ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÁN
KHOA XÃ HỘI HỌC
PHAN VĂN CHỨC
XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC GIẢI
PHÁP QUẢN LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG
(Nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Quảng Nam)
LUẬN VÁN THẠC s ĩ KHOA HỌC
• • •
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Người hướng dẩn khoa học: GS. TS Lè Vãn Khoa
{■•*.: ríc: . i>ĩ ylA HÁ riCỊ. Ị
ỉ ~‘IJ!J.Ị ;'/■< WJV?*Ị
U - ỉ i T Ĩ Ĩ l Ị;
HÀ NỘI- 2002
BẢN ĐỔ HÀNH CHÍNH TỈNH QUẢNG NAM
TT. HUÊ
X ỉ SỞOÍ K*íi
:Đ»I ĐỔÒ|
Đệi CTạ4ụh-'r
Ị
•'D ặl Thnnb
TT Ibikh
Quí-Mỉib
rikpHot
TT Khầin f>ik
Vw>fí c Hung'
PbưSẽtK
f’ I H ỏ ( S O \
\ Pbư ik KJm
S ứ u{ t^u aoT « n M ỹ HAM*>
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. XÃ HỘI HỌC MÔI TRƯỜNG - CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN MÔI TRƯỜNG
2
1. Tiếp cận dịch tễ học 3
2. Tiếp cận sinh thái học 3
3. Tiếp cận giáo dục học 4
4. Tiếp cận công nghệ học 4
5. Tiếp cận kinh tế học 5
6. Tiếp cận xã hội học 5
II. XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG (XĐMT) 6
1. Các khái niệm về xung đột môi trường 6
2. Phàn loại xung đột mòi trường
9
3. Nguyên nhàn dẫn đến xung đột môi trường 12
III. ĐIỂU HOÀ XĐMT - QUẢN LÝ XĐMT 17
CHƯƠNG Ị I
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN c ứ u
I. KHÁI QUÁT VỂ ĐỊA BÀN NGHIÊN c ứ u 36
1. Điều kiện tự nhiên 36
2. Tinh hình kinh tế xã hội
37
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 43
1. Đối tượng nghiên cứu
.
43
2. Phương pháp nghiên cứu 43
CHƯƠNG U l
KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ THẢO LUẬN:
III. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỂ BAO VỆ MÒI TRƯỜNG
74
1. Các quy định pháp luật về môi trường của TW và địa phươna
74
2. Hoạt động QLNN BVMT tại địa phương:
84
IV. nhũng vấn để m ỏ i trường - XĐMT CẤP BÁCH
CỦA ĐỊA PHƯƠNG VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT
93
1. Những vấn đề môi trường - XĐMT cấp bách của địa phương
93
2. Phương hướn2 giải quvết nhửnơ vấn đế cấp bách về mỏi trường
và XĐMT 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHI 99
1. Kết luận 99
2. Khuyến nghị
102
TAI LIỆU THAM KHẢO 104
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
XĐMT:
Xung đột mỏi trường
KHCN&MT: Khoa học công nghệ và môi trường
BVMT:
Bảo vệ môi trường
TCVN:
Tiêu chuẩn Việt Nam
BVTV:
Bảo vê thưc vât
MỞ ĐẨU
Khoa học môi trườna được những nhà khoa học tự nhiên nghiên cứu đáu
tiên nhưng ba’ bôn thập niên trớ lại đây nghiên cứu vé môi trường đã phát trién
rát nhanh và đã trờ thành dòns tư tướns trong lịch sử phát triến của tư tưởng
nhân loại. Gần đây, các nhà xã hội học đã đi vào nghiên cứu lĩnh vực mỏi
trường và chi ra rằng tác nhân gây hại môi trường chính là do con người. Một
trong những vấn đề đó là sự xung đột giữa các nhóm xã hội về lợi ích, vị thế
trong việc tranh giành lợi thế khai thác và sử dụng tài nguyên, môi trường. Sự
xung đột ấy ngày nay không còn bó hẹp trong phạm vi một vùng, một quốc gia
mà đã trờ nên phổ biến giữa các quốc gia, giữa các nước nghèo và các nước
công nghiệp phát triển và đã trớ thành mối quan tâm của toàn nhàn loại.
