thực tế phương pháp này vẫn được áp dụng rộng rãi. Tình trạng lạm dụng
tình dục hay chứng kiến bạo lực cũng là những vấn đề mà trẻ em Việt Nam
phải đối mặt ngày càng nhiều.
“Thực trạng xâm hại trẻ em qua một khảo sát nhanh tại Hà Nội” là một
nghiên cứu trong chương trình phòng chống xâm hại tình dục trẻ em Hà Nội
của tổ chức Csap tìm hiểu về các hình thức xâm hại trẻ em tại một số trường
trong nội thành . Khảo sát được tiến hành với 674 em trong độ tuổi cấp 1 và
cấp 2. Mặc dù nghiên cứu được tiến hành tại trường học với mục đích tìm hiểu
các hình thức xâm hại trẻ em nói chung, nhưng kết quả đã chỉ ra một số hình
thức xâm hại trẻ em tại gia đình. Cụ thể, các em bị người nhà đánh đập là
11%, bị sao nhãng 4.2%. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng, tất cả các hình
Các nhà xã hội học coi gia đình là đơn vị cơ sở của tổ chức xã hội, là tế
bào xã hội, là nhóm xã hội. Có thể hiểu “gia đình là một nhóm xã hội được
hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi
dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ. Các thành viên trong gia đình gắn bó
với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (tình cảm, kinh tế, văn hoá,…). Giữa họ
có những rằng buộc pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời
có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong
quan hệ tình dục giữa những thành viên trong gia đình”.
1.2.3. Bạo hành trẻ em
Hội chứng bạo hành trẻ em (child abuse) là những hành động xúc
phạm/hành hạ về thể xác, tinh thần hoặc tình dục do cha mẹ, những người
xung quanh hoặc những người khác thực hiện. Ngoài những trường hợp bạo
hành xảy ra ngay tại nhà của trẻ, phần lớn những trường hợp bạo hành khác
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
22
diễn ra ngay tại những nơi quen thuộc hay tưởng an toàn như: trường học, nơi
trông trẻ, trường nội trú…
Bạo hành trẻ em với rất nhiều biến tướng khác nhau có tác động rất
mạnh và lâu dài cả về thể xác và tinh thần. Bạo hành trẻ em để lại những di
chứng kéo dài từ tuổi ấu thơ cho đến khi trưởng thành. Những di chứng và hậu
quả này phụ thuộc vào tính khắc nghiệt và khủng khiếp của cách thức bạo
hành cũng như môi trường xung quanh đứa trẻ.
Theo Wikipedia
Đó là mọi hình thức bạo hành thể chất và tinh thần, bỏ rơi, chểnh
mảng trong chăm sóc, bạc đãi, khai thác, bao gồm cả lạm dụng tình dục
theo điều 19 của Công ước quốc tế về quyền của trẻ em (Liên Hiệp Quốc ,
1989).
Bạo hành trẻ em xảy ra dưới nhiều hình thức, từ đánh đập gây các
cứ hình thức phân biệt đối xử nào
1
.
1.2.5 Một số khái niệm liên quan
- Xâm hại, lạm dụng trẻ em
“Là tất cả các hình thức ngược đãi về tình cảm, thể chất, lạm dụng
tình dục, xao nhãng hoặc đối xử lơ đãng hoặc bị khai thác vì mục đích
thương mại dẫn đến nguy hại về sức khoẻ, sự sống còn, phát triển hoặc
nhân cách của trẻ trong bối cảnh của mối quan hệ hay trách nhiệm, sự tin
cậy và quyền lực
2
.
- Sao nhãng với trẻ em
Sao nhãng hoặc đối xử lơ đãng với trẻ em trong gia đình “Được hiểu là
sự không hoặc ít quan tâm, bỏ mặc của cha mẹ về mọi khía cạnh: sức khoẻ,
giáo dục, phát triển tâm lý, dinh dưỡng, sự che trở và những điều kiện sống an
toàn trong bối cảnh tiềm lực hiện có đối với gia đình và những nguyên nhân
hoặc có khả năng cao gây ra nguy hại cho sức khoẻ của trẻ, sự phát triển về
1
Quyền trẻ em, Trung tâm nghiên cứu Quyền con người, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003
2
Tài liệu tập huấn về Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Save the children Sweden, trang 118, 2007
Luận văn thạc sĩ xã hội học Khóa học 2004 - 2007
Học viên Lê Thị Vân
24
xã hội, đạo đức, tinh thần, trí tuệ và thể chất. Điều này bao gồm cả việc không
có khả năng giám sát đúng đắn và bảo vệ trẻ em khỏi nguy hại”
1
25
hành động xã hội được hiểu cụ thể hơn và thường gắn với các chủ thể hành
động là các cá nhân. Lịch sử xã hội học đã ghi nhận rất nhiều các quan điểm
khác nhau của các nhà xã hội học về hành động xã hội.
Theo M. Weber: hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gán cho nó ý
nghĩ chủ quan nhất định. Weber đã nhấn mạnh đến “động cơ bên trong” của
chủ thể như là nguyên nhân của hành động. Và cái “ý nghĩa chủ quan” chính là
ý thức, là những hoạt động có ý thức, chủ thể hiểu được mình thể hiện hành
động gì và sẽ thực hịên nó như thế nào khác hẳn với những bản năng sinh học.
Hành động xã hội được Weber tổng quát định nghĩa là hành động được chủ thể
gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó có tính đến hành vi của người khác và
vì vậy có định hướng tới người khác trong đường lối, quá trình của nó.
Weber phân loại hành động xã hội thành bốn loại như sau:
* Thứ nhất, hành động duy lý – công cụ là hành động được thực hiện với
sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có
hiệu quả cao nhất. Ví dụ rõ nhất là hành động kinh tế.
* Thứ hai, hành động duy lý giá trị là hành động được thực hiện vì bản
thân hành động (mục đích tự thân). Thực chất loại hành động này có thể nhằm
vào mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ, phương
tiện duy lý như hành vi tín ngưỡng…
*Thứ ba, hành động duy cảm (xúc cảm) là hành động do các trạng thái
xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét,
phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động như
hành động của đám đông quá khích, hành động do tức giận gây ra…
*Thứ tư, hành động duy lý - truyền thống là loại hành động tuân thủ
theo những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời
này qua đời khác.