Huy động và sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước cho hoạt động đầu tư phát triển y tế trong giai đoạn 2006-2012 và định hướng tới 2020 - Pdf 25


Chuyờn thc tp tt nghip GVHD: PGS.TS T Quang Phng
trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa đầu t

CHUYÊN Đề THựC TậP TốT
NGHIệP
Đề t ài:
HUY NG V S DNG VN NGN SCH NH NC
CHO HOT NG U T PHT TRIN Y T TRONG
GIAI ON 2006-2012 V NH HNG TI 2020
Giáo viên hớng dẫn : pgs.ts. từ quang phơng
Sinh viên thực hiện : lơng chiến thắng
Mã sinh viên : cq512812
Lớp : đầu t 51b
Hệ : CHíNH QUY
SV: Lng Chin Thng Lp: KTTB
Hà Nội - 2013
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nhận được của luận
văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn

Lương Chiến Thắng
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy cô trường Đại Học Kinh Tế Quốc
Dân đã tận tình quan tâm dạy bảo và truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản

2. NSNN đối với sự phát triển y tế 17
20
II. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN NSNN CHO
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ NHỮNG NĂM QUA 21
1. Các chỉ tiêu định hướng kế hoạch phát triển ngành y tế giai đoạn
2006 – 2012 21
2.1 Tổng quan các chính sách liên quan đến NSNN cho y tế 22
Số chi 41
Số chi 41
III. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN NSNN
CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Y TẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2012
42
1. Các mục tiêu đầu tư của ngành y tế đến giai đoạn 2006 – 2012 42
2.1 Khối lượng vốn đầu tư bao gốm cả vốn đầu tư từ NSNN 47
2.2 Hiệu quả đầu tư từ nguồn NSNN dành cho y tế 51
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
3.1.1 Hạn chế, thách thức trong huy động vốn đầu tư cho y tế từ
nguồn NSNN 56
3.1.2 Hạn chế, thách thức trong cơ chế quản lý sử dụng NSNN
trong y tế 57
CHƯƠNG II: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ TỚI 2020,
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NSNN CHO
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ 66
I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ TỚI 2020 66
1. Cơ hội và thách thức / Định hướng y tế đến 2020 66
2. Định hướng huy động và sử dụng nguồn vốn NSNN cho đầu tư phát triển y tế tới
2020 72
2.1 Định hướng huy động nguồn vốn NSNN cho đầu tư phát triển y tế tới 2020 72
2.2 Định hướng quản lý và sử dụng nguồn vốn NSNN cho đầu tư

KCB : Khám chữa bệnh
UBND : Ủy ban nhân dân
CSSK : Chăm sóc sức khỏe
BV : Bệnh viện
CTMTTQ : Chương trình mặt trận tổ quốc
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n 1
khoa ®Çu t 1
LỜI NÓI ĐẦU 11
CHƯƠNG I 12
TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NSNN CHO ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN NGÀNH Y TẾ 12
I. ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH Y TẾ 12
1. Đặc điểm và vai trò của ngành y tế 12
1.1. Đặc điểm 12
1.2 Vai trò của y tế 15
2. NSNN đối với sự phát triển y tế 17
20
II. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN NSNN CHO
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ NHỮNG NĂM QUA 21
1. Các chỉ tiêu định hướng kế hoạch phát triển ngành y tế giai đoạn
2006 – 2012 21
2.1 Tổng quan các chính sách liên quan đến NSNN cho y tế 22
Số chi 41
Số chi 41
NSNN 42
III. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN NSNN
CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Y TẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2012

9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
b) Cải cách chi tiêu công đồng thời điều chỉnh chính sách thu viện
phí: 81
2. Giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN cho đầu
tư phát triển ngành y tế 83
III. CÁCH THỨC THỰC HIỆN 88
KẾT LUẬN 90
… … 90
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
LỜI NÓI ĐẦU






Trong bất kỳ xã hội nào, con người là luôn là nguồn lực quan trọng nhất
quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước. Để duy trì và phát triển nguồn lực
này, bên cạnh việc chăm lo, nâng cao trí tuệ của con người thì chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ của con người cũng được đặc biệt quan tâm vì sức khoẻ là vốn quý nhất
của của mỗi con người và toàn xã hội.
Đối với nước ta cũng vậy, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, cùng với việc nâng cao đời sống của nhân dân thì việc chăm sóc sức khoẻ của
người dân cũng được chú trọng và nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước được thể hiện qua các chương trình, mục
tiêu phát triển sự nghiệp y tế trên cả nước mà biểu hiện bên ngoài là các cơ sở hạ
tầng, bệnh viện, trạm xá được đầu tư xây dựng trên khắp mọi miền đất nước. Để

