Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế, những năm gần đây nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung ở nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường
như một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển. Trong điều kiện cơ chế quản lý thay
đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh
nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước đã bộc lộ đầy đủ
những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng. Vậy vấn đề đặt ra là
làm thế nào để cấu trúc lại sở hữu nhà nước và cải cách khu vực kinh tế nhà
nước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của nó theo tinh thần các nghị quyết đại
hội VI và VII của Đảng. Vấn đề này đã được nhiều nhà kinh tế học, lý luận học,
nghiên cứu kỹ lưỡng và họ đã đưa ra được những giải pháp cơ bản, phù hợp với
tình hình kinh tế nước ta hiện nay. Một trong những giải pháp có tính chiến lược
nhất là "tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm đa dạng hoá sở
hữu, đưa yếu tố cạnh tranh làm động lực tăng hiệu quả kinh doanh và xác lập
một mô hình hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường". Xét trên một mức độ quan
trọng của chiến lược này, đồng thời cũng là giải pháp có tính phổ biến để cải
cách khu vực kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới, nên tôi quyết
định chọn nghiên cứu đề tài "Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan
trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta" với tư cách
là một công trình khoa học. Tuy nhiên đây cũng là một vấn đề hết sức mới mẻ
đối với tình hình nước ta, nó vẫn còn đang được nghiên cứu, tìm tòi. Vì vậy,
trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin đề cập một vài suy nghĩ có liên quan
đến đề tài.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là sự lựa chọn tất yếu
- Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế đất nước theo
định hướng XHCN và những kinh nghiệm thu được qua quá trình chỉ đạo, điều
qua đợt sắp xếp này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hợp lý
mạnh được quản lý tốt. Cổ phần hoá là một trong những nội dung quan trọng
trong quá trình đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá DNNN lần đầu tiên được nên tại Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 2 BCH Trung ương khoá VII (tháng 11 - 1994) và tiếp tục đựơc cụ thể hoá
tại Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1 - 1994), Nghị quyết
10, nghị quyết TW của Bộ Tài chính ngày 17 - 3 - 1995. Thông báo số 63/TB -
TƯ ngày 4 - 4 - 1997, và được khẳng định rõ hơn tại nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ 4 (khoá VIII).
1.1. Mục tiêu nhất quán của cổ phần hoá một bộ phận DNNN là để huy
động vốn, tạo điều kiện để người lao động được làm chủ thực sự trong doanh
nghiệp, tạo động lực bên ngoài thay đổi phương thức quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Về việc huy động vốn thì trong thời gian qua ngân sách nhà nước đã phải
đầu tư một tỷ trọng vốn lớn cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng hiệu quả thu
lại rất thấp trong khi ngân sách nhà nước laị có hạn và phải dàn trải cho nhiều
khoản chi tiêu khác . Qua số liệu điều tra năm 1995 (tổng cục thống kê) cho
thấy. Trong 6544 DNNN (trong tổng số 7060 doanh nghiệp) đang hoạt động có
3268 doanh nghiệp thuộc diện giải thể hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu, chiếm
49,95% số doanh nghiệp được nhà nước đầu tư. Để xử lý tình trạng thiếu vốn và
tạo cơ chế quản lý tài chính có hiệu lực, thực sự rằng buộc trách nhiệm, trong
sản xuất kinh doanh của các DNNN thì giải pháp cần làm là thực hiện cổ phần
hoá một số DNNN.
Cổ phần hoá cho phép tách quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản của
doanh nghiệp nhằm đưa lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Cổ phần hoá sẽ
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
huy động các nguồn vốn nhãn rỗi trong xã hội một cách nhanh chóng để phát
triển sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguồn vốn dồi dào
trong dân cư sẽ đổ vào nơi có lợi nhuận cao, làm cho các doanh nghiệp cổ phần
cách rõ rệt thể hiện ở thu nhập bình quân hàng tháng, trước cổ phần hoá bình
quân thu nhập của cán bộ CNV trong công ty là 524đ/tháng. Sau cổ phần hoá
(1996) thu nhập bình quân là 1,2 triệu đồng/tháng.
- Cũng như nhiều DNNN khác, trước cổ phần hoá công ty cơ điện lạnh
cũng gặp không ít khó khăn, nhất là về vốn và việc làm của người lao động, từ
khi có quyết định chuyển thành công ty cổ phần (tháng 10/1995) nhờ phát hành
cổ phiếu có thêm vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo việc làm mới, thu hút thêm
nhiều lao động vào làm việc. Trước cổ phần hoá công ty có 334 công nhân viên,
sau khi chuyển thành công ty cổ phần, hàng năm số lao động mới được tuyển
vào làm việc đều tăng. Năm 1994 công ty thu hút 84 người vào làm việc năm
1995 thu hút 79 người, năm 1996 công ty thu hút thêm 153 người. Như vậy sau
3 năm cổ phần hoá công ty cơ điện lạnh đã tạo ra 313 chỗ làm việc mới đưa tổng
số lao động trong công ty từ 334 người (1993) lên 647 người (1996).
- Về tiền lương của người lao động không những việc được bảo đảm mà
còn tăng đáng kể so với khi còn là DNNN. Trước cổ phần hoá tiền lương của
người lao động là 647 ngàn đồng/tháng đến năm 1996 lương bình quân là 1,3
triệu đồng/tháng.
