ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ ĐỨC HẠNH QUÂN ĐỘI HÀN QUỐC TRONG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC
CỦA MỸ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1964-1973
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Kim HÀ NỘI - 2004
1
47
2.2 Quá trình tham chiến của các đơn vị quân đội Hàn Quốc trong
cuộc chiến tranh xâm lƣợc của Mỹ ở Việt Nam
60
CHƢƠNG III
MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ SỰ THAM GIA CỦA QUÂN ĐỘI
HÀN QUỐC TRONG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA
MỸ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1964-1973
3.1 Quân đội Hàn Quốc và chính sách "quốc tế hoá" cuộc Chiến
tranh Việt Nam của Mỹ.
3.2 Đánh giá của một số sỹ quan cấp cao Mỹ về hoạt động tác chiến
của quân Hàn Quốc trên chiến trƣờng Khu V.
91
101
3.3 Hậu quả do các đơn vị quân đội Hàn Quốc gây ra trên chiến
trƣờng miền Nam Việt Nam.
106
KẾT LUẬN:
111
PHỤ LỤC I: Viện trợ phi quân sự của một số nƣớc đồng minh Mỹ
trong chiến dịch "Thêm cờ"
118
TÀI LIỆU THAM KHẢO
121
luật an ninh quốc gia
SEATO
South East Asia Treaty Organisation
Tổ chức Hiệp ước
Đông Nam Á
NSC
National Security Council
Hội đồng an ninh quốc
gia
CENTO
Central Treaty Organisation
Hiệp ước Trung tâm
DANH MỤC CÁC BẢNG
50
Bảng 3.1
Viện trợ của Mỹ cho Thái Lan từ 1950-1968
94
Bảng 3.2
Viện trợ kinh tế, quân sự của Mỹ cho Hàn Quốc
1946-1976
94
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài: 4
Trong cuộc chiến tranh xâm lƣợc Việt Nam, đế quốc Mỹ đã huy động
một lực lƣợng quân sự khổng lồ bao gồm cả hải, lục và không quân, dƣới sự
điều hành trực tiếp của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc để tiến hành một cuộc
đều cho rằng, quyết định trên đã mang lại cho nƣớc này không ít lợi ích. Điều
đó có thể đúng với cách nghĩ của họ. Bởi lẽ, nếu xét trên bình diện chính trị
thì rõ ràng đây là cơ hội tốt để Hàn Quốc "bày tỏ và khẳng định" thái độ cũng
nhƣ lập trƣờng của mình đối với Mỹ trƣớc những vấn đề quốc tế lớn. Không
những thế, đây còn là cơ hội hiếm có để Hàn Quốc " trả bớt" những món nợ
mà họ đã vay của ngƣời Mỹ từ nhiều năm trƣớc đây.
Trên bình diện kinh tế, đúng nhƣ cách gọi của một số chính trị gia
Hàn Quốc lúc bấy giờ, "chiến tranh Việt Nam là El Dorado", nghĩa là (vùng
đất tƣởng tƣợng có nhiều kim loại quý)[20: 101]. Nhờ có việc đƣa quân sang
tham chiến tại Việt Nam, Hàn Quốc đã nhận đƣợc từ Mỹ những khoản viện
trợ lớn. Ngoài ra, với hàng chục nghìn lƣợt binh lính sang tham chiến tại
Việt Nam và hàng chục nghìn ngƣời khác sang phục vụ cho cỗ máy chiến
tranh của Mỹ, Hàn Quốc đã thu đƣợc những khoản lợi không nhỏ. Nền kinh
tế vì thế đã đƣợc cải thiện đáng kể, an ninh và quốc phòng cũng đƣợc tăng
cƣờng.
Lợi ích mà Hàn Quốc thu đƣợc từ việc đƣa quân sang tham chiến tại
Việt Nam đã đƣợc chứng minh qua các con số, chỉ số tăng trƣởng của nền
kinh tế lúc bấy giờ. Thế nhƣng, sự mất mát cũng không hề nhỏ. Trong cuộc
chiến tranh này, có gần 5.000 sỹ quan và binh sỹ Hàn Quốc thiệt mạng, hàng
ngàn ngƣời khác bị thƣơng và bị nhiễm chất độc màu da cam do quân đội Mỹ
rải xuống[38: 243]. Và cũng nhƣ ở Mỹ, "Hội chứng chiến tranh Việt Nam" có
lẽ còn phải mất nhiều năm nữa mới hy vọng phần nào vơi đi trong ký ức và
cuộc sống của các cựu binh Hàn Quốc đã từng tham chiến tại Việt Nam. Cái
mất chắc còn lớn hơn nếu đặt nó trong mối quan hệ truyền thống lâu đời giữa
6
hai dân tộc.
