Làm thế nào để tạo hứng thú học tập môn ngữ văn THCS cho học sinh - Pdf 25

Đề tài:
*****
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay, tình trạng học sinh chây lười học bài trở nên phổ biến nhất là đối
với các môn khoa học xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng.Trong giờ học,
các em luôn có những biểu hiện tiêu cực như: ít phát biểu, khả năng đọc bài yếu
kém, khả năng diễn đạt trong quá trình làm bài lủng củng, thiếu mạch lạc và hành
văn không mang tính văn chương. Đặc biệt là kỹ năng trình bày bài luyện nói trước
tập thể của các em rất yếu kém: không tự tin và tác phong không nghiêm túc.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Cơ sở lý luận:
Trước thực trạng đó gióa viên không nên chán nản, bỏ cuộc và đổ tất cả lỗi
cho học sinh. Người xưa có câu: “Tiên trách kỷ-hậu trách nhân”, muốn trách người
thì phải trách mình trước! Tôi nghĩ rằng mỗi giáo viên cần xem lại phương pháp
dạy của mình, cách thức truyền đạt kiến thức của mình đến học sinh. Quan trọng là
thái độ của người dạy đối với người học như thế nào trong những tình huống người
học có lỗi như: không thuộc bài, không làm bài, làm chuyện riêng, phát biểu linh
tinh…Nói chung là phải có lòng bao dung, vị tha, phải đứng trên quan điểm khách
quan, có sự nghiên cứu tìm ra giải pháp để lôi cuốn học sinh đến gần hơn và yêu
thích hơn với bộ môn.
2/ Cơ sở thực tiễn:
Trong học tập là thế, nhưng các em lại rất hiếu động và dễ bị ảnh hưởng bởi
những hoạt động mới lạ. Chính vì thế mà các em dễ bị sa vào các trò game Khi
bàn luận về vấn đề phim ảnh, những vấn đề vui chơi của giới trẻ thì các em lại rất
hào hứng và ngôn ngữ sử dụng phần nhiều là tiếng lóng, từ ngữ sử dụng không
đúng chính tả mà là ngôn ngữ của “chat” trên mạng như: “pít rùi” (biết rồi); “h’
nèy” (giờ này); “cug” (cũng); “lun” (luôn); “zậy” (vậy); “bùn wá” (buồn quá);
“phẽ ko” (khỏe không)…
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã thu thập thêm một số nguyên nhân khiến
học sinh học tập không đạt chất lượng.
- Do không có sự chuẩn bị bài tốt như: không đọc trước văn bản, không học

ở phân môn Ngữ văn: Các em sẽ trình bày phần soạn văn bản của mình trước lớp.
Để thực hiện có hiệu quả công việc này và nhất là cho các em nghiêm túc tham gia,
bản thân giáo viên và học sinh cần phải thực hiện từng bước như sau:
3/ Nội dung nghiên cứu:
Chất lượng học tập của học sinh sa sút do nhiều nguyên nhân và muốn khắc
phục được thực trạng trên thì cần phải phối hợp thực hiện nhiều hoạt động. Đó
chính là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số sáng kiến-kinh nghiệm nhằm
giúp học sinh hứng thú với môn Ngữ văn”.
3.1-Hoạt động chính khóa “EM TẬP LÀM GIÁO VIÊN TƯƠNG LAI”
a) Đăng ký danh sách:
- Mỗi tổ sẽ đề cử từ một đến hai học sinh tham gia thuyết trình (tất cả học
sinh còn lại vẫn soạn bài theo quy định).
- Học sinh được chọn phải có thái độ, tác phong học tập nghiêm túc để việc
soạn bài, trình bày bài soạn đạt kết quả tốt.
b) Đăng ký văn bản:
Một số Sáng kiến-Kinh nghiệm nhằm giúp học sinh hứng thú với môn Ngữ văn. Trang 2
- Sau khi đã có danh sách, các em thảo luận để đưa ra sự thống nhất về việc
lựa chọn văn bản nhằm mục đích cùng soạn và cùng trình bày một văn bản.
- Thời gian cho các em chuẩn bị soạn bài ít nhất phải là một tuần.
c) Công việc chuẩn bị:
- Sau khi các em đã soạn xong, giáo viên cần xem lại để giúp các em sửa
chữa những lỗi cần thiết về: từ ngữ sử dụng, cách diễn đạt. Hướng các em biết phát
hiện nghệ thuật sử dụng để từ đó triển khai nội dung.
- Hướng dẫn học sinh về tư thế, tác phong khi thuyết trình. Đặc biệt là khả
năng tự tin trước tập thể.
- Lưu ý cho các em chuẩn bị lời tự giới thiệu trước khi thuyết trình và lời
chúc, lời cảm ơn sau khi kết thúc phần trình bày.
d)Tiến hành thuyết trình :
- Thời gian cho mỗi em thuyết trình từ 7-10 phút và mỗi tiết sẽ thực hiện 3
học sinh/3 tổ.