1.1.1. Tính chất vừa là hàng hoá công cộng vừa là hàng hoá tư nhân
Khác với các ngành sản xuất vật chất và cung cấp dịch vụ khác, sản phẩm
dịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hoàng hoá
tư nhân. Sản phẩm dịch vụ y tế mang tính chất hàng hoá công cộng vì nó có đầy đủ
tính chất của hang hoá công cộng là không thể loại trừ. Đặc điểm không muốn laọi
trừ thể hiện ở chỗ khi một dịch vụ y tế cong công được hưởng thụ kết quả đó. Việc
tăng thêm chi phí hoặc tăng lên rấ ít nhưng không làm giảm đi quyền được thụ
hưởng đầy đủ lợi ích từ chương trình của những người khác trong công cộng.
Đặc điểm không thể loại trừ thể hiện ở chỗ không thể loại trừ bất kỳ ai trong
cộng đồng không được thụ hưoiửng các kết quả của chườn trình, hay nói cách khác
việc thụ hưởng các dịch vụ y tế công cộng không bị phân chia theo khẩu phần.
Đứng trên giác độ kinh tế học thì chi phí cận biên của việc cung cấp dịch vụ y tế
công cộng là bằng không khi có thêm người sử dụng dịch vụ.
Với tính chất hàng hoá công cộng của sản phẩm dịch vụ y tế, nếu như để thị
trường tư nhân cung cấp thì có thể có mốt số dịch vụ y tế sẽ không được thị trường
cung cấp hoặc thị trường có cung cấp nhưng không đầy đủ, không đáp ứng được
nhu cầu của xã hội. Vì về nguyên tắc thị trường tư nhân chỉ cung cấp những hàng
hoá, dịch vụ có lãi. Vì vậy thị trường sẽ chỉ cung cấp những sản phẩm dịch vụ y tế
có thể bán được trên thị trường và chỉ cung cấp cho những đối tượng có khả năng
thanh toán chi phí. Như vậy đối vứi những sản phẩm dịch vụ y tế là hàng hoá công
cộng thuần tuý, tuy có giá trị và có ảnh hưởng lớn đối với xã hội nhưng không có
khả năng thu hồi vốn cho nhà đầu tư thì sẽ không được thị trường cung cấp. Còn đối
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
với những sản phẩm dịch vụ y tế mà bán được trên thị trường thì sẽ loại trừ khả
năng thụ hưởng của những người có thu nhập thấp, gnười nghèo không có khả năng
thanh toán thì việc cung cấp của thị trường sẽ dẫn tới việc thiếu những dịch vụ y tế
cơ bản, không đáp ứng được nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ toàn dân, hiệu quả xã
hội bị giảm sút. Do vậy tính chất hàng hoá công cộng của sản phẩm dịch vụ y tế đòi

lại ít khả năng chi trả. Như vậy, nói đến công bằng trong y tế tức là phải có sự ưu
tiên cho vùng ngheo, người nghèo, ngươig có công với cách mạng, cho các đối
tượng thiệt thòi. Quan điểm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nói lên quyền của
người nghèo, người có công với nước phải đợơc chăm sóc, không phải là lòng
thương hại, không phải là sự ban ơn. Công bằn thường đi đôi với đạo đức trong y tế,
đòi hỏi trách nhiệm cao của cán bộ y tế đối với người bệnh, ứng xử với người nghèo
cũng như với người giàu.
Thực hiện công bằng trong chăn sóc sức khoẻ, người dân được tạo điều iện
để tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản ngay tại cơ sở và coi đó là quyền của
người dân về chắn sóc sức khoẻ. Ngành y tế và các cơ quan chức năng đa nghiên
cứu và xây dựng các chỉ tiêu trong chắm sóc sức khoẻ cần đạt được trên các mặt
khám chữa bênh, vệ sinh phòng bệnh, chă sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em… và phấn đấu
thực hiện nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp các sản
phẩm dịch vụ y tế.
1.1.4. Tính xã hội hoá trong ngành y tế.
Xã hội hoá là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta nhằm huy động mọi
nguồn lực trong xã hội vào phát triển ngành y tế để ngành y tế thực hiện tốt sự
nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kì công nghiệp hoá- hiện
đại hoá đất nước. Nếu như trước đây thời còn bao cấp thì ngân sách nhà nước chịu
mọi chi phí cho việc khám chữa bệnh của nhân dân, nói khác là người dân khám
bệnh không phải chịu phí tổn, viện phí gì cả. Những năm gần đây với mục đích nâng
cao chất lượng khám chữa bệnh cho toàn dân nên nhà nước ta thực hiện phương
châm nhà nước và nhân dân cùng làm để huy động các nguồn vốn khác nhau để đầu
tư cho y tế như đóng viện phí khi người dân đến khám chữa bệnh tại các bệnh viện,
bảo hiểm xã hội, quỹ khám chữa bệnh vì người nghèo, quỹ sự nghiệp y tế….
Xã hội hoá y tế còn được biểu hiện bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân
vào công tác vệ sinh môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, công tác phòng
chống các dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, vận động kế hoạch hoá gia đình…
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
14