Về sự tham gia của quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh xâm
lƣợc của Mỹ ở Việt Nam, cho đến nay đã có nhiều công trình đề cập tới. Tuy
nhiên, do mục đích của từng công trình, các tác giả chỉ mới đề cập đến những
2001; tập VI xuất bản năm 2003, các tác giả có đề cập đến hoạt động tác
chiến của các đơn vị quân sự đội Hàn Quốc trong một số trận đánh, chiến dịch
trên địa bàn Khu V trong hai cuộc phản công chiến lƣợc mùa khô (1965-
1966) và (1966-1967) của Mỹ.
Ở một số địa phƣơng thuộc Khu V cũng đã xuất bản một số công trình
có liên quan nhƣ: "Khu V-30 năm chiến tranh giải phóng 1945-1975", tập II
của Bộ tƣ lệnh Quân khu V, xuất bản 1989; "Quảng Ngãi-Lịch sử chiến tranh
30 1945-1975" của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ngãi, xuất bản 1988;
"Quảng Nam-Đà Nẵng 30 năm chiến đấu và chiến thắng 1945-1975" của Bộ
chỉ huy quân sự Quảng Nam-Đà Nẵng, xuất bản 1988; "Bình Thuận-30 năm
chiến tranh giải phóng 1945-1975" của Bộ chỉ huy quân sự Bình thuận, xuất
bản năm 1992; "Phú Yên-30 năm chiến tranh giải phóng 1945-1975" của Bộ
chỉ huy quân sự Phú Yên, xuất bản 1993 Tuy nhiên, trong các công trình
này các tác giả còn đề cập rất ít hoặc chỉ mới dừng lại ở mô tả các hoạt động
đơn lẻ của từng đơn vị quân Hàn Quốc với tƣ cách là lực lƣợng đánh thuê cho
Mỹ, trên địa bàn từng tỉnh, trong khuôn khổ của một trận đánh, một chiến
dịch do Mỹ tiến hành, mà chƣa nghiên cứu nó nhƣ một đề tài độc lập, để từ đó
dựng nên bức tranh toàn cảnh của lực lƣợng quân đội Hàn Quốc trên chiến
trƣờng Việt Nam, hoặc rút ra những nhận xét, đánh giá và kết luận mang tính
khái quát.
Ở nƣớc ngoài, chủ yếu ở Mỹ và Hàn Quốc đến nay đã có nhiều sách,
tạp chí của các học giả nghiên cứu, viết về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt
Nam nhƣ: "Giải phẫu một cuộc chiến tranh" của G.B Côncô, do Nguyễn Tấn
Cửu dịch, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 1989, "Sự lừa dối
8
hào nhoáng" của Neil Sheehan, do nhóm Lê Minh Đức dịch, Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh ần hành năm 1990; "Cuộc chiến tranh dài ngày nhất
nước Mỹ" của G.C Herring, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành 1998;
"Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày" của Michel Maclia, Nhà xuất bản Chính
đánh giá các sự kiện, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa chúng.
Đồng thời, qua đó tôi cũng muốn nhấn mạnh quan điểm của mình là
sự tham gia của quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lƣợc của Mỹ
ở Việt Nam không chỉ là sản phẩm trong chính sách đồng minh của Mỹ thời
kỳ Chiến tranh lạnh. Đó còn là mối quan hệ máu thịt Mỹ-Hàn, là những quyết
định mang tính độc lập tƣơng đối của chính phủ Hàn Quốc. Với sự tham gia
của quân đội Hàn Quốc và quân đội một số nƣớc đồng minh khác của Mỹ tại
Việt Nam, cuộc chiến tranh Việt Nam đã vƣợt ra ngoài khuôn khổ của một
cuộc chiến tranh cục bộ, nó trở thành cuộc đụng đầu lịch sử mang tính thời
đại sâu sắc và có tác động mạnh tới phong trào cách mạng thế giới
Nguồn tƣ liệu phục vụ cho nghiên cứu, viết luận văn gồm: Tác phẩm
kinh điển của Các Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh và của các đồng chí
lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc và Quân đội; các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, tổng
kết, báo chí của Đảng, Nhà nƣớc Đảng và Quân đội đã đƣợc in thành sách,
đăng trên các báo và tạp chí; các sách và công trình nghiên cứu đã công bố có
liên quan đến đề tài; các tƣ liệu sƣu tầm tại Thƣ viện Trung ƣơng quân đội,
Thƣ viện Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Trung tâm thông tin Khoa học và
công nghệ Bộ quốc phòng. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nguồn tƣ liệụ từ
sách báo và tạp chí xuất bản trong nƣớc và quốc tế có nội dung liên quân đến
đề tài.
