Hoàn thiện mục tiêu và chương trình đào tạo du lịch bậc đại học ở Hà Nội - Pdf 25


1
LÊ TUYẾT MAI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN DU LỊCH
CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
HÀ NỘI, 2007

2
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, ngành du lịch Việt Nam đang trên
đà phát triển mạnh mẽ. So với nhiều nƣớc trên thế giới, ngành du lịch Việt
Nam chƣa thể trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nƣớc nhƣng thực tế
phát triển trong 15 năm qua đã chứng minh rằng, ngành du lịch càng ngày
càng có vị thế trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Một tƣơng lai sán lạn đang chờ đón ngành du lịch Việt Nam, tuy nhiên
việc đáp ứng điều này đang còn nhiều vấn đề bất cập. Ngoài những điều kiện
vật chất cho ngành du lịch còn nhiều thiếu thốn, một vấn đề bức xúc đang
đặt ra trƣớc mắt các nhà lãnh đạo và quản lý du lịch là nguồn nhân lực còn
hạn hẹp và chƣa có chất lƣợng cao. Ngành du lịch luôn luôn đòi hỏi một đội
ngũ cán bộ năng động, có tay nghề cao, có trình độ hiểu biết rộng. Điều đó
chƣa thể có đƣợc trong ngày hôm nay, thậm chí trong một tƣơng lai gần, đất
nƣớc cũng chƣa thể đáp ứng đƣợc. Để giải quyết vấn đề này, sự nghiệp đào
tạo nhân lực cho ngành du lịch cần đƣợc đẩy mạnh, đặc biệt là đào tạo đại
học. Theo nhận xét chung của các công ty du lịch và khách sạn thì, nguồn
lực du lịch đƣợc đào tạo ở trình độ đại học hiện nay chƣa đáp ứng đƣợc nhu
cầu về chất lƣợng làm việc. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng này,
trong đó một nguyên nhân quan trọng không thể không đề cập tới, đó là
chƣơng trình đào tạo chƣa đáp ứng đƣợc xu thế hội nhập quốc tế trong
ngành du lịch. Bởi vậy, nghiên cứu sâu về chƣơng trình đào tạo du lịch ở các
trƣờng đại học để từ đó đề xuất những vấn đề về hoàn thiện chƣơng trình
nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại mới là yêu cầu cấp bách mà thực tế của

4
ngành du lịch đang đặt ra. Đề tài nghiên cứu này trƣớc hết xuất phát từ thực
tiễn.
1.2. Ngành nghiên cứu du lịch (du lịch học) là một ngành khoa học mới

chƣa tìm đƣợc câu trả lời có sức thuyết phục bằng những minh chứng của
quá trình nghiên cứu. Chẳng hạn nhƣ các vấn đề về chất lƣợng đội ngũ
hƣớng dẫn viên, quản trị khách sạn, tổ chức và quản lý tour du lịch có liên
quan đến chƣơng trình, phƣơng pháp đào tạo ở các nhà trƣờng nhƣ thế nào?
Tại sao các nhà trƣờng đại học có đào tạo du lịch chƣa thể đáp ứng đƣợc yêu
cầu của ngành.
Quả thật, những câu hỏi không phải dễ dàng có thể giải đáp trong một
sớm một chiều nếu không có những công trình nghiên cứu công phu trong
nhiều năm.
Những nghiên cứu ban đầu về công tác đào tạo đƣợc thể hiện qua các
báo cáo tổng kết của các cơ sở quản lý và các nhà trƣờng có ngành đào tạo
du lịch.
Trong báo cáo tổng kết ngành năm 2005, Tổng cục Du lịch đã đƣa ra
những con số thống kê về trình độ đào tạo của toàn bộ đội ngũ cán bộ, nhân
viên đang làm việc trong ngành để từ đó, phân tích chất lƣợng và cơ cấu
nguồn nhân lực. Tổng cục Du lịch cũng thống kê số lƣợng các trƣờng có đào
tạo về du lịch. Tuy nhiên, sự phân tích không đi sâu vào hoạt động đào tạo
của các nhà trƣờng mà chủ yếu nhằm khẳng định xu thế phát triển của ngành
trƣớc mắt và trong tƣơng lai, khẳng định thế cạnh tranh của các nhà trƣờng
đem lại mặt tích cực là làm cho chất lƣợng đào tạo các chuyên ngành du lịch
đƣợc nâng lên.
Trong báo cáo tổng kết của các nhà trƣờng, đặc biệt là qua các hội nghị,
hội thảo bàn về đào tạo du lịch, các nhà quản lý, nhà giáo đều khẳng định,