của cải cho xã hội hơn, làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển hơn. Do đó y tế
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
với mục tiêu chính là chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của mọi người dân giữ vai trò
quan trọn gián tiếp đến sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Thứ hai, y tế có vai trò rất quan trọng trong việc phòng và chống bệnh dịch,
làm giảm sự thiệt hại cho nền kinh tế. Phòng bệnh là một trong hai hoạt động chính
của sự nhgiệp y tê, Nhờ thực hiện tốt công tác phòng bệnh mà nhiều quốc gia đã tiêt
kiệm được một chi phí lơn do ngăn chặn được nhiều dịch bệnh bùng nổ. Như ta đã
biết gần đây trên thế giới và cả ở Việt nam liên tục xảy ra những bệnh dịch nguy
hiểm, gây thiệt hai lớn cho nền kinh tế như dịch bệnh Sars, bệnh cúm. Những căn
bệnh này khi đã mắc phải thường đòi hỏi chi phí chữa trị rất tốn kém , thậm chí gây
ra tử vong dẫn đến thiệt hịa lớn về người và của. Nhưng sau đó ngành y tế của các
quốc gia đã tiến hành nghiên cứu, tích cực thực hiên “phòng bệnh hơn chữa bệnh”
đã làm giảm đán kể những thiệt hai về kinh tế và con người, để tập trung nguồn lực
dành cho phát triển kinh tế. Tõ ràng nhờ sử dụng tối đa nguồn nhân lực con người
và nguồn lực tài chính đeer thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, gần đây, ở
Việt nam tuy phải đương đầu với hai dại dịch lớn là Sars và cúm gà nhưng ngành y
tế cũng như toàn dân đã hết ức nỗ lực trong công tác phòng dịch nên thiệt hại về
kinh tế và con người mà ta phải gqnáh chịu đã được hạn chế tối đa.
1.2.2. Vai trò của y tế với xã hội
Phần trên ta đã phân tích vai trò đặc biệt của y tế đối với lĩnh vực kinh tế, sau
đây chúng ta sẽ phân tích vai trò đặc biệt của y tế đối với lĩnh vực kinh tế, Sau đây
chúng ta sẽ phân tích đối với lĩnh vực xã hội.
Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế đời sống con người
ngày càng được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhưng trong khi phát triển
kinh tế con người đã tác động tới môi trường tự nhiên làm thay đổi môi trường sống
của chính chúng ta, kết quả là ngày càng nhiều bệnh dịch mới và nguy hiểm xuất
hiện không chỉ ở phạm vi khu vực qýôc gia mà còn trên toàn thế giới. Y tê có vai

triển của kinh tế hàng hoad, tiền tệ. Cho đến nay, thuật ngữ “Ngân sách nhà nươc”
được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Xong, quan
niệm về NSNN thì lại chưa được thống nhất. Trên thực tế, người ta đã đưa nhiều
nghĩa thuộc các trường phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu
khác nhau.
Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, NSNN là
một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết
lập hàng năm.
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
NSNN. Các nhà kinh tế Nga cho ràng: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi
bằng tiền trong mọi giai đoạn nhất định của nhà nước.
Luật NSNN đã được quốc hội nước CHXHCN Việt nam khoa X, kỳ họp thứ
10 thông qua ngày 16- 12 - 2002 cũng có ghi: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi
của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
và được thực hiện trong môt năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ
của nhà nước ( điều 1)
Trong một chừng mực nào đó các định nghĩa trên đây có những sự khác biệt
nhất định. Tuy nhiên cũng đều thể hiện bản chất của NSNN là:
- Xét về phương diện pháp lý: NSNN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi
bằng tiền của nhà nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm. đạo luật
này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành.
- Xét về bản chất kinh tế: mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân
phối các nguồn tài nguyên quốc gia ( phân phối lần đầu và tái phân phối ). Và vì
vậy, về nội dung kinh tế, NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế giữa một bên là
nhà nước với một bên là các tổ chức kinh tế, xã hội và các tầng lớp dân cư.
- Về tính chất xã hội: NSNN luôn luôn là một công cụ kinh tế của nhà nước,
nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chắc năng, nhiệm vụ của nhà nước. Nhờ có

