Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
B iểu đồ 1 : Cam kết, ký kết và giải ngân thời kỳ 2006-2010 Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2: Tỷ lệ nguồn ODA ký kết cho từng lĩnh vực thuộc hệ thống Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3: Tỷ lệ nguồn ODA giải ngân cho từng lĩnh vực thuộc hệ thống Error:
Reference source not found
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Ban QLDA Ban quản lý dự án
EU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
GPMB Giải phóng mặt bằng
GTVT Giao thông vận tải
LHQ Liên hợp quốc
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
UNICEF Qũy nhi đồng Liên hiệp quốc
USD Đô la Mỹ
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn ODA tại Viện
Chiến lược phát triển trong thời gian tới.
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
4
Chuyên đề tốt nghiệp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc quản lý nguồn vốn ODA tại Viện Chiến lược phát
triển.
- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn vốn ODA Viện Chiến lược phát triển từ năm 2003
đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, với việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… Các phương pháp này
được sử dụng kết hợp hoặc riêng rẽ trong quá trình nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Hệ thống hoá lý luận về vốn ODA và khẳng định vai trò của nguồn vốn ODA
đối với việc phát triển kinh tế - xã hội.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng, những kết quả và bài học kinh nghiệm trong
quản lý nguồn vốn ODA tại Viện Chiến lược phát triển thời gian qua, từ đó đề
xuất những định hướng, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn
ODA tại Viện Chiến lược trong thời gian tới.
6. Tên và kết cấu chuyên đề.
- Tên luận văn: "Quản lý vốn hỗ trợ chính thức (ODA) trong việc phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế tại Viện Chiến lược phát triển: Thực trạng và giải pháp”
- Kết cấu: Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về quản lý nguồn vốn ODA cấp nhà nước.
Chương 2: Thực trạng về vấn đề quản lý nguồn vốn ODA trong việc phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế tại Viện Chiến lược phát triển.
Chương 3: Giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý vốn ODA trong việc phát
Chính phủ một nước (thường là nước đang phát triển). Bộ phận chính của nguồn
vốn ODA là vốn vay ưu đãi, Chính phủ nước nhận tài trợ (vay nợ) phải thực hiện
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
nghĩa vụ hoàn trả nợ trong tương lai.
1.1.2 Đặc điểm nguồn vốn ODA
a. ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển
Từ khái niệm về ODA chúng ta đã thấy: ODA là hình thức hợp tác phát triển
của Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển
hoặc chậm phát triển thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại và/hoặc các
khoản cho vay với điều kiện ưu đãi.
Ngoài ra, bên viện trợ thông qua các khoản cho vay ưu đãi/các khoản viện trợ
không hoàn lại sẽ cung cấp cho bên được viện trợ hàng hóa, chuyển giao khoa học -
kỹ thuật, cung cấp dịch vụ …
Ngược lại, bên được viện trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển có điều
kiện bổ sung nguồn vốn còn thiếu, sử dụng vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống… tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh
tế phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.
b. ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi
Với mục tiêu hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển,
ODA mang tính ưu đãi hơn bất kỳ hình thức tài trợ nào khác. Tính chất ưu đãi của
nguồn vốn này được thể hiện qua những ưu điểm sau:
- Lãi suất thấp:
Các khoản vay ODA thường có mức lãi suất rất thấp, ví dụ như lãi suất các
khoản vay ODA của Nhật Bản dao động từ 0,75 – 2,3% năm; của Ngân hàng Thế
giới (WB) là 0%/năm nhưng phải trả phí dịch vụ là 0,75%/năm; mức lãi suất của
Ngân hàng Phát triển Châu Á thường từ 1-1,5%/năm…
- Thời hạn vay dài:
Gắn với mức lãi suất tín dụng thấp, ODA có thời gian vay dài, như các khoản vay
Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện vay ưu đãi như vậy Chính phủ mới có thể
tập trung đầu tư cho các dự án hạ tầng kinh tế lớn như xây dựng đường xá, điện,
nước, thuỷ lợi, cảng, và các dự án hạ tầng xã hội như giáo dục y tế, có thời gian
hoàn vốn lâu và tỷ lệ hoàn vốn thấp.