6
chất lƣợng đào tạo các chuyên ngành về du lịch đang từng bƣớc đƣợc cải
thiện, từng bƣớc đáp ứng đƣợc yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nƣớc, song trƣớc xu thế hội nhập với các nƣớc trên thế giới và
trong khu vực, chất lƣợng đào tạo hiện nay vẫn chƣa thể đáp ứng đƣợc yêu
cầu của thực tế. Các báo cáo đều thống nhất ý kiến cho rằng, nguyên nhân

đặt ra trong ngành du lịch là cải tiến chƣơng trình nhƣ thế nào để góp phần
nâng cao chất lƣợng đào tạo.

3. Mục đích, yêu cầu của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu nhƣ chính đề tài đã chỉ rõ là nhằm góp
phần “hoàn thiện” chƣơng trình đào tạo bậc đại học. Tuy vậy, mục đích sâu
xa của ngƣời nghiên cứu (tác giả của công trình này) là góp phần nâng cao
chất lƣợng đào tạo cử nhân du lịch ở các trƣờng đại học của Việt Nam nói
chung và đặc biệt là ở Khoa Văn hóa du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà
Nội.
Yêu cầu của đề tài
Đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau đây cần phải giải quyết:
Làm rõ đƣợc nhu cầu nhân lực của ngành du lịch hiện nay và trong
tƣơng lai; vai trò, ý nghĩa của công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành.
Phân tích để nêu bật chỗ mạnh, chỗ yếu của chƣơng trình đào tạo
cử nhân du lịch ở một số trƣờng đại học hiện nay trên địa bàn thủ đô Hà Nội.
Đề xuất đƣợc phƣơng hƣớng và một số nội dung cụ thể để bổ sung,
sửa đổi nhằm hoàn thiện chƣơng trình đào tạo du lịch bậc đại học.
8
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu khoa học cấp trƣờng, chúng tôi
không thể có điều kiện nghiên cứu chƣơng trình của tất cả các trƣờng đại
học có đào tạo về du lịch ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu đƣợc khuôn định
trong một số trƣờng đại học sau đây ở Hà Nội:
- Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc

Ngoài các phần chính nêu trên là hệ thống tài liệu tham khảo.

10
CHƢƠNG 1
DU LỊCH VIỆT NAM
VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

1.1. Sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam
1.1.1. Ngành du lịch Việt Nam trước năm 1990
So với nhiều ngành khác, ngành du lịch Việt Nam tuy ra đời muộn và là
một ngành kinh tế mới phát triển trong khoảng 15 năm trở lại đây nhƣng khá
mạnh mẽ và đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế

hoàn toàn giải phóng. Hàng loạt khách sạn lớn ở miền Nam, đặc biệt là ở Sài
Gòn đƣợc Nhà nƣớc tiếp thu và giao cho Công ty Du lịch Việt Nam quản lý,
đƣa vào khai thác, sử dụng. Sự thông thƣơng giữa hai miền Nam Bắc là điều
kiện hết sức thuận lợi để phát triển du lịch. Khách nƣớc ngoài bắt đầu đến
Việt Nam nhiều hơn, không chỉ từ các nƣớc xã hội chủ nghĩa mà còn từ các
nƣớc tƣ bản chủ nghĩa.
Đến ngày 27/6/1978, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị
số 262 NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực
thuộc Hội đồng Chính phủ. Thủ tƣớng chính phủ đã ban hành Nghị định số
32/CP ngày 23/01/1979 quyết định chính thức thành lập Tổng cục Du lịch
Việt Nam. Sự ra đời của Tổng cục Du lịch Việt Nam đã tạo ra bƣớc ngoặt
lớn trong sự chỉ đạo của Nhà nƣớc đối với hoạt động du lịch Việt Nam.
Dƣới sự chỉ đạo của Tổng cục Du lịch Việt Nam, nhiều công ty du lịch mới
đã ra đời. Cả nƣớc lúc đó có 30 công ty du lịch. Số lƣợng khách sạn, nhà
hàng, phƣơng tiện vận chuyển … tăng lên rất nhiều. Đặc biệt, số lƣợng cán
bộ, nhân viên phục vụ du lịch lên tới hàng vạn ngƣời. Hầu hết các công ty du
lịch đều do Nhà nƣớc quản lý.