+ Sử dụng dấu hỏi đối với từ láy có dấu sắc và không dấu: sửa sang,
hăm hở, gửi gắm, rải rác, thong thả, mát mẻ, bảnh bao, sắm sửa
Để dễ nhớ, có thể cho học sinh học thuộc quy tắc xử dụng dấu ngữ,
dấu hỏi bằng các câu thơ sau:
Chị Huyền vác nặng ngã đau
Anh Sắc không hỏi một câu được là
- Cung cấp cho học sinh các mẹo về sử dụng dấu ngã và dấu hỏi đối với từ
Hán-Việt:
+Sử dụng dấu ngã khi có phụ âm đầu là: l (dũng, dữ, dưỡng ) , l
(lãm, lãnh, lĩnh, lễ, liễu, lỗi ) , m (mẫu, mã, mẫn, mỹ, miễn ), n, nh, ng,
ngh (não, ngã, ngãi, ngũ, nghĩa, nghĩ, nghiễm ), v (vãng, vỹ, võ, vũ,
võng ).
+Sử dụng dấu hỏi khi có phụ âm đầu là: ch (chuẩn, chỉnh, chuyển,
chưởng ), gi (giải, giả, giảng, giản ), kh (khải, khả, khởi, khuẩn, khẩn, khổ,
khuyển ), và các từ Hán- Việt không có phụ âm đầu như: ải, ảm, ảnh, ảo,
ẩm, ấn, ẩu, ổn, uẩn, ủng, uổng, uỷ, uyển, ỷ, yểm, yểu.
- Ghi nhớ những từ ngữ thường dễ mắc lỗi chính tả thông qua thơ và những
đoạn văn để dễ ghi nhớ. Ví dụ như:
+Từ “tấc” (10 cm) chỉ có một trường hợp và phụ âm cuối là “c”, đọc
là “xê”:
Thước xê (c) thì tấc cũng xê
Tấc xê có một, tấc xê tới mười
+Từ “chặt” phụ âm cuối là “t”, đọc là “tê”:
Chặt là tê, tê mà thôi
Ai mà viết trật là tôi đánh đòn
+Từ “phác” phụ âm cuối là “c”, đọc là “xê”:
Cô C (xê) chất phác hiền lành
Óc luôn phác họa chương trình làm ăn
+Từ “băn khoăn” và “bâng khuâng”:
Băn khoăn ăn nói ngại ngùng

