Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
2.Mục đích nghiên cứu 1
CHƯƠNG 1 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY
LẮP 3
1.1.2.Yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý, hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây lắp 4
1.2. Những vấn đề lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây lắp 5
1.2.1.Chi phí sản xuất và phân loại CPSX 5
CHƯƠNG 2 27
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH
VIÊN SÔNG MÃ 27
CHƯƠNG 3 81
MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
KẾ TOÁN TẬP HỢP CHO PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN SÔNG MÃ 81
KẾT LUẬN 92
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 1 Học Viện Ngân Hàng
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở
Đối tượng nghiên cứu là công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm với phạm vi nghiên cứu tại công ty TNHH Một thành viên
Sông Mã trong năm 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp nghiên cứu. Bên cạnh những
phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử còn sử dụng các phương pháp như: thống kê, so sánh, lượng hóa, phân tích,
tổng hợp. Đồng thời sử dụng các bảng biểu và các biểu đồ nhằm đưa ra những
kết luận đáng tin cậy cho đề tài.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp xây lắp
Chương 2 : Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty TNHH một thành viên Sông Mã
Chương 3 : Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH một thành viên Sông
Mã.
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 3 Học Viện Ngân Hàng
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Cơ sở lý luận về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.1. Đặc điểm sản xuất xây lắp và ảnh hưởng của nó đến công tác hạch
toán kế toán của đơn vị xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công
nghiệp nhằm tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Một bộ phận
lớn của nền kinh tế quốc dân, của quỹ tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước
công xây dựng được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn được
chia thành nhiều công việc khác nhau …
Từ những đặc điểm trên đây, đòi hỏi công tác kế toán vừa phải đáp ứng
những yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán một Doanh nghiệp sản
xuất vừa phải đảm bảo phù hợp đặc trưng riêng của ngành XDCB nhằm cung
cấp thông tin chính xác, kịp thời, cố vấn cho lãnh đạo cho việc tổ chức quản lí để
đạt hiệu quả cao trong sản xuất- kinh doanh của Doanh nghiệp.
1.1.2. Yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý, hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây lắp
1.1.2.1. Yêu cầu quản lý đối với công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp
XDCB là ngành sản xuất tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc
dân, hàng năm chiếm trên dưới 30% vốn đầu tư của cả nước. Hiện nay, khối
lượng XDCB của ngành tăng nhanh và song song với nó là vốn đầu tư XDCB
cũng tăng nhanh. Ở nước ta trong nhiều năm qua, do việc quản lý vốn đầu tư
trong lĩnh vực XDCB chưa thật chặt chẽ đã để xảy ra tình trạng thất thoát vốn
đầu tư và kéo theo đó là hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng khác. Từ thực trạng
đó, Nhà nước đã thực hiện quản lí xây dựng thông qua việc ban hành các chế độ,
chính sách về giá, các nguyên tắc các phương pháp lập dự toán, các căn cứ định
mức kinh tế - kĩ thuật…Từ đó xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công
trình nhằm hạn chế sự thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước, nâng cao hiệu quả
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 5 Học Viện Ngân Hàng
cho quá trình đầu tư.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu tư của các Doanh
nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp xây lắp nói riêng là tối đa hoá lợi
nhuận. Muốn như vậy các doanh nghiệp cần phải tăng cường quản lý kinh tế mà
trước hết là quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
1.1.2.2. Nhiệm vụ của công tác quản lý hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kì nhất định.
Nếu xét ở một phạm vi hẹp hơn, chi phí sản xuất trong XDCB là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cùng các chi
phí khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất trong một thời kì nhất
định.
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Trong XDCB, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có nội dung kinh tế,
công dụng và yêu cầu quản lí đối với từng loại khác nhau. Việc quản lí chi phí
không chỉ dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng
loại chi phí theo từng công trình, hạng mục công trình. Do đó, phân loại chi phí
sản xuất là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm.
a) Theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp
- Nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật
liệu chính ( gạch, cát, xi măng, sỏi, đá…), vật liệu phụ (đinh, sơn, ve, phụ
gia…), phụ tùng thay thế, thiết bị XDCB…
- Tiền lương và các khoản khoản trích theo lương của các công nhân sản
xuất trong kì.
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp:
tính theo tỷ lệ quy định trên tổng sô lương và phụ cấp theo lương.