12
Về khách du lịch, số lượng cũng tăng nhanh theo từng năm:
+ Khách quốc tế:
- Năm 1986: 54.353 lƣợt ngƣời.
- Năm 1989: 187.573 lƣợt ngƣời.
+ Khách nội địa:
- 1986: 280.000 lƣợt ngƣời.
- 1989: 540.000 lƣợt ngƣời.
Về doanh thu:
- Năm 1986: 215.000.000 đ và 170.000 rúp-đô la Mỹ.
- Năm 1989: 607.000.000 đ và 420.000 rúp-đô la Mỹ. [10]
1.1.2. Ngành du lịch Việt Nam từ năm 1990 đến nay

khách du lịch nội địa tăng 7,5 lần, từ 1,5 triệu lƣợt lên 11,3 triệu lƣợt. Đây là
mức tăng trƣởng khá cao so với các nƣớc trong khu vực và thế giới. Thu
nhập xã hội từ du lịch cũng tăng với tốc độ đáng kể, thƣờng đạt mức trên
30%/năm, năm 1991 là 2.240 tỷ đồng, năm 2000 đạt 17.400 tỷ đồng, năm
2004 đạt 26.000 tỉ đồng, tƣơng đƣơng với 1,8 tỉ USD, tới năm 2005: 30.000
tỉ đồng, tƣơng đƣơng với 2 tỉ USD.
Trong những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, nền kinh tế nƣớc ta đi vào
thế ổn định, có những bƣớc phát triển vững chắc làm cơ sở cho hội nhập
quốc tế trên quy mô lớn. Việc đầu tƣ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ du
lịch vì thế thuận lợi hơn trƣớc rất nhiều. Sự thay đổi bắt đầu ngay từ trong
quan niệm về đầu tƣ. Các nhà lãnh đạo, các nhà kinh tế cho rằng đầu tƣ vào
du lịch càng lớn thì thu lợi nhuận càng nhanh. Điều này đã có thực tế ở các
khu du lịch Đầm Sen, Suối Tiên (Thành phố Hồ Chí Minh). Nhìn lại quá
trình đầu tƣ, chúng ta thấy nhƣ sau:

14
Về kinh doanh khách sạn (theo tài liệu thống kê của Tổng cục Du lịch
tính đến tháng 12 năm 2004):
- Năm 1991 có 11.400 phòng.
- Năm 2000 có 66.000 phòng.
- Năm 2004 có 122.144 phòng.
Điều quan trọng ở đây là chất lƣợng các phòng khách sạn đƣợc nâng lên
rõ rệt. Các khách sạn đã đƣợc xếp loại với những tiêu chuẩn rõ ràng. Quy
trình kiểm tra, đánh giá đƣợc thực hiện khách quan, nghiêm túc. Năm 2004,
toàn quốc có 5.847 cơ sở lƣu trú, trong đó có 2.569 cơ sở đƣợc xếp hạng
khách sạn từ 1 đến 5 sao.
Cùng với sự phát triển nhanh của các cơ sở lƣu trú (khách sạn) là hệ
thống các khu vui chơi giải trí, khu thể thao (đặc biệt là các sân golf) đƣợc
hình thành với chất lƣợng khá tốt.
Nói đến sự phát triển của du lịch, không thể không nói tới sự phát triển

vùng Sông Mê Kông mở rộng (GMS), Tiểu vùng Sông Mê Kông-Sông
Hằng, các tiểu vùng Việt-Lào-Thái, Việt-Lào-Campuchia.
- Ký hiệp định hợp tác du lịch với 20 nƣớc trong và ngoài khu vực
Đông
Nam Á.
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch nhƣ ta đã thấy, tất yếu đòi
hỏi sự phát triển theo của nguồn nhân lực cả về số lƣợng và chất lƣợng.