Đại lý liên hiệp vận chuyển cũng là một trong những doanh nghiệp đi đầu
trong công tác cổ phần hoá. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cho thấy
các năm sau đều cao hơn so với các năm trước. Đặc biệt là việc làm và thu nhập
của người lao động. Năm 1993 trước khi chuyển thành công ty cổ phần, đơn vị
có 56 cán bộ công nhân viên, sau cổ phần hoá (CPH) (1994) số lao động tăng
lên 156 người, năm 1996 tăng lên 268 người. Thu nhập của người lao động tăng
từ 800 nghìn đồng/tháng (1993) lên 1,4 triệu đồng (1994) và 2,5 triệu
đồng/tháng (1996).
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tình hình sản xuất kinh doanh, vấn đề lao động việc làm và thu nhập của
người lao động ở các công ty cổ phần còn lại những đều tăng cao hơn so với khi
các doanh nghiệp này chưa chuyển thành công ty cổ phần.
1.4.1. Lịch sử hình thành công ty cổ phần, đặc điểm vận động và phát triển
của sở hữu tư nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường:
Sở hữu xét về bản chất là quan hệ sở hữu của con người đối với tự nhiên
thông qua lao động sản xuất. Không có lao động, hoạt động có bản chất của con
người thì không có sự chiếm hữu nào cả và do đó cũng không thể có sở hữu.
Trong nền kinh tế thị trường (KTTT), lao động của con người mang tính chất
hai mặt: Lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Do đó, sở hữu tư nhân được
thực hiện trong quá trình lao động. Sản xuất cũng mang tính hai mặt: sở hữu
mang tính chất xã hội - phản ánh sự tìm kiếm và tăng thêm giá trị như là động
lực mục đích của sở hữu, mặt khác sở hữu lại mang tính chất tư nhân - phản ánh
sự chiếm hữu một giá trị sử dụng nhất định dưới dạng hàng hoá hay dịch vụ nhất
định. Điều này cho thấy, chỉ từ khi của cải mang hình thái là một giá trị thì do
tính chất hai mặt của nó, sở hữu đã trở thành một quan hệ giá trị vận động. Các
hình thức chiếm hữu tư nhân cụ thể chỉ là phương tiện để bảo tồn và tăng thêm
giá trị như là mục đích của sở hữu. Sự vận động mang tính chất hai mặt này của
sở hữu cho phép có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh, trong
đó quyền sở hữu chỉ là việc nắm quyền chi phối giá trị nhằm mục đích tìm kiếm
một giá trị lớn hơn, còn quyền kinh doanh là thực hiện một hoạt động cụ thể
nhất định để tạo ra giá trị - nó là phương tiện để tăng giá trị. Chính nhờ sự tách
biệt này đã cho phép một chủ sở hữu có thể tham gia vào nhiều hoạt động kinh
doanh và ngược lại, một hoạt động kinh doanh có nhiều chủ sở hữu tham
gia.Nhờ đó nó đã góp phần tạo ra những tầng lớp thực lợi trong xã hội. Không
trực tiếp kinh doanh nhưng vẫn thu lợi bằng quyền sở hữu của mình.
Có thể nói, nhờ có sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá, tính chất 2
mặt của sở hữu tư nhân mới được bộc lộ và ngày càng phát triển cùng với quá
trình xã hội hoá nền sản xuất xã hội. Trong lịch sử, quá trình này được thực hiện
bởi hai nhân tố:
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Thông qua trao đổi: Quá trình vận động xã hội hoá sở hữu chuyển hoá
+ Hình thái kinh doanh một chủ.
+ Hình thái kinh doanh chung vốn
+ Hình thái công ty cổ phần.
Hình thái công ty cổ phần, ra đời đánh dấu sự tiến hoá của chế độ tín dụng
từ kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn qua ngân hàng hoặc chung vốn sang
huy động vốn trên thị trường tài chính, trong đó chủ yếu là thị trường chứng
khoán. Trong hình thái kinh doanh này có hai loại hình chủ yếu: Công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu. Có thể thấy rằng công
ty cổ phần ra đời mang những đặc điểm mới cho phép nó thích ứng với những
đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại mà những hình thái
khác không đáp ứng được đó là:
* Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân và các
cổ đông chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần vốn góp của mình.
* Cơ cấu tổ chức trong công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách biệt
quyền sở hữu và quyền kinh doanh, tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của
một bên là đông đảo công chúng mua cổ phần còn là đội ngũ các nhà quản trị
kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho những công cuộc kinh
doanh quy mô lớn.
* Các cổ phiếu và trái phiếu của công ty cổ phần được chuyển nhượng dễ
dàng trên thị trường chứng khoán vì thế bất kể cổ phiếu được chuyển chủ bao
nhiêu lần, cuộc sống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thường mà
không bị ảnh hưởng. Đồng thời nhờ cơ chế này nó đã tạo sự di chuyển linh hoạt
các luồng vốn xã hội theo các nhu cầu và cơ hội đầu tư đa dạng của công ty và
công chúng.
Tóm lại, sự trình bày khái quát các nấc thang tiến hoá của hình thái doanh
nghiệp dựa trên đặc điểm tách biệt của sở hữu tư nhân trong quá trình xã hội
hoá, sản xuất có thể khẳng định xu hướng phát triển tất yếu của công ty cổ phần
trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Qua đó cho ta thấy việc tiến hành quá
trình chuyển đổi mô hình doanh nghiệp sở hữu toàn phần của nhà nước thành
9