giới, nhất là các đoạn trích có trong chương trình học.
- Trau dồi “lời hay, ý đẹp” trong quá trình giao tiếp, trong rèn luyện dùng từ,
đặt câu trong viết văn.
*Biện pháp thực hiện:
a) Về phía Học sinh:
- Sưu tầm văn thơ.
- Soạn bài theo quy định mỗi khi học bài mới.
- Tìm đọc đầy đủ các tác phẩm văn-thơ đã được học qua các đoạn trích như:
“Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng); “Lão Hạc” (Nam Cao), “Truyện ngắn Nam
Cao”; “Tắt đèn”; “Chiếc lá cuối cùng”; “Cô bé bán diêm”; “Lặng lẽ Sa Pa”
(Nguyễn Thành Long); “Chiếc lược ngà”(Nguyễn Quang Sáng)…Các tập thơ của
các tác giả như: thơ Tố Hữu, thơ Xuân Diệu, thơ Xuân Quỳnh, thơ Huy Cận…Tác
phẩm truyện thơ Nôm như: “Truyện Kiều” (Nguyễn Du); “Lục Vân Tiên” (Nguyễn
Đình Chiểu)…
- Học thuộc lòng các tác phẩm, các đoạn trích theo yêu cầu môn học. Khích
lệ các em học thuộc lòng các truyện thơ Nôm là “Truyện Kiều” và “Lục Vân
Tiên”.
b) Về phía Giáo viên:
- Yêu cầu và kiểm tra thêm Sổ tay sưu tầm văn thơ của học sinh.
- Giáo viên kiểm tra bài cũ phải kiểm tra tập soạn. Có thể giao việc cho các
tổ trưởng và phó học tập kiểm tra và báo cáo việc soạn bài của tổ viên.
Một số Sáng kiến-Kinh nghiệm nhằm giúp học sinh hứng thú với môn Ngữ văn. Trang 5
- Sưu tầm và trang bị cho bản thân những quyển sách cần thiết để phục vụ
cho nhu cầu của việc dạy. Khi yêu cầu học sinh thực hiện thì bản thân giáo viên
phải gương mẫu trong việc sử dụng tốt tư liệu và đồ dùng dạy học.
- Cung cấp cho các em những mẩu chuyện có liên quan đến điển tích, điển
cố, thành ngữ…của các bài học có trong chương trình.
Ví dụ:
- Các tiết “Tổng kết về từ vựng” và “Trau dồi vốn từ” có một số từ ngữ khó
liên quan đến điển tích hay như:

Đố em đọc được câu Kiều năm “cho”?
Đáp:
1-Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
2-Lời quê chắp nhặc dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh
3-Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho dan díu ê chề cho coi
Một số Sáng kiến-Kinh nghiệm nhằm giúp học sinh hứng thú với môn Ngữ văn. Trang 6
4-“Truyện Kiều có mấy ngàn câu
Em mà nói được là người nhớ lâu?”
………………………
4-Câu này có khó gì đâu
Ba hai năm bốn nhớ ngay nói liền!
(3 254 câu)
3.4- Hoạt động về nguồn: “THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ”

Mộ cụ Phan Văn Trị -Phong Điền Chùa Ông –Ninh Kiều
*Nội dung:
- Nắm được nguồn gốc và giới thiệu được các di tích văn hóa-lịch sử của địa
phương.
- Đăng ký chăm sóc, bảo vệ một di tích văn hóa-lịch sử có ở địa phương.
*Mục đích:
- Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần tự hào về các di tích văn
hóa-lịch sử có ở địa phương nói riêng và của nước Việt Nam nói chung.
- Biết đưa những hiểu biết về di tích văn hóa-lịch sử vào các tiết học về
chương trình địa phương phần văn.
- Có ý thức về việc bảo vệ và chăm sóc di tích văn hóa-lịch sử ở địa phương
nói riêng và cả nước nói chung.
*Biện pháp thực hiện:

a) Về phía Học sinh:
- Tóm tắt các văn bản tự sự đã học trong lớp.
- Chuyên cần luyện tập tóm tắt văn bản.
- Hăng hái xung phong trong các giờ luyện nói trên lớp. Mạnh dạn đăng ký
tuyên truyền giới thiệu sách do Thư viện trường, của Phòng GD&ĐT huyện phát
động.
b) Về phía Giáo viên:
- Thực hiện tốt và đầy đủ các giờ luyện nói về tóm tắt văn bản trên lớp.
- Kết hợp với Đoàn-Đội, với Thư viện thường xuyên tổ chức các hoạt động
như: “Phát thanh Măng non”, Kể chuyện Bác Hồ, Kể chuyện “Người tốt-việc tốt”;
tuyên dương “Người thật-việc thật”
- Tham mưu với Thư viện thường xuyên tổ chức các buổi giới thiệu sách
mới của Thư viện; Tuyên truyền giới thiệu sách.
3.6- Hoạt động hỗ trợ: “QUAN TÂM HỌC SINH CÁ BIỆT”
*Nội dung:
-Quan tâm đến học sinh cá biệt.
- Học sinh có học lực yếu-kém.
*Mục đích:
- Nâng cao chất lượng đại trà.
- Giúp các học sinh yêu thích bộ môn
văn.
*Biện pháp thực hiện:
- Trước tiên, tôi lập danh sách những
em học yếu kém và không chịu học.
- Trong quá trình giảng dạy, tôi đặc biệt quan tâm đến các em thông qua các
việc làm đơn giản và cụ thể như: yêu cầu các em đọc bài, gọi các em phát biểu và
Một số Sáng kiến-Kinh nghiệm nhằm giúp học sinh hứng thú với môn Ngữ văn. Trang 8
trả lời những câu hỏi với kiến thức đơn giản, phù hợp với năng lực của các em. Các
em được gọi kiểm tra bài cũ nhiều lần so với học sinh khá giỏi.
- Nếu các em không thuộc bài lần đầu, có thể cho các em kiểm tra bài cũ ở

phong cách cũng trở nên chững chạc hơn.
- Trong giờ ra chơi, các em thích đến thư viện để tranh thủ đọc sách báo. Kết
quả của tuyên truyền giới thiệu sách mỗi năm đều có học sinh tham gia và được
công nhận.
- Việc tham quan học tập ngoại khóa cũng được học sinh đăng ký nhiều hơn.
- Các cuộc thi do Huyện đoàn triển khai, phát động đều được các em tham
gia đầy đủ như: viết thư UPU, Nét bút tri ân…
- Các em đã bắt đầu tham gia viết báo (Có 2 bài viết của 2 học sinh được
đăng trên đặc san Tây Đô của Sở GD&ĐT Cần Thơ.
Một số Sáng kiến-Kinh nghiệm nhằm giúp học sinh hứng thú với môn Ngữ văn. Trang 9
Minh chứng của các việc làm trên là các em đã chịu học đăng ký thi Học
sinh giỏi bộ môn Ngữ văn đạt 04/04 cấp huyện và 01/01 khuyến khích cấp thành
phố. Chất lượng cuối năm đạt được như sau:
LỚP SĨ SỐ GIỎI KHÁ T.BÌNH YẾU KÉM
9A1 38 07 11 20 / /
9A2 42 03 07 32 / /
TC: 80 03 13 55 08 01
III-KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
*Bài học kinh nghiệm:
- Sự thành công hay thất bại có những yếu tố khác quan những cái chính vẫn
là do bản thân quyết định. Vì vậy khi đã làm việc gì thì phải cố gắng, kiên trì nhẫn
nại để thực hiện đến cùng những điều mình đã vạch ra. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện các công việc trên phải biết linh động và áp dụng theo đặc điểm của từng
lớp.
- Sau hoạt động cần có sự ghi nhận, tổng kết và đánh giá để rút kinh nghiệm.
- Thực hiện thường xuyên và không ngừng cải tiến cho phù hợp với đặc
điểm tình hình của môi trường giáo dục, của địa phương…(việc bảo vệ và chăm
sóc di tích lịch sử, di tích văn hóa…).
- Phối hợp và trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp trong quá trình thực
hiện.

3- Những điển tích hay trong Truyện Kiều (Tác giả Phạm Đan Quế-sưu tầm và
biên soạn).
Ý kiến đánh giá, nhận xét: Ngày 25 tháng 10 năm 2011
Giáo viên thực hiện
Một số Sáng kiến-Kinh nghiệm nhằm giúp học sinh hứng thú với môn Ngữ văn. Trang 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status