1.2. Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch Việt Nam hiện
nay
Tại Hội nghị phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam và hội
nhập khu vực, các chuyên gia đều thống nhất đánh giá về sự bất cập của

16
nguồn nhân lực du lịch hiện nay. Chúng ta có một đội ngũ mà phần lớn chƣa
đƣợc đào tạo ở trình độ cao và chuyên sâu. Các cán bộ, nhân viên đang làm
việc trong ngành du lịch phần lớn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của khách du
lịch quốc tế. Đối với khách du lịch nội địa, họ cũng chỉ mới đáp ứng đƣợc
một phần. Nếu để tình trạng nguồn nhân lực nhƣ hiện nay, ngành du lịch
Việt Nam rất khó có thể hội nhập đƣợc với thế giới.

1.2.1. Về số lượng
Hội nghị nói trên đã đƣa ra những dự báo về nguồn nhân lực du lịch
cho tƣơng lai nhƣ sau:
“Qua báo cáo của 64 Sở Du lịch, sở Thƣơng mại, Sở Thƣơng mại &
Du lịch về thực trạng và dự báo số lƣợng về cơ cấu nhân lực theo yêu cầu
đối với ngành Du lịch trên địa bàn mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ƣơng, số liệu dự đoán cho thấy số lƣợng lao động du lịch không ngừng gia
tăng do yêu cầu tăng trƣởng của ngành. Hiện nay cả nƣớc có 234.096 lao
động các loại làm việc trực tiếp trong ngành du lịch, đến năm 2010 con số

Phân theo trình độ đào tạo
2
Trình độ trên đại học
482
966
2.804
3
Trình độ đại học, cao đẳng
29.844
45.818
71.570
4
Trình độ trung cấp
35.966
49.276
75.716
5
Trình độ sơ cấp
42.364
69.710
103.862
6
Trình độ dƣới sơ cấp (qua đào tạo tại chỗ
hoặc huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn)
125.440
167.626
250.250
Phân theo loại lao động
7
Đội ngũ quản lý của cơ quan quản lý nhà

41.768
5-Hướng dẫn viên
Đã được cấp thẻ
5.104
12.666
28.450
Chưa được cấp thẻ
2.854 6-Nhân viên lữ hành, đại lý du lịch
8.092
17.636
28.674
7-Nhân viên khác
93.958
133.134
184.180
Phân theo ngành nghề kinh doanh
10
Khách sạn, nhà hàng
115.050
168.632
240.070
11
Lữ hành, vận chuyển DL
31.036
45.896
63.762
12

nghề du lịch đến năm 2010 có tổng số là 206.706 ngƣời, tăng bình quân
8,5% năm so với năm 2005. Cụ thể theo các khu vực năm 2010, khu vực Hà
Nội và phụ cận chiếm 32,8%, khu vực Đông bắc chiếm 6%, Tây Bắc 2,8% ;
Bắc Trung bộ 8,7%, Nam Trung bộ 7,3%, Tây Nguyên 3,5%, Thành phố Hồ
Chí Minh và phụ cận chiếm 34% và Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 5%.
(Tham khảo bảng 1)
Đánh giá về chất lƣợng đào tạo quả thực là một vấn đề khó khăn.
Chúng ta chỉ có thể cảm nhận đƣợc về chất lƣợng đào tạo. Tuy nhiên sự cảm
nhận này lại mang tính chủ quan rất cao. Các nhà doanh nghiệp (ngƣời sử
dụng nguồn nhân lực) thì luôn luôn phàn nàn rằng chất lƣợng đào tạo còn
thấp, thậm chí còn quá thấp, trong khi đó, những ngƣời đào tạo nguồn nhân