lao
động

nhân/
hộ
gia đình/
người
lao
động
Tích lũy/ Tập
trung quỹ
Ngân
sách
nhà
nước
cho
y
tế
Quỹ
BHYT

hội
Quỹ BHYT

nhân
Phân bổ/
Quản lý quỹ
Bộ Y tế/
Sở
Y

y tế ngoài công lập với mục đích chính chỉ quan tâm đến những dịch vụ mang lại
nhiều lợi ích mà không đặt vấn đề phát triển các chuyên ngành theo yêu cầu.
- Thông qua chi NSNN cho sự nghiệp y tế có thể tiến hành kiểm tra việc sử
dụng các khoản chi đó cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Từ đó phát
huy hiệu quả của đồng vốn ngân sách và tạo điều kiện cho ngành y tế thực hiện các
mục tiêu của mình.
- Lĩnh vực y tế là lĩnh vực có phạm vi hoạt động, quy mô lớn và ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khoẻ nhân dân. Các khoản chi từ NSNN sẽ giúp cho việc hoạch
định phương hướng phát triển kỹ thuật y tế. Trong khi đó y tế ngoài công lập chạy
theo lợi nhuận nên dẫn tới hai khuynh hướng hoặc là chỉ chú trọng đến kỹ thuật cao
với giá thành đắt mà người nghèo không thể tiếp cận được hoặc chỉ dừng lại ở kỹ
thuật cũ để thu tiền trước mắt mà không phát triển những kỹ thuật hiện đại.
- Chi NSNN cho y tế giúp cho việc tập chung nhân lực và tài lực để giải quyết
những vấn đề cấp bách, cần thiết của những hậu quả do thiên tai, thảm hoạ gây ra.
Những vấn đề nói trên chỉ nhà nước mới có thể đầu tư vào lĩnh vực không sinh lợi
này nhưng lại có ảnh hưởng sau rộng đến chiến lược và chính sách quốc gia.
- Bản chất của hoạt động y tế là nhân đạo, chi cho y tế từ NSNN giúp cho việc
quản lý và thúc đẩy tính nhân đạo trong ngành y tế, đặc biệt là việc kiểm soát những
vấn đề lên quan đến y đức.
Việt Nam đang trên đường chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang
nền kinh tế thị trường. Việc chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường về hoat động y
tế không được làm giảm vai trò của nhà nước về cung cấp dịch vụy tế cơ bản, chăm
sóc y tế cho nhân dân. Mà trái lại, thông qua cơ chế này nhà nước có thể động viên
được thêm để bổ sung cho unồn NSNN hạn chế dành cho y tế, nâng cao chất lượng
phục vụ của ngành y tế. Thực hiện cơ chế thị trường về y tế không có nghĩa là nhà
nước thả nổi cho thị trường quyết định toàn bộ việc cung cấp dịch vụ y tế mà nhà
nước cần tiếp tục giữ vai trò chủ đạo về y tế, NSNN cần tiếp tục phát huy vai trò là
nguồn lực cơ bản trong cung cấp dịch vụ y tế cơ bản, trợ cấp cho người nghèo và
định hướng thị trường.


Các nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế Việt Nam giai đoạn trước mắt đã
được Bộ trưởng Bộ Y tế xác đinh, bao gồm:
- Giảm tải các bệnh viện tuyến trên;
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
- Đổi mới cơ chế tài chính y tế công lập;
- Thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân;
- Tăng cường mạng lưới y tế cơ sở;
- Tăng cường phát triển nguồn nhân lực y tế, từng bước đảm bảo nhu cầu cơ
bản về nhân lực y tế các tuyến;
- Thí điểm hình thức khám chữa bệnh theo nhu cầu;
- Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, truyền thông giáo dục sức khỏe.
2. Thực trạng huy động và sử dụng vốn NSNN cho đầu tư phát triển
ngành y tế giai đoạn 2006– 2012
2.1 Tổng quan các chính sách liên quan đến NSNN cho y tế
2.1.1 Ưu tiên NSNN cho y tế
Trong quá trình đổi mới hệ thống y tế Việt Nam từ năm 1989 đến nay, đã