ở nước ta, trong những năm 2ần đâv lĩnh vực mói trườna cũng đã được
quan tâm nghiên cứu bới nhiều ngành khoa học, xã hội ngày càn2 nhận thức
nhiều hơn về ô nhiễm môi trường và sự tác hại nghiêm trọna của nó đến đời
sống và sán xuất.
Lĩnh vực BVMT ngày càng trớ nên bức xúc, rừn2 tiếp tục bị suv thoái,
môi trường đô thị và côna nghiêp tiếp tục bị ô nhiễm, mỏi trường lao độna naày
càng bị nhiễm độc. Chất lượng môi trường nông thôn có xu hướng xuốn2 cấp
nhanh, sự cố môi trường gia tăng mạnh. Tranh chấp, xung đột môi trườna ngàv
càng trở nên phổ biến ò nhiều địa phương, nhiều vùng kinh tế trọng điếm của cả
nước, biếu hiện dưới nhiều dạng xung đột và nhiều mức độ xun2 đột khác nhau.
Trong quá trình phát triến, tinh Quảng Nam cũng nằm trong bối cánh đó.
cho nên việc tiến hành nghiên cứu về xuna đột môi trườna ở các mức độ xung
đột khác nhau, tìm hiểu nguyên nhàn, đánh giá hiện trạng và đưa ra được các
giải pháp quán lý xuna đột môi trường, làm tốt công tác báo vệ mõi trườnơ phục
vụ phát triến kinh tế xã hội của tinh theo hướng bên vững là một vân đẻ có ý
nghĩa thực tiễn quan trọng không những đối với địa phươna mà còn đỏi với toàn
quốc.
sâu xa, đó là chiến lược phát triển bển vững trên cơ sớ cách tiếp cận hệ thống:
con người không phải đứng ngoài thiên nhiên đế khai thác và cải tạo thiẽn
nhiên mà cùng sống và phát triển trong nó như một hệ thống.
Phát triển bền vững chính là sự phát triển hài hoà giữa các mục tiêu tãng
trướns kinh tế với các mục tiêu xã hội và báo vệ môi trường.
Xã hội học môi trường nghiên cứu mối quan hệ giữa con naười với môi
trường, môi quan hệ giữa con người với con người trong sự chia sẻ lợi ích môi
trường cũng như trách nhiệm cùa con người trước nghịch lý cuộc sống, đó là
nhu cầu khai thác tài nguyên môi trường để phục vụ cho cuộc sống, sự phát
triển của xã hội và thảm hoạ tự sát khi lạm dụng quá mức trong việc khai thác
tài nguyên môi trường dản đến cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và nạn ô
nhiễm môi trường bởi sự kém hiểu biết, tự phụ và kiêu ngạo cùa chính con
nguời.
/. TI É p c ậ n d ị c h t ê HỌC: Cách tiếp cận này có thế được xem là mối
quan tâm đầu tiên của nhân loại về mối quan hệ giữa phát triển công nahiệp và
con người. Cách tiếp cặn này chính là bàn về vệ sinh côna nghiệp, tác động
của nó đến sức khoẻ của con người và đã đi vào lĩnh vực tổ chức lao động như
một thiết kế bảo vệ an toàn lao động cho người lao động.
Hạn chế của cách tiếp cận này là chất thái vẫn khôn2 được xử lý, nó
không ảnh hưởng tới nhóm người này thì sẽ ảnh hưởng tới nhóm người khác.
Các bãi chứa rác (khôna xử lý), các nhà máv được đưa ra xa thành phô' nhưna
vẫn với côna nghệ củ. lạc hậu là một ví dụ.