Thứ hai, ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ cho đất nước và bù đắp cán cân
thanh toán. Hiện nay ở một số nước ASEAN, tỷ lệ tiết kiệm nội địa khá cao từ 35-
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
40% GDP, song tại các nước này vẫn có thâm hụt cán cân vãng lai. Vốn ODA vào
các nước này là nguồn bù đắp quan trọng cho cán cân vãng lai. Trong điều kiện
đồng tiền nội tệ không có khả năng tự do chuyển đổi thì một dự án nếu đã chuẩn bị
đủ 100% vốn đầu tư bằng nguồn vốn trong nước nhưng nếu nhu cầu chuyển đổi tiền
nội tệ ra ngoại tệ để nhập khẩu trang thiết bị cho dự án không được đáp ứng đầy đủ
thì chắc chắn dự án không khả thi. Như vậy, số tiền tiết kiệm nội địa không thể
chuyển thành đầu tư. Trường hợp của Việt Nam, vừa thiếu hụt cán cân tiết kiệm -
đầu tư, vừa thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai, nên vốn ODA vào Việt Nam cùng
một lúc phát huy hai tác dụng.
Thứ ba, các dự án sử dụng vốn vay ODA thường đòi hỏi áp dụng công nghệ
tiên tiến, có chất lượng cao và phương thức quản lý tiên tiến. Từ năm 1993, khi vốn
ODA bắt đầu vào Việt Nam đến nay, rất nhiều cán bộ Việt Nam có điều kiện tiếp
cận và hiểu biết các quy trình công nghệ mới trong các lĩnh vực cầu, đường,
điện v.v Các cán bộ quản lý dự án, các cán bộ công chức của Chính phủ làm quen
dần và ngày càng hiểu rõ hơn các quy tắc tổ chức đấu thầu quốc tế, giải ngân và
quản lý thực hiện dự án. Có thể nói các dự án phát triển là các cơ sở thử nghiệm cho
các ý tưởng hay khái niệm mới đối với một số nước, chứng minh cho Chính phủ
hoặc nhân dân của các nước đó thấy được tác dụng của những công việc như thầu
khoán các dịch vụ công cộng, vận động các nhóm những người hưởng lợi từ dự án
tham gia vào công tác quản lý vv
Dự án ODA cũng có thể giúp phá vỡ những quan điểm trói buộc khu vực
Thứ ba, các khoản vay ODA gắn với chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp
của nước tài trợ nên thông thường có sự ràng buộc của Nhà tài trợ trong việc lựa
chọn dự án, thuê tư vấn, chọn nhà thầu, nhà cung ứng hàng hoá thiết bị cho dự án.
Do đó, giá cả trong các hợp đồng sử dụng vốn ODA thường cao hơn các hợp đồng
cùng loại theo hình thức thương mại thông thường. Cá biệt có trường hợp mức
chênh lệch giá nói trên đến 30%. Hơn nữa vốn ODA khi đã được chỉ định cho một
số dự án nhất định thì việc thay đổi quy mô dự án hoặc điều chuyển vốn từ dự án
này sang dự án khác là rất khó khăn hoặc không thể thực hiện được, đặt nước đi vay
vào tình thế hoặc chấp nhận dự án hoặc không được vay.
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ tư, thủ tục để sử dụng được vốn vay ODA thường là phức tạp và mất
nhiều thời gian để dự án được chấp thuận. Vì vậy, các dự án chuẩn bị để sử dụng
vốn ODA thường phải thay đổi Nghiên cứu khả thi do thời gian từ khi xây dựng
Nghiên cứu khả thi ban đầu đến khi được Nhà tài trợ thẩm định cách nhau khá xa.
Ngoài ra, các chi phí khác như chi quản lý dự án, giải phóng mặt bằng của các dự
án ODA cũng cao hơn các dự án cùng loại sử dụng vốn trong nước do Nhà tài trợ
can thiệp trực tiếp vào các quy trình này.