nhiều chính sách nhằm huy động các nguồn tài chính khác nhau cho y tế, như
chính
sách viện phí, BHYT, xã hội hóa y tế, tự chủ tài chính Tuy nhiên,
Đảng và
Nhà
nước vẫn giữ quan điểm nhất quán ưu tiên đầu tư NSNN cho y
tế.
Nghị quyết Đại hội Đảng các khóa VII, VIII, IX và mới đây nhất là
Nghị
quyết Đại hội X, 2006 đã chỉ rõ “Tăng đầu tư của Nhà nước và tạo sự
chuyển


cho vùng nghèo,
vùng núi, vùng sâu, vùng xa về hoạt động y tế dự phòng, y học
cổ
truyền,
CSSK ban đầu tại y tế cơ sở, KCB cho người nghèo và các đối tượng
chính
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
sách, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy
mạnh

hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao cũng
khẳng
định:
“Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho y tế, trong đó bảo đảm ngân
sách cho y tế
công cộng.”
Mới đây nhất, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 18/2008/QH12,
ngày
3/6/2008, về đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật xã hội hóa để nâng
cao
chất
lượng CSSK nhân dân, trong đó đã quyết định “Tăng tỷ lệ chi ngân
sách hằng
năm
cho sự nghiệp y tế, bảo đảm tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ
tăng chi bình
quân

tế dự phòng. Mạng lưới y tế cơ sở cũng được chú trọng
đầu
tư. Năm 2005, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 225/2006/QĐ-TTg
về
nâng cấp bệnh
viện đa khoa huyện và khu vực với tổng số vốn đầu tư cho giai
đoạn
2005-2008 là
8.350 tỷ và Quyết định số 950/2007/QĐ-TTg về đầu tư xây dựng trạm
y
tế xã
vùng khó khăn giai đoạn 2008-2010 với tổng kinh phí dự toán khoảng 500
tỷ
đồng từ nguồn trái phiếu chính phủ. Trong năm 2008, Thủ tướng cũng đã ban
hành
các Quyết định số 24, 25, 26, 27 về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát
triển
kinh
tế-xã hội đối với các tỉnh vùng Bắc Trung bộ, Duyên hải Trung bộ, vùng
Tây
Nguyên
vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh vùng trung du và miền núi
Bắc bộ đến
năm
2010, trong đó quy định nhân viên y tế thôn bản ở các vùng này
SV: Lương Chiến Thắng Lớp: KTĐTB
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Từ Quang Phương
được hưởng mức

ra
Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008
điều chỉnh mức trợ cấp mua BHYT
cho
người nghèo từ 80.000 đồng/người/năm
lên 130.000 đồng/người/năm và trợ cấp
50%
mệnh giá thẻ BHYT đối với
thành viên thuộc hộ cận nghèo tham gia BHYT
tự
nguyện. Tiếp theo, mệnh
giá BHYT của các đối tượng chính sách được nâng lên
bằng
3% mức lương tối
thiểu chung theo Quyết định số 117/2008/QĐ-TTg, ngày
27/8/2008
của Thủ
tướng Chính phủ (với lương tối thiểu hiện nay là 540.000đ/tháng, mức
trợ
cấp
được nâng lên thành 194.000 đồng/người/ năm). Đây là một chính sách thể
hiện
sự quan tâm của Chính phủ đối với việc đảm bảo công bằng trong
CSSK.
Theo Nghị định số 36/2005/NĐ-CP của Chính phủ, trẻ em dưới 6 tuổi
được
KCB không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập. Hiện tại việc KCB
miễn phí
cho
trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện thông qua việc cấp phát thẻ KCB

theo các mục tiêu xác định, dựa trên thông tin chính
xác, nhất quán và minh
bạch.
Việc xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn sẽ
giúp cho phân bổ nguồn lực hiệu
quả
hơn theo các ưu tiên và mục tiêu của
ngành y tế nói riêng và mục tiêu phát triển
kinh
tế xã hội nói chung của cả
nước. Việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự
nghiệp
trong ngành y tế, chủ
yếu các bệnh viện, được thực hiện từ năm 2002 theo Nghị
định
10/2002/NĐ-CP,
sau đó được điều chỉnh theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP.
Đây
được coi là
một bước chuyển biến ban đầu trong việc phân cấp quyền và trách
nhiệm
của
đơn vị trong sử dụng NSNN, tăng cường công tác quản lý tài chính chặt chẽ

hiệu
quả.
2.2 Cơ chế huy động và phân bổ nguồn vốn NSNN cho các lĩnh vực nói
chung và y tế nói riêng
a) Cơ sở pháp lý
- Quyết định số 26/2006/QĐ-BTC ngày 11/04/2006 - Sửa đổi Mục lục Ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status