2. TIẾP c ậ n s i n h t h ả i HỌC: Từ khoảng những năm 60 của thế kỷ
XX với những hiếu biết ngày càng sâu sắc về tính hoàn chinh cúa hệ sinh thái,
con người ngày càng ý thức được ván dề mõi trường trên quan điếm tiếp cận
toàn bộ hệ sinh thái. Với ý nghĩa là một khoa học nghiên cứu mòi quan hệ 2Íữa
cơ thế với môi trường chung quanh, sinh thái học xuất hiện từ rất sớm nhưna
chí đến khi sự mất cân bằng sinh thái ngày càng tác động tiêu cực đến cuộc
sống con người và trớ nên là một vấn đề thời sự nóng bóng nó mới được quan
tâm đúng mức.
này có thè hữu hạn trong một hệ thống kỹ thuật nào đó, nhưna không phải như
vậy, hoặc không phái hoàn toàn như vậy trong một hệ thống kỹ thuật khác[24]
5. TIẾP CẬN K IN H T Ế HỌC:
Theo cách tiếp cận này nguyên nhân dẫn đến sự ò nhiẻm môi trường là do
các chủ đầu tư gây ra bởi quá trình tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Vì lợi nhuận tối
đa mà họ sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí thấp hoặc giảm chi phí bào vệ
môi trường. Do đó đê khắc phục nguyên nhân phá hoại môi trườna, trước hết
cần thẩm định kỹ các dự án đầu tư và trong quá trình xử lý ô nhiễm cần thực
hiện các biện pháp trừng phạt kinh tế với các nhà đầu tư.
6. TIẾP CẬN XẢ H Ộ I HỌC:
Xã hội học môi trường nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa con người và
môi trường, quan hệ giữa xã hội với các nhóm xã hội trong sự quan hệ với môi
trường.
Quan điếm của cách tiếp cận xã hội học cho rằng lỗi aày ra ô nhiễm và
phá hoại môi trường là ờ chính con người. Cách tiếp cận nàv đặt vấn đề nghièn
cứu trách nhiệm của con người, của mỗi nhóm xã hội trona việc tàn phá môi
trường; chỉ ra rằng sự tước đoạt lợi thế sử dụng tài nguvên của nhóm này trước
nhóm khác là nguyên nhân trực tiếp, nguvên nhân xã hội của sự phá hoại mòi
trường. Cách tiếp cận này cũng nghiên cứu các thiết chế xã hội đế điều chinh
hành vi cúa con người đôi với môi trường.
II. XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG:
1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ XƯNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG (XĐMT'):
XĐMT là một khái niệm mới bắt đầu xuất hiện vào những thập kỷ cuối
của thế kỷ 20 khi nhữna vấn đề khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn tài
nguyên môi trường, khi ngày càng nhiéu sự xung đột nhâm giành giật nguổn
tài nguyên môi trường ngày càng diễn ra phổ biến hơn, quy mô ngày càne lớn
hơn và tính khốc liệt ngày càng dữ dội hơn.
Nhưng con người chỉ nhận diện được XĐMT khi nhiều nguồn tài nguyên
môi trường đã được báo động đến lúc cạn kiệt, khi môi trường sống của con
người bị đe doạ nghiêm trọng bởi thảm hoạ ô nhiễm môi trường đang diễn ra
Induced Conílict), một số ít trường hợp khác lại dùng thuật ngữ tranh chấp môi
trường (Environmental dispute).
Bản thân từ “xune đột” (Conflict) đứns riêng rẽ bao hàm nhiều nahĩa. đó
là trạng thái đối lập hoặc thù địch, sự đấu tranh, sự mâu thuẫn, sự bất đồna, bất
hoà, sự va chạm, sự không tương hợp. Do đó, phải hiểu khái niệm XĐMT theo
nghĩa rộng từ sự biếu hiện xung đột ở giai đoạn tiềm ẩn trong quan điểm khai
thác sử dụng tài nguyên môi trường và chia sẻ nguồn lợi đến sự phát triển xung
đột ở giai đoạn cao, gay gắt hơn dẫn đến đấu tranh bằng vũ lực.