1.1.3 Phân loại nguồn vốn ODA
a. Theo phương diện các tổ chức tài trợ
Theo phương diện các tổ chức tài trợ thì vốn ODA được chia thành 2 loại đó
là vốn ODA song phương và vốn ODA đa phương.
- ODA song phương: Là viện trợ phát triển chính thức của chính phủ nước này
dành cho chính phủ nước kia.
- ODA đa phương: Là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế (như
Ngân hàng phát triển châu Á, liên minh châu Âu, Ngân hàng thế giới,…) hoặc
của chính phủ một nước dành cho chính phủ nước khác nhưng được thực hiện
thông qua các tổ chức đa phương như Chương trình phát triển liên hiệp quốc
(UNDP) hay Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF),…
ưu đãi của các khoản viện trợ được thể hiện ở những mặt sau.
• Lãi suất thấp: Lãi suất áp dụng cho các khoản vay tín dụng ưu đãi của WB là
0.75%/năm, của ADB là 1%/năm, của Nhật Bản dao động trong khoảng
0.75-2.3%/năm,…
• Thời hạn vay dài: Nhật cho Việt Nam vay trong 30 năm, Ngân hàng thế giới
cho Việt nam vay trong 40 năm,…
• Thời gian ân hạn (thời gian từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên) dài:
ADB, Nhật Bản cho Việt Nam thời gian ân hạn 10 năm,…
d. Theo điều kiện
Theo điều kiện vay vốn thì vốn ODA được chia thành 2 loại đó là vốn vay ODA
không có điều kiện và vốn vay ODA điều kiện.
- Không điều kiện: Nước nhận tài trợ không bị ràng buộc gì hết, và toàn quyền sử
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
dụng nguồn vốn đó và bất kỳ lĩnh vực nào hay khu vực nào.
- Có điều kiện: Nước nhận tài trợ phải bắt buộc chi tiêu ở cấp, ở lĩnh vực viện trợ.
Và bị ràng buộc mục đích sử dụng.
e. Theo hình thức viện trợ
Theo hình thức viện trợ vốn ODA được chia thành 4 loại đó là hình thức hỗ trợ
cán cân thanh toán, tín dụng thương mại, viện trợ chương trình, hỗ trợ dự án.
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp nhưng đôi khi
cũng có thể là hiện vật thông qua hỗ trợ hàng hóa hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại
tệ hoặc hàng hóa chuyển vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán
có thể được chuyển hóa thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi hàng hóa
nhập vào nhờ hình thức này được bán trên thị trường trong nước, và số thu nhập
bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính phủ.
- Tín dụng thương mại: ODA có thể thực hiện dưới dạng tín dụng thương mại với
các điều khoản mềm như lãi suất thấp, hạn trả dài,…
- Viện trợ chương trình: Hay còn gọi là hỗ trợ phi dự án, là viện trợ khi đạt được
năm sau, trong 5 năm sau ) và lên các kế hoạch hành động.
- Tổ chức: Sử dụng một cách tối ưu nguồn vốn ODA được yêu cầu để thực hiện
kế hoạch.
- Bố trí nhân lực: Phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho
từng công việc thích hợp.
- Lãnh đạo/ Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt
được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức).
- Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch có
thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra).
1.2.2 Nội dung quản lý nguồn vốn ODA cấp nhà nước
Đối với các cơ quan cấp nhà nước việc quản lý nguồn vốn ODA theo những
nội dung sau:
- Cung cấp cơ sở pháp lý cho việc quản lý và thực hiện dự án ODA: Đưa ra các hệ
thống, văn bản luật, nghị định, thông tư hướng dẫn.
- Quyết định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thu hút và sử dụng ODA cho từng
thời kỳ, tạo định hướng cho việc đầu tư các dự án ODA.
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
- Thẩm định và phê duyệt các dự án ODA.
- Xây dựng, vận hành và hoàn thiện hệ thống thông tin theo dõi, đánh giá các
chương trình dự án ODA; tạo điều kiện chia sẻ thông tin và khai thác có hiệu
quả hệ thống này.
- Bố trí đầy đủ, kịp thời vốn chuẩn bị chương trình, dự án ODA và vốn đối ứng
chuẩn bị thực hiện và thực hiện các chương trình, dự án đã ký kết.