- Chi phí dịch mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi trả về các
loại các loại dịch mua ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại… phục vụ cho
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ các chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
ngoài chi phí kể trên.
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 7 Học Viện Ngân Hàng
Cách phân loại này là cơ sở để lập Báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố trên
Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, xây dựng định mức Vốn lưu động, lập kế
XDCB là dự toán được lập cho từng đối tượng theo các khoản mục giá thành nên
cách phân loại chi phí theo khoản mục là phương pháp sử dụng phổ biến trong
các Doanh nghiệp XDCB.
Trên đây là các cách phân loại chi phí sản xuất thường dùng trong doanh
nghiệp XDCB, ngoài ra chi phí sản xuất còn được phân loại thành: Định phí và
biến phí, chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp…
c) Theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành
Theo cách phân loại này chi phí được chia thành:
- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thau đổi về tổng số khi có
sự thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp
- Chi phí bất biến (định phí): là những chi phí không thay đổi về tổng số
khi có sự thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp
- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của
định phí và biến phí.
Việc phân loại này là căn cứ để xác định điểm hòa vốn, giúp nhà quản lý sử
dụng có hiệu quả hơn.
d) Theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành hai loại:
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí.
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế
toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối
tượng tập hợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi
chúng phát sinh, sau đó phân bổ cho từng đối tượng.
Cách phân loại này giúp ích rất nhiều trong kỹ thuật hạch toán và các báo
cáo quản trị.
e) Theo dự toán
Để lập dự toán công trình người ta phân loại chi phí sản xuất thành các
khoản sau: chi phí xây lắp, chi phí mua sắm, chi phí khác và chi phí dự phòng.
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 10 Học Viện Ngân Hàng
sản phẩm xây lắp phẩm xây lắp
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây dựng trên cơ sở những
điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức đơn giá, biện pháp thi công
Giá thành kế hoạch được xác định theo công thức :
Giá thành kế hoạch
sản phẩm xây lắp
=
Giá thành dự toán
sản phẩm xây lắp
-
Mức hạ giá
thành kế hoạch
- Giá thành thực tế: Là biểu hiện bằng tiền của những chi phí thực tế để
hoàn thành khối lượng xây lắp. Căn cứ vào kết quả đánh giá sản phẩm dở dang
cuối kì, chi phí sản xuất được tập hợp trong kỳ.
Thực tế cho thấy, muốn đánh giá được chất lượng của công tác xây lắp, ta
phải tiến hành so sánh các loại giá thành với nhau. Nói chung, để đảm bảo có lãi,
về nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giá thành và tổ chức thực hiện kế hoạch giá
thành phải đảm bảo mối quan hệ sau:
Giá thành thực tế < Giá thành kế hoạch < Giá thành dự toán
b) Căn cứ vào phạm vi tính giá thành
- Giá thành sản phẩm hoàn chỉnh: Là giá thành của các công trình, hạng
mục công trình đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu kĩ thuật, chất lượng theo thiết kế,
hợp đồng được Chủ đầu tư chấp nhận thanh toán.
- Giá thành công tác xây lắp hoàn thành quy ước: Là giá thành của khối
lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải đảm bảo điều kiện :
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng qui định.
+
Chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Chi phí sản
xuất dở dang
cuối kỳ
1.3. Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.1. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.3.1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp
chi phí nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí hay xác định nơi phát sinh chi phí và
nơi chịu chi phí.
Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí cần căn cứ vào
các yếu tố sau:
+ Đặc điểm và công dụng của chi phí trong qúa trình sản xuất
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 12 Học Viện Ngân Hàng
+ Đặc điểm, cơ cấu tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ, chế tạo
sản phẩm (giản đơn hay phức tạp, liên tục hay song song…).
+ Loại hình sản xuất sản phẩm (đơn chiếc hay hàng loạt… ).
+ Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kế toán nội
bộ Doanh nghiệp.
+ Khả năng trình độ quản lí nói chung và hạch toán nói riêng của
Doanh nghiệp.
trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nên độ chính xác cao hơn.
+ Phương pháp phân bổ gián tiếp:
Phương pháp này áp dụng khi một loại chi phí có liên quan đến nhiều đối
tượng kế toán toán tập hợp chi phí sản xuất (CPSX), không thể tập hợp trực tiếp
cho từng đối tượng. Trường hợp này phải lựa chọn tiêu thức hợp lý để tiến hành
phân bổ chi phí cho từng đối tượng liên quan theo công thức :
Ci = (C/ Ti )x ti
Trong đó: - Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ i.