XĐMT thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau từ giai đoạn tiềm ẩn như: sự
khác nhau trong mục đích, không tương hợp trong hành động đến giai đoạn
cao hơn là những màu thuẫn, bất đồng quan điểm trong khai thác sử dụng tài
nguyên môi trường và chia sẻ nauồn lợi; nếu những quan điếm nàv khõns
được giải quyết, nó sẽ phát triển lên mức cao hơn. gav gắt hơn dẫn đến các
hành động đấu tranh như mittina, biếu tình, khiếu kiện và cao hơn là các cuộc
xung đột có vũ trana làm mất ổn định chính trị và xã hội [52]
7
Vũ Cao Đàm, 2000, cho biết theo cách hiểu cùa xã hội học thì XĐMT là
một dạng xung đột xã hội, xuất hiện như một tất yếu khách quan, và được hiếu
theo một chiều cạnh rất rộng, không bị hạn chế chỉ trong những khuôn khố rát
cao và thậm chí rất căng tháns như các loại hình xung đột mà chúng ta vốn
quen biết, như xung đột chính trị hoặc xung đột quân sự, mặc dầu XĐMT hoàn
toàn có thể dẫn tới những dạng xung đột ấy[25]
Xung đột có thê diễn ra trên các mức độ hết sức khác nhau: có thê chi
dừng lại ở sự dị biệt quan điếm, cuối cùng trên cơ sở tìm kiếm sự nhất trí hoặc
thoả hiệp về mặt nhận thức; cũns có thế xuất hiện nhữns tranh chấp lợi ích
kinh tế, có thể điều hoà bằng nhữnơ giải pháp chia sẻ lợi ích; song trong nhiều
trường hợp không thế tìm kiếm được những giải pháp thoá hiệp đế chia sẻ lợi
ích, mà phải dùng đến những biện pháp điều chinh bằng pháp luật. Tuy nhiên,
tất cả các mức độ xung đột này đều có thể xem là mức độ thấp. Mức độ xung
đột cao được nghiên cứu trong xã hội học môi trường là những xung đột ở mức
lợi thế sử dụng tài nguyên: xí nghiệp công nghiệp xả chất thải vào ruộng của
nông dân, xâm phạm lợi ích của nòng dân
- X'ung đột quyền lực: nhóm có quvền lực mạnh hơn. lấn át nhóm khác,
chiếm dụng lợi thế của nhóm khác, dẫn đến ô nhiễm mòi trường. Xí nahiệp
nhà nước cậy thế cùa chính quyền xâm phạm lợi ích của nông dân.
Trén thực tế. mỗi sự kiện có thể chi xuất phát từ một xung đột, song
thường tổn tại một số loại và cuối cùng cái đọng lớn nhất là xung đột lợi ích
[24]
Lẻ Thanh Bình, 2000, đã phân loại XĐMT theo các tiêu chí:
- Phún loại theo đương sự xung đột: xung đột giữa hoạt độn2 nông nghiệp
và hoạt động công nghiệp, xung đột giữa Cộn2 đồng nhàn dân và các chú đẩu
tư; xung đột giữa tư nhàn và nhà nước.
- Phán loại theo mức độ xung đột: bao £0171 các mức độ không nghiêm
trọng (ở dạng tiềm ẩn), ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiẽm trọng
- Phán loại theo tài nguyên môi trường- nguyên nhan xung đột: như xung
7
đột do nguồn nước, thiếu nước hoặc ô nhiễm nước, xung đột do việc tranh
chấp sử dụng đất [13]
- Phản loại theo nguyên nhân dẩn đến xung đột: Bao gồm xung đột nhận
thức, xung đột mục tiêu, xuna đột lợi ích và xung đột quvền lực.