- Chỉ đạo, đôn đốc, hỗ trợ các đơn vị trực thuộc xác định, chuẩn bị, quản lý, thực
hiện có hiệu quả các chương trình, dự án ODA.
- Kiểm tra, đánh giá tình hình, hiệu quả thực hiện các dự án: Xây dựng, kiện toàn
hệ thống theo dõi, đánh giá chương trình, dự án ODA trong ngành, địa phương
mình; kịp thời giải quyết các vướng mắc, khó khăn của chương trình, dự án
hành phát triển dựa trên việc tăng cường và sử dụng nguồn vốn trong nước tiết kiệm
được đồng thời hạn chế tối thiểu vay nợ nước ngoài là những nước đã đạt được kết
quả phát triển tốt và bền vững. Trái lại, một số nước đang phát triển trông cậy quá
nhiều vào viện trợ tài chính của nước ngoài, đặc biệt là các khoản vay nợ, hiện vẫn
đang nằm trong danh sách những nước mất cân đối và lệ thuộc vào nước ngoài.
Trong xu hướng phát triển hiện nay, toàn cầu hoá là một xu hướng không thể
tránh khỏi, các nước phát triển hay các nước đang phát triển cũng đều muốn thúc
đẩy quá trình này vì về bản chất nó đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia. Nếu xem
xét một cách cụ thể, các nước đang phát triển đều phải trả giá cho tiến trình hội
nhập vì đều phải chấp nhận các điều kiện để được nhận viện trợ. Các điều kiện này
đôi khi không thể thực hiện được hoặc nếu thực hiện được thì hậu quả về mặt xã hội
mà nó gây ra còn to lớn hơn lợi ích mà nó mang lại. Có các yêu sách để viện trợ đi
ngược lại với lợi ích quốc gia hoặc không phù hợp với đường lối phát triển kinh tế
của quốc gia đó. Chính điều này đã khiến chính phủ nhiều nước từ chối các khoản
viện trợ do sức ép từ bên trong.
Với các lý do nêu trên, các nước đang phát triển luôn phải cân nhắc để vừa
có thể tận dụng tối đa các nguồn viện trợ lại không bị rơi vào nguy cơ lệ thuộc. Các
nước đang phát triển phải có những phương thức quản lý với những chính sách
mềm dẻo và linh hoạt để tranh thủ tối đa các nguồn viện trợ không hoàn lại đồng
thời sử dụng có hiệu quả nhất các khoản vay.
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
16
Chuyên đề tốt nghiệp
Các nước đang phát triển cần chọn lọc đúng các dự án có hiệu quả kinh tế,
đảm bảo hoàn vốn để có thể xây dựng lộ trình trả nợ hợp lý. Đồng thời đẩy mạnh
các hình thức đầu tư khác nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu thu
ngoại tệ để trả nợ vì đôi khi lãi suất vay thấp không đủ để bù lại những thiệt hại do
sự thay đổi tỷ giá.
Do nguồn vốn ODA có tính 2 mặt, nên nó đòi hỏi các nước sử dụng, hay cụ
thể là các đơn vị sử dụng phải tính toán, cân nhắc để đưa ra những quyết định đúng
trung đầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực thể chế. Chính phủ Ba Lan cho rằng,
giao việc thực hiện dự án ODA cho các bộ phận hành chính là không thích hợp.
Cơ sở luật pháp rõ ràng và chính xác trong toàn bộ quá trình là điều kiện để
kiểm soát và thực hiện thành công các dự án ODA. Ba Lan đề cao hoạt động phối
hợp với đối tác viện trợ.
Ở Ba Lan, các nguồn hỗ trợ được coi là “quỹ tài chính công”. Việc mua sắm
tài sản công phải tuân theo Luật mua sắm công và theo những quy tắc kế toán chặt
chẽ. Quá trình giải ngân khá phức tạp nhằm kiểm soát đồng tiền được sử dụng đúng
mục đích. Trong đó, nhà tài trợ có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thiết lập hoặc sửa
đổi hệ thống thể chế và hệ thống luật pháp. Cơ quan chịu trách nhiệm gồm có các
Bộ, một số cơ quan Chính phủ, trong đó Bộ Phát triển đóng vai trò chỉ đạo.