- C: Tổng chi phí sản xuất cần phân bổ.
- Ti: Tổng đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ .
- ti: Đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ của đối tượng i
1.3.1.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong Doanh nghiệp xây lắp
Trong các Doanh nghiệp sản xuất nói chung có hai phương pháp quản lý
hàng tồn kho là:
- Phương pháp kê khai thường xuyên
- Phương pháp kiểm kê định kì
Nhưng đối với các doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm sản phẩm, ngành
nghề riêng biệt: Các sản phẩm xây lắp thường mang tính đơn chiếc với quy mô
lớn, quy trình công nghệ phức tạp nên theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC ban hành
ngày 20/03/2006 về chế độ kế toán áp dụng cho tất cả mọi doanh nghiệp thuộc
mọi lĩnh vực mọi thành phần kinh tế trong cả nước, đối với hoạt động kinh
doanh xây lắp về cơ bản chỉ hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên, không áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ.
a) Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 14 Học Viện Ngân Hàng
- Chứng từ sử dụng: Hóa đơn GTGT, Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho…
- Tài khoản sử dụng: Để phản ánh CPNVLTT, kế toán sử dụng TK 621-
“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”. TK này được sử dụng để tập hợp các chi phí
GTGT
khấu trừ
Cuối kỳ kết chuyển
Phế liệu thu hồi, vật liệu dùng không hết
nhập lại kho
Khóa luận tốt nghiệp 15 Học Viện Ngân Hàng
chuẩn bị thi công và thu dọn công trường …
- Căn cứ vào các chứng từ có liên quan, kế toán hạch toán toàn bộ các
nghiệp vụ phát sinh liên quan đến CPNCTT theo sơ đồ 1.2.
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
c) Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
- Chứng từ sử dụng: Hóa đơn GTGT, Phiếu xuất khO, Giấy tạm ứng…
- Tài khoản sử dụng: Để phán ánh chi phí liên quan đến máy thi công, kế
toán sử dụng TK 623 – “Chi phí sử dụng máy thi công”. TK này được dùng để
tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt
động xây lắp theo phương pháp thi công hỗn hợp.
Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn
bằng máy thì toàn bộ chi phí về sử dụng máy thi công được hạch toán trực tiếp
vào CPNVLTT, CPNCTT và CPSXC. Mặt khác, các khoản theo lương công
nhân sử dụng máy thi công và tiền ca cũng không hạch toán vào TK này mà
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
TK 334
TK 335
TK 141
TK 622 TK 154
Tiền lương phải trả CNSX
Trích trước tiền lương
nghỉ phép của CNSX
TK 133
Chi phí khấu hao xe, máy thi công
Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 133
Thuế
GTGT
kháu
trừ
Thuế GTGT
khấu trừ
Kết chuyển hoặc
phân bổ CPSDMTC
TK 632
Chi phí vượt trên mức
bình thường
Khóa luận tốt nghiệp 17 Học Viện Ngân Hàng
- Tài khoản sử dụng: Để tập hợp CPSXC, kế toán sử dụng TK 627- “Chi
phí sản xuất chung”. Tài khoản này dùng để phản ánh CPSX của đội, công
trường xây dựng gồm: Lương nhân viên quản lý đội xây dựng, các khoản trích
theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất và của nhân viên quản lý đội như:
BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, khấu hao TSCĐ, các chi phí khác dùng cho hoạt
động của tổ, đội.
TK này có thể được mở chi tiết cho từng công trình, từng đội thi công, từng
bộ phận và được mở các TK cấp 2 theo yếu tố chi phí .
- Quy trình hạch toán được thể hiện qua sơ đồ 1.4 sau :
Sơ đồ 1.4: Kế toán chi phí sản xuất chung
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
TK 632
Sơ đồ 1.5: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
g) Đánh giá sản phẩm dở dang trong Doanh nghiệp xây lắp
Sau khi tổng hợp chi phí để tính giá thành phải xác định giá trị sản phẩm
xây lắp dở dang. SPDD trong Doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình, hạng
mục công trình chưa hoàn thành hay khối lượng xây lắp chưa được bên Chủ đầu
tư nghiệm thu hoặc chấp nhận thanh toán.