Theo Phạm Thị Bích Hà,2000, xung đột chức năng môi trường là một
vấn đề cần được quan tâm: Môi trường có nhiều chức nãna thiết vếu đối với
cuộc sống con naười, gồm 3 loại chức năng cơ bản sau đây:
- Chức năng cung cấp cho xã hội những tài nguyên thiết vêỉi của cuộc
sống như nước, không khí. thực phẩm năng lượng và nhiều hàng hoá khác. Một
số tài nguyên có thể hồi phục được nhưng một số khác thì không thể hồi phục
được hoặc khả năng rất hạn chế. Khi chúng ta khai thác sử dụng tài nguyên
một cách lãng phí quá mức thì làm cho nsuồn tài nguvèn cạn kiệt, ngày càng
trở nèn khan hiếm hơn.
- Chức năng cưng cấp không gian sông nơi cư trú cho con người: trái đất
khoảng không gian cư trú lớn hơn cho con người, nhưng điều đó cũng có nghĩa
là những vùng đất này sẽ không còn là nơi cung cấp gỗ và thức ăn, cung cấp
nơi trú ngụ cho những loài động vật hoang dã và điều hoà khôna khí.[28]
Theo nhiều nơhiên cứu như đã trình bày, chúns tôi thấy có thế phân loại
thành các dạng XĐMT chú yếu sau đây:
- XĐM T theo đương sự xung đột
- XĐM T theo mức độ xung đột
- XĐMT theo xung đột chức nãng mòi trường
- XĐM T theo nguyên nhân xung đột bao gồm dạng xung đột nhận
thức, xung đột mục tiêu, xung đột lợi ích, xung đột quyền lực.
3. NG U YÊN N H À N D ẪN đ ế n XĐMT:
Theo Vũ Cao Đàm, 2000, XĐMT có thế xuất hiện do các nguyên nhân
sau:
- Sự khác nhau trong quan niệm về bảo vệ môi trường
- Những bất đồng trên nhận thức trong cách xử sự với môi trường
- Những dị biệt về văn hoá trong cách xử sự với mỏi trường
- Những bất bình đẳng xã hội trong việc sử dụng tài nguyên và hướna thụ
các lợi thế môi trường.
Bất bình đẳng môi trường xuất hiện giữa các nhóm xã hội, khi một nhóm
này được hướng những lợi thế về tài nauyên và môi trường hơn các nhóm
khác.
Bất bình đảng môi trường có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân rất khác
nhau
- Nguyên nhân hoàn toàn khách quan do các yếu tố địa lý mang lại
- Sự vò ý thức của một nhóm cá nhân hoặc một nhóm xã hội, gây hại môi
trườna cho các nhóm xã hội khác.
- Sử dụng sai những phương tiện kỹ thuật và công nghệ do thiếu hiểu biết
trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Cũng có thè do những hành vi cố ý chiếm dụna lợi thế vể tài nauyên và
môi trường, dẫn đến sự xâm hại lợi ích môi trường của cộng đồng [25]
người dân tự nsuyện đầu tư' vào bao vệ và phát triển tài nauvên mà còn thúc
đẩy họ đến việc sử dụng nó một cách quá mức không tính tới lợi ích láu dài,
lợi ích của cộng đồng và lợi ích của thế hệ mai sau [52]
Lê Thanh Bình, 2000 (trích dẫn tài liệu của Teresita Suselo AIT, 1993)
đã đưa ra 4 nguyên nhàn dẫn đến XĐMT:
+ Thiếu thông tin
+ Bỏ qua thôna tin
+ Thiếu sự tham gia đóng góp
+ Các hệ thống giá trị khác nhau
- Thiếu thông tin - bỏ qua thông tin:
Những nguyên nhân XĐMT có thể là do khai thác quá mức hoặc lạm
dụng tài nguvên môi trườn2 và chức năng môi trường, do tài nguyên môi
trườns đang ngày càng cạn kiệt. Nguyên nhân chính trong các vấn đề tranh
chấp môi trường là do sự cạnh tranh nguồn tài nguyên, sự khác nhau về giá trị
nhân văn liên quan đến giá trị tương đối của tài nguyên và kiến thức hoặc hiểu
biết không đầy đủ về chi phí, lợi ích và nguy cơ trong các hoạt động.