Ba Lan đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát và kiểm toán. Công tác kiểm
toán tập trung vào kiểm toán các hệ thống quản lý. Trong đó chịu trách nhiệm gồm
có kiểm toán nội bộ trong mỗi cơ quan, các công ty kiểm toán nước ngoài được
thuê, và các dịch vụ kiểm toán của Ủy ban châu Âu. Khi công tác kiểm toán phát
hiện có những sai sót, sẽ thông báo các điểm không hợp lệ cho tất cả các cơ quan.
Công tác kiểm soát tập trung vào kiểm tra tình hình hợp pháp và tính hợp
thức của các giao dịch, kiểm tra hàng năm và chứng nhận các khoản chi tiêu, kiểm
tra cuối kỳ, kiểm tra bất thường.
Chính phủ Ba Lan cho rằng, kiểm tra và kiểm toán thường xuyên không phải để
cản trở mà là để thúc đẩy quá trình dự án.
c. Kinh nghiệm của Malaysia : Phối hợp chặt chẽ với nhà tài trợ cùng kiểm tra đánh giá
Ở Malaysia, vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn
phòng Kinh tế Kế hoạch. Vốn ODA được đất nước này dành cho thực hiện các
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
dự án xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân.
Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Malaysia là cơ quan lập kế hoạch ở cấp Trung
ương, chịu trách nhiệm phê duyệt chương trình dự án, và quyết định phân bổ ngân
16%/năm trong năm 1981, trong khi đó giá hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của
các nước đang phát triển giảm đột ngột, cụ thể là mức giá năm 1981 giảm 14,6% so
với năm 1980, năm 1982 giảm 12% so với năm 1981. Lãi suất tăng đột ngột làm
cho nghĩa vụ trả nợ của các nước đang phát triển tăng, ngược lại giá hàng xuất khẩu
giảm làm cho nguồn thu ngoại tệ giảm không đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ. Ngoài
ra, nguyên nhân chủ quan nằm trong chính sách vay và sử dụng vốn của Mexico
trực tiếp làm cho Mexico rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Trong 3 thập kỷ 40, 50, 60 kinh tế Mexico đạt mức tăng trưởng khá. Đến
những năm 70 và đầu những năm 1980 Chính phủ khuyến khích phát triển công
nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu. Nguồn vốn để
tài trợ cho chính sách công nghiệp này là sử dụng nguồn thu từ dầu mỏ, tăng mức
bội chi ngân sách, và đẩy mạnh vay nợ nước ngoài. Năm 1982, thâm hụt ngân sách
của Mexico đạt mức 18% GNP. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do bội chi
ngân sách lớn, cán cân thương mại thâm hụt, tổng số nợ nước ngoài lớn, dự trữ
ngoại tệ cạn kiệt, lạm phát cao (năm 1987 là 150%).
e. Kinh nghiệm của Philippine
Khủng hoảng nợ thế giới trong những năm 1980 chủ yếu xẩy ra tại các nước
Châu Mĩ La tinh. Tại Châu Á có 2 nước là Philippine và Indonesia lâm vào khủng
hoảng nợ.
Kinh tế Philippine phát triển rất nhanh sau đại chiến thế giới II. Vào những năm
50, thu nhập đầu người của Philippine cao nhất trong khu vực đông nam á và cao hơn cả
Hàn Quốc. Philippine là nước giàu tài nguyên khoáng sản (trừ dầu mỏ). Hiện nay thu
nhập theo đầu người của Philippine khoảng 900 USD thấp hơn nhiều so với Malaysia,
Singapore, Thái Lan hay Hàn Quốc. Nền kinh tế Philippine hiện nay còn nhiều thách
thức đó là khoảng cách giàu nghèo lớn, vấn đề suy dinh dưỡng, nạn phá rừng, cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên và mức nợ nước ngoài lớn (29 tỷ USD năm 1993).