19
lực (đại diện các nhà trƣờng) thì lại thƣờng xuyên khẳng định trong các bản
báo cáo sơ kết, tổng kết hàng năm rằng chất lƣợng đào tạo vẫn đi lên, năm
sau khá hơn năm trƣớc. Việc phân tích chất lƣợng cần phải dựa vào quy
trình mang tính tổng hợp cao, trên cơ sở của nhiều thông số nhƣ cơ sở vật
chất, trang thiết bị kỹ thuật, đội ngũ lãnh đạo, đội ngũ giảng viên, chƣơng
trình đào tạo, hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo, phƣơng pháp giảng
dạy và kiểm tra đánh giá, chất lƣợng tuyển sinh đầu vào v.v… Bƣớc đầu,
Tổng cục Du lịch đã có những số liệu điều tra điều tra về khả năng đáp ứng
nhu cầu công việc của các cán bộ đang làm việc trong ngành với tƣ cách là
lao động gián tiếp. (Tham khảo bảng 2).

Bảng 2. Mức độ đáp ứng nhu cầu công việc của đội ngũ lao động [ 22 ]

Các chỉ tiêu
Số
lƣợng
Sở

46
3.2
Thống kê du lịch
46
3.2
Quản trị thông tin du lịch
46
2.8
Nghiên cứu thị trƣờng tiếp thị xúc tiến du lịch
46
2.6
Quản lý phát triển các loại hình du lịch
46
2.7
Quản lý nguồn nhân lực
46
3.0
Quản lý khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch
46
2.6
Khai thác sản phẩm du lịch
46
2.5

20
Quản lý bảo vệ môi trƣờng du lịch và phát triển
bền vững
46
2.8
Quản lý kinh doanh du lịch

dụng nguồn nhân lực từ các trƣờng đại học không phải là nhận xét sai lầm
mà có căn cứ thực tế và đã đƣợc chứng minh bằng điều tra xã hội học. Do
đó, chúng ta quan ngại rằng, quá trình đào tạo ở các trƣờng đại học, nếu
không đƣợc cải tiến thì tình trạng thực tế nhƣ hiện nay sẽ kéo dài, ảnh hƣởng
rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác của ngành, Tổng cục Du lịch
đã đề ra mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đến năm 2015 nhƣ sau:
- 100% cán bộ quản lý và giám sát đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng chuyên sâu
về du lịch.
- 80% lao động đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng về nghiệp vụ chuyên môn,
ngoại ngữ, tin học.
- 100% cơ sở đào tạo du lịch đào tạo theo chƣơng trình chuẩn quốc gia.
Đây là mục tiêu có thể thực hiện đƣợc với điều kiện có sự đầu tƣ của
Nhà nƣớc về cơ sở vật chất, trang thiết bị tối thiểu trong các nhà trƣờng.
Nhƣ vậy, vấn đề nâng cao chất lƣợng đào tạo đại học về du lịch đang
đƣợc đặt ra nhƣ là một vấn đề cấp bách hiện nay. Vấn đề chất lƣợng thể hiện
qua các yêu cầu sau đây mà các nhà trƣờng cần phải đáp ứng:
a) Kiến thức văn hóa liên quan đến du lịch:
Đây là một lĩnh vực khá rộng, bao gồm nhiều tri thức ở các ngành
khác nhau. Làm thế nào để trong vòng 4 năm (một khoá đào tạo đại học),
sinh viên có thể nắm bắt và sử dụng đƣợc các tri thức văn hóa liên quan đến
du lịch. Vấn đề này cần phải đƣợc giải quyết đối với các trƣờng đào tạo
hƣớng dẫn viên du lịch.
b) Năng lực quản lý và tổ chức hoạt động du lịch:

22
Đây cũng là một lĩnh vực khá phức tạp, bao gồm nhiều năng lực khác
nhau, trong đó có cả năng lực giao tiếp, năng lực marketing, năng lực kinh
doanh v. v… Nói chung là các năng lực về nghiệp vụ du lịch.
c) Năng lực về ngoại ngữ:

xây dựng một bài thuyết minh phong phú, hấp dẫn. Hơn nữa, khi có năng
lực nghiên cứu khoa học, ngƣời hƣớng dẫn viên có thể đƣa ra những tƣ liệu
chân thực và chính xác, tránh đƣợc tình trạng nói liều, không đúng sự thật,
mặc dù khách tham quan có thể không phân biệt đƣợc tri thức mà anh ta đƣa
ra là đúng hay sai.