- Thiếu sự tham gia đóng góp:
Khi xem xét nguyên nhàn trong nhiều cuộc XĐMT thì sự thiếu quan tàm
đến ý kiến của cộng đồng dân cư là nguyên nhân cơ bán. Sự tham 2Ía của các
cộng đồng không những đảm bảo được lợi ích của các cộng đồnơ mà còn có
thể phát huv được những kiến thức bản địa của các cộng đồng phục vụ cho
phát triển. Kinh nghiệm cho thấy thiếu sự tham gia của các cộng đồng thì khó
có thê giải quvết được những mâu thuẫn giữa bảo vệ môi trường và phát triển
kinh tế xã hội.
- Các hệ thống giá trị khác nhau:
Trong việc khai thác cùng một nguồn tài nguvên môi trườns thì các hệ
thống giá trị khác nhau đối với các nhóm xã hội khác nhau cũna dẻ dàns dẫn
đến XĐMT. Như trên cùng một nguồn tài nguyên đất ngập nước, hệ thống giá
trị đối với các ngư dân, nông dân trổng rau màu là khác nhau. Nếu các ngư dân
khai thác quá mức sẽ dẫn đến ảnh hưởng tới nguồn lợi của nhóm nông dân
- Những dị biệt về văn hoá trong cách xử sự với mỏi trường:
Sự tranh cải giữa người Nhật và các quốc gia phương Tây về việc săn bắt
cá voi là một ví dụ: Các nước phương Tây cấm săn bắt cá voi vì họ cho rãng
nếu săn bắt như hiện nay sẽ dẫn đến tuyệt chủng, cá voi trong hệ thống phàn
loại của người phương Tây thì không phải là một loại thức ăn và họ không ăn
thịt cá voi. Đối với người Nhật thì lại khác, họ cho rằng sãn bắt cá voi là một
nghề truyền thống lâu đời tại Nhật, thịt cá voi là loại thức ăn cao cấp, giàu chất
dinh dưỡng và hiện nay số lượng cá voi ở đại dương là có đủ để săn bất phục
vụ tiêu dùng, mà không dẫn đến tuyệt chủng.
- Những bất bình đảng xã hội trong việc sử dụng tài nguyên và sự
hướng thụ các lợi thê môi trường. Hiện nay các nước phát triển trên thế giới
đã dùng ưu thế kinh tế, công nghệ, chính trị và quân sự để có được tài nguyên
với chi phí kinh tế ít nhất, họ cũng thi hành chính sách “nhập siêu” tài nguyên
thiên nhiên ớ các nước đang phát triển và kém phát triển. Chuvển ngày càn2
nhiều sang các nước này nhũng thiết bị công nghệ cũ gây ô nhiễm môi trườna
để các nước này phải gánh chịu.
Sự bất bình đẳng lại cũng do nhiều Thuyên nhàn khác nhau: có thể hoàn
toàn khách quan do yếu tố địa lý, vô ý của cá nhàn, của một nhóm xã hội cũns
như sự sử dụng sai những phương tiện kỹ thuật do thiếu hiểu biết cũna dẫn đến
gây tác hại ô nhiễm môi trường cho các nhóm xã hội khác.Sự cố ý chiếm dụng
lợi thế tài nguyên và mỏi trường cũng dẫn đến sự xâm hại lợi ích môi trường
cúa cộng đổnơ.
16
-Ngoài ra, Sự khác nhau trong quan niệm về bào vệ mói trường, sự
thiêu tham gia đóng góp cùa các bén liên quan trong các dự án kinh té -
xã hội, sự thiếu truyén thóng về mõi trường, sự gia tăng dân số, sự nghèo
đói, dòng di động xã hội từ nòng thôn ra thành thị và cả sự yêu kém vé cơ
chẻ chính sách cũng là nguyên nhân làm gia tãng các XĐMT
m . ĐIỂU HOÀ XĐMT - QUẢN LÝ XĐMT
Bản chất xã hội của việc bảo vệ môi trường chính là điều hoà quyền lợi
sự vượt trội của khía cạnh khai thác, hưởng thụ hav khía cạnh duy trì, bảo vệ
mỏi trường [48] (Bảng!)