Đánh giá SPDD cuối kỳ là tính toán, xác định phần CPSX mà SPDD cuối
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
TK 154TK 621
TK 622
TK 623
TK 627
Cuối kỳ kết chuyển hoặc phân bổ
Cuối kỳ kết chuyển hoặc phân bổ
Cuối kỳ kết chuyển
Cuối kỳ kết chuyển
TK 152
Phế liệu thu hồi, vật
liệu thừa nhập kho
TK 155, 632
KLXL hoàn thành hoặc
bàn giao
Khóa luận tốt nghiệp 19 Học Viện Ngân Hàng
kỳ phải gánh chịu. Việc đánh giá chính xác SPDD cuối kỳ là điều kiện quan
KLXL dở dang đầu
kỳ
Chi phí thực tế
của KLXL dở
dang đầu kỳ
Chi phí của KLXL
hoàn thành bàn giao
theo dự toán
Chi phí của KLXL dở
dang cuối kỳ theo dự
toán
Chi phí của
KLXL dở dang
cuối kỳ theo dự
toán
+
x
Khóa luận tốt nghiệp 20 Học Viện Ngân Hàng
1.3.2. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.2.1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
Để đo lường hiệu quả hoạt động của mình, các Doanh nghiệp phải xác
định đúng, đủ, chính xác giá thành sản phẩm và công việc đầu tiên là xác định
được đúng đối tượng tính giá thành.
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm (lao vụ, dịch vụ) do Doanh
nghiệp sản xuất ra cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Với đặc điểm riêng có của mình, đối tượng tính giá thành sản phẩm trong
XDCB trùng với đối tượng tập hợp CPSX. Do vậy đối tượng tính giá thành sản
phẩm xây lắp là từng công trình, hạng mục công trình…
1.3.2.2. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp
sản phẩm dở dang đã xác định, giá thành sản phẩm tính cho từng khoản mục chi
phí theo công thức sau:
Z = D
dk
+ C - D
CK
Trong đó :
D
dk
: Trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ.
C : Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
D
ck
: Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau
nhưng cùng thi công trên một địa điểm do một công trình sản xuất đảm nhận
nhưng không có điều kiện theo dõi việc sử dụng các loại chi phí khác nhau cho
từng hạng mục công trình thì từng loại chi phí đã được tập hợp trên toàn
công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng hạng mục công trình. Khi đó,
giá thành thực tế của từng hạng mục công trình sẽ là:
Ztt = Gdti H
Trong đó:
H là tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế
H =
∑C : tổng chi phí thực tế của các công trình
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 22 Học Viện Ngân Hàng
∑ Gdt : tổng dự toán của tất cả các công trình
∑ Gdti : giá trị dự toán của hạng mục công trình
các Doanh nghiệp thoả mãn điều kiện sau:
- Phải tính được giá thành định mức trên cơ sở các định mức và đơn giá
tại thời điểm tính giá thành.
- Chỉ ra một cách chính xác các thay đổi định mức trong quá trình thực
hiện thi công công trình.
- Xác định được các chệnh lệch so với định mức và nguyên nhân gây
ra chênh lệch đó.
Sinh viên: Lê Thúy Nga Lớp KTDNB- K11
Khóa luận tốt nghiệp 23 Học Viện Ngân Hàng
Cuối cùng, giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp được xác định theo công
thức:
Giá thành
thực tế của SP
xây lắp
=
Giá thành
định mức
±
Chênh lệch
do thay đổi
định mức
±
Chênh lệch
do thoát ly
định mức
Trong đó, giá thành định mức của sản phẩm được xác định căn cứ vào định
mức kinh tế, kỹ thuật hiện hành; chênh lệch định mức là số chênh lệch do thoát
ly định mức; thay đổi định mức là do định mức kỳ này so với kỳ trước.
Chênh lệch do thoát ly = Chi phí thực tế - Chi phí định mức
Nhật ký – sổ cái Bảng tính giá
thành
Nhật ký – sổ cái
Báo cáo tài chính
Chứng từ gốc
Sổ nhật ký
đặc biệt
Sổ cái các tài
khoản
Sổ chi tiết tài
khoản
Bảng tính giá
thành sản
phẩm
Bảng cân đối số
phát sinh
Báo cáo tài chính
Nhật ký chung