Khoản nợ nước ngoài khổng lồ của Philippine hình thành do chính sách vay
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
21
Chuyên đề tốt nghiệp
lý và sử dụng vốn ODA nói chung, có thể đúc kết một số bài học kinh nghiệm sau:
- Tăng cường công tác giám sát/kiểm tra/kiểm toán: Không phân biệt nguồn
vốn vay hay viện trợ không hoàn lại, thông qua các công cụ từ Bộ Tài chính, Sở tài
chính, các Bộ/Ban ngành tại địa phương đến việc thiết lập hệ thống kiểm toán/kiểm
soát nội bộ, thuê kiểm toán độc lập tạo điều kiện tăng tính minh bạch, khắc phục sai
sót, rút ra bài học kinh nghiệm giúp đẩy nhanh quá trình thực hiện dự án. Kế hoạch
giám sát/kiểm tra được xây dựng ngay khi xây dựng dự án và liên tục được cập
nhập và thực hiện thường xuyên trong quá trình thực hiện dự án. Tăng cường sự
phối kết hợp trong việc kiểm tra/giám sát việc thực hiện dự án giữa nhà tài trợ và
nước nhận viện trợ thông qua việc hài hòa thủ tục/yêu cầu của cả hai phía.
- Tạo dựng mối quan hệ đối tác tin cậy với các nhà tài trợ: Tạo dựng niềm
tin, tăng cường sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau với các nhà tài trợ trên cơ sở đẩy
mạnh đối thoại một cách cởi mở và xây dựng ở cấp chính sách cũng như cấp thực
hiện; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; nỗ lực hài hoà các quy trình và thủ
tục ODA để giảm các chi phí giao dịch; tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, thúc đẩy
giải ngân để nâng cao hiệu quả đầu tư; thực hiện nghiêm túc các cam kết giữa
Chính phủ và các nhà tài trợ.
- Xác định các mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể của dự án trên cơ sở
nhu cầu thực sự của đối tượng thụ hưởng dự án:. Từ kinh nghiệm của các nước
đang phát triển cho thấy, việc bảo đảm tính khả thi và mang lại hiệu quả thiết thực
cho đối tượng thụ hưởng dự án là nhân tố có tính quyết định đến sự thành công của
các dự án hay chương trình tiếp nhận nguồn hỗ trợ phát triển chính thức. Muốn đạt
được mục tiêu này phải nghiên cứu lựa chọn mục tiêu, đối tượng dự án một cách
khách quan, có cơ sở khoa học.
- Thành lập một hệ thống quản lý, điều phối và thực hiện các chương trình,
dự án ODA, đủ mạnh từ Trung ương đến địa phương: Các cán bộ lãnh đạo chủ chốt
được đào tạo, tập huấn, có đủ năng lực, chuyên môn và hiểu biết chế độ hiện hành.
- Năm 2003: Thủ tướng Chính phủ ký quyết định Viện Chiến lược phát triển là
Viện cấp quốc gia.
- Năm 2009: Thủ tướng Chính phủ ký quyết định Viện Chiến lược phát triển là tổ
chức sự nghiệp khoa học cấp quốc gia
Thiều Thị Ngọc Chi Lớp: Kinh tế phát triển 50B
23
Chuyên đề tốt nghiệp
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
Viện Chiến lược phát triển có những chức năng và nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Nghiên cứu và đề xuất về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, tổ chức cung ứng dịch vụ
công trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên
ngành và thực hiện hoạt động tư vấn chiến lược, quy hoạch phát triển theo quy
định của pháp luật.
- Dự thảo các đề án, dự án về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước, quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ trong từng thời kỳ, trình
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định.
- Nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về xây dựng chiến lược, quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích, tổng hợp và dự báo các biến động kinh tế, xã hội, khoa học, công
nghệ, môi trường và các yếu tố quốc tế tác động đến chiến lược, quy hoạch tổng
thế phát triển kinh tế - xã hội.
- Phản biện các đề án về chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ngành, lĩnh vực theo phân công của cấp
có thẩm quyền.
- Tổ chức cung ứng dịch vụ công:
• Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học về chiến lược, quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và những nghiên cứu khoa học khác theo
quy định của pháp luật.
• Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ nghiên cứu chiến lược, quy hoạch tổng