Bángl: Sự khác nhau giữa lợi ích xã hội, lợi ích các nhóm xã hội và lợi ích
của cá nhân trona bảo vệ môi trường ( Nguồn: Nguyễn Danh Sơn, 2000 ).
Lựi ích xã hội
Lợi ích của cộng
đổng/nhóm xã hội
Lợi ích cá nhàn
j
Pham vi
Bao quát mọi khía cạnh có liên
quan tới nhu cầu phát triển bền
vững của xã hội
Bảo vệ môi trường
trong phạm vi có
liên quan tới cuộc
sống của cộng
; đồng/nhóm.
Tập trung chủ yếu
vào các nhu cầu duv
trì cuộc sống của cá
nhân và 2Ìa đình
Nội
Dung
1
Khai thác, sử dụng, duy trì, cải
thiện, bảo vệ môi trường ờ tất cả
các thành phần môi trường tự
nhiên (đất, nước, không khí, đa
dạng sinh học) và môi trường
Theo Vũ Cao Đàm (Nguyễn Thanh Bình,2000): Bản chất xã hội của việc
báo vệ mỏi trường chính là sự điều hoà quyền lợi giữa các nhóm xã hội. Chính
yếu tố này sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm việc sử dụng nhũng biện pháp công nahệ
18
phá hoại môi trường hoặc những công nghệ thân thiện môi trường. Về lý
thuyết, tất cả các nhóm xã hội đều hiểu tác hại của những giải pháp công nghệ
nào đó, nhưng vì lợi ích vị kỷ của họ, họ sẳn sàng xâm hại hoặc tước đoạt lợi
ích của cộng đồng trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên. Nếu không giải
quyết triệt đế, căn bản những vấn đề này, thì mọi biện pháp công nghệ cũng
chỉ dừng lại trên các văn bản khuyến nshị, không có ý nghĩa thực tế [13]
Chính vì vậy, trong các biện pháp quản lý xuno đột môi trường, xã hội
học mỏi trườn? quan tâm tới quan hệ công tác của các nhóm xã hội, sự thoả
thuận cúa các nhóm xã hội về lợi ích để bảo vệ môi trường, ngãn chặn nguy cơ
dẫn đến phá hoại môi trường, hình thành các thiết chế xã hội đê’ điều chỉnh các
hành vi lệch chuẩn trong thái độ và hành độna liên quan đến việc bảo vệ hoặc
phá hoại mồi trường, các thiết chế điều chỉnh XĐMT.
Cũng theo Vũ Cao Đàm, 2000, hiện nay, trên các diễn đàn về môi
trường, những chủ đề xã hội học môi trường đang nổi lên như một chổ dựa về
học thuật cho các tranh luận khoa học và căn cứ cho việc lựa chọn quyết định
về các giái pháp ở các cấp có thẩm quyền về chiến lược và chính sách, từ cấp
ngành, cấp quốc gia, liên quốc gia đến quy mô toàn cầu nhằm điều hoà; lợi ích
và quyền lực giữa các nhóm, đảm bảo để các nhóm hành động phù hợp với
chuẩn mực môi trường.
Vấn đề không chỉ dừng lại ở những biện pháp giáo dục nhận thức về bảo
vệ môi trường; cũng không chỉ dừng lại ờ những khuyến nghị về công nghệ, về
chủ trương đầu tư, mà quan trọng hơn, là phải hình thành những thiết chế kiếm
soát xã hội đối với những hành vi lệch chuẩn về môi trường, hơn nữa nhữna
thiết chế điều chình XĐMT.
Quán lý môi trường bao gồm giảm thiếu nguv cơ và tối đa hoá các cơ hội
trong các vấn đề về môi trường và các vấn đề về quản lý. Dự báo và giám n2uv