Tiểu kết
Với sự phát triển nhanh về nhiều phƣơng diện của ngành du lịch trong
thời kỳ mở cửa và hội nhập quốc tế, đồng thời cũng trong thời kỳ nền kinh tế
đang khởi sắc, đời sống trong nhiều bộ phận dân cƣ đƣợc nâng cao, nhiều
vấn đề đã đƣợc đặt ra. Một trong những vấn đề quan trọng nhất là cần có
nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu trƣớc mắt và tƣơng lai của ngành. Để
đáp ứng đƣợc yêu cầu này, công tác đào tạo không thể không có sự cải tiến
để nâng cao chất lƣợng. Nguồn nhân lực đƣợc đào tạo hiện nay mới chỉ đạt
chất lƣợng ở mức trung bình và thấp. Đó là một điều bất cập đáng quan ngại
cho tƣơng lai. Xuất phát từ nhu cầu thực tế, ngành du lịch đang đặt ra những
yêu cầu về năng lực cán bộ nhƣ tri thức văn hóa liên quan đến du lịch, khả
năng quản lý và tổ chức các hoạt động du lịch, khả năng ngoại ngữ, khả
năng nghiên cứu khoa học về du lịch. Các trƣờng đại học, nơi đào tạo nguồn
nhân lực du lịch ở trình độ cao, cần nghiên cứu những nhu cầu này để đáp
ứng bằng quy trình và phƣơng hƣớng đào tạo, trong đó vấn đề chƣơng trình
đƣợc đặt ra nhƣ là một vấn đề tiên quyết.

24
CHƢƠNG 2
KHẢO SÁT CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN DU LỊCH
CỦA MỘT SỐ TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI

2.1. Khái quát về tình hình đào tạo cử nhân du lịch trong các trƣờng
đại học ở Hà Nội

3) Các khoa Quản trị kinh doanh (có ngành Du lịch )
- Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Duy Tân Đà Nẵng
- Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học dân lập Phƣơng Đông Hà Nội)
- …
4) Các khoa Quản trị kinh doanh du lịch
- Khoa Quản trị kinh doanh du lịch, Đại học Đà Nẵng
- … …
Ngoài ra còn các khoa nhƣ: Khoa Địa lý, Khoa Kinh tế, Khoa Kinh tế
và Quản trị kinh doanh … ở một số trƣờng đại học khác cũng đào tạo ngành
Du lịch.
Qua đó chúng ta thấy, các nhà trƣờng cũng còn tự phát trong việc xây
dựng các tổ chức đào tạo về du lịch. Một số khoa mang tên gọi không phản
ánh nhiệm vụ và nội dung đào tạo ngành này. Nhƣ vậy có nghĩa là, đào tạo
du lịch vẫn chƣa phải nội dung quan trọng nhất của khoa mà chỉ là nội
dung thứ hai hoặc nội dung kèm theo. Điều đó phản ánh tính non trẻ của
ngành đào tạo này. Một số trƣờng vẫn còn coi là bƣớc đầu, mang tính chất
thể nghiệm, thậm chí, trong nhiều năm, chỉ đƣợc coi là chuyên ngành, nằm
trong và thuộc về một ngành đào tạo khác. Ví dụ, ở Trƣờng Đại học Văn
hóa Hà Nội, trƣớc năm 2000, chuyên ngành Văn hóa du lịch thuộc về

Trích đoạn Phƣơng hƣớng hoàn thiện chƣơng trình đào tạo cử nhân du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status