Đóng góp của luận văn:
Luận văn cố gắng trình bày một cách tƣơng đối có hệ thống, toàn diện
quá trình tham chiến, lực lƣợng tham chiến, đặc thù tác chiến và vai trò của
các đơn vị quân đội Hàn Quốc trên chiến trƣờng Khu V miền Nam Việt Nam,
từ đó rút ra những bài học thực tiễn qua việc Hàn Quốc đƣa quân sang tham
10
chiến tại Việt Nam, đồng thời đi sâu phân tích chính sách đồng minh của Mỹ
trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, đặc biệt là trong giai đoạn "Chiến tranh Việt
Nam", rút ra những vấn đề bản chất, đƣa ra một số nhận định về chính sách
Mỹ coi là nằm trong vòng "ảnh hưởng" của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Năm
2000, Nhà Trắng đã đƣa ra cái gọi là "Đề án cho nƣớc Mỹ trong thế kỷ mới"
(Project for the new American Century -PANC). Trong đề án đó, Mỹ một lần
nữa khẳng định "các nƣớc đồng minh then chốt" là "công cụ hữu hiệu nhất và
linh hoạt nhất để thiết lập sự thống trị của Mỹ trên toàn thế giới". Đối với khu
vực Đông Nam Á, đề án nhấn mạnh "Đã đến lúc cần tăng cƣờng sự hiện diện
quân sự của Mỹ ở khu vực này", và tính đến khả năng "Thay đổi chế độ cầm
quyền ở Trung Quốc".
Nhƣ vậy, nếu PANC là hiện thực, thì trong tƣơng lai, chính sách đồng
minh quen thuộc của Mỹ lại một lần nữa đƣợc đƣa ra thực hiện. Khi đó, các
nƣớc Nam Á và Đông Nam Á, đặc biệt là các nƣớc có đƣờng biên giới gần và
xa với Trung Quốc chắc chắn sẽ lại đƣợc Mỹ đƣa vào vòng mặc cả.
Chương 2: Quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở
Việt Nam giai đoạn 1964-1973.
Chƣơng này tập trung khái quát, hệ thống lịch sử quá trình tham
chiếncủa các đơn vị quân đội Hàn Quốc trên chiến trƣờng Nam Việt Nam,
phân tích nguyên nhân vì sao Hàn Quốc lại là nƣớc tham gia chiến dịch
"Thêm cờ" của Mỹ một cách tích cực nhất, đƣa quân sang Việt Nam nhiều
nhất và đƣợc Mỹ đánh giá là tác chiến có hiệu quả nhất trong số các nƣớc
đồng minh Mỹ có quân tham chiến tại Việt Nam. Nội dung của chƣơng còn
tập trung phân tích vai trò, đặc thù, tác chiến của lực lƣợng này trên chiến
trƣờng Khu V, đồng thời đề cập một cách tƣơng đối chi tiết mối quan hệ quân
sự Mỹ- Hàn từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến 1965 (thời điểm chính phủ
Hàn Quốc quyết định đƣa lực lƣợng bộ binh sang tham chiến tại Việt Nam).
Tiết 2 của chƣơng tập trung khái quát hệ thống tổ chức, binh chế, chỗ dựa của
12
quân đội Hàn Quốc từ 1945-1965, qua đó cho thấy sự phụ thuộc, mối ràng
buộc giữa quân đội Hàn Quốc với Mỹ và quân đội Mỹ.
Chương 3: Một vài nhận xét về sự tham gia của quân đội Hàn Quốc trong
Chương 1
CHÍNH SÁCH ĐỒNG MINH VÀ QUÂN ĐỘI MỘT SỐ NƯỚC
ĐỒNG MINH CỦA MỸ THAM CHIẾN Ở VIỆT NAM
1.1. Chính sách đồng minh trong các chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ
giai đoạn 1946 - 1968
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh
đế quốc Mỹ đã trở thành tên đế quốc đầu sỏ trong hệ thống tƣ bản chủ nghĩa.
Với tham vọng bá chủ toàn cầu, Mỹ đã nhanh chóng tìm cách thay chân các
đế quốc khác, mở rộng phạm vi ảnh hƣởng ra các nơi và trở thành thực dân
lớn nhất của thời đại, dinh luỹ chủ yếu của các thế lực phản động quốc tế, là
kẻ thù nguy hiểm nhất của phong trào cách mạng thế giới, của hoà bình và an
ninh của các dân tộc.
Chính trong bối cảnh đó, nhằm ngăn chặn ảnh hƣởng và sự lớn mạnh
của phe xã hội chủ nghĩa, của phong trào giải phóng dân tộc đang trỗi dậy,
những ngƣời đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã liên tiếp đƣa ra và
triển khai thực hiện các học thuyết (chủ nghĩa) toàn cầu mà trụ cột là các học
thuyết quân sự nhằm phục vụ cho tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ.
Ngay từ tháng 5-1945, khi chủ nghĩa phát xít Đức vừa bị Hồng quân
Liên Xô tiêu diệt, Tƣ lệnh không quân Mỹ, Đại tƣớng G. Ác-nôn-đơ và Tƣ
lệnh lực lƣợng không quân Anh, Nguyên soái S. Poóc-tan, đã thảo luận và đi
đến thống nhất rằng "Kẻ thù tiếp theo của chúng ta là nƣớc Nga xô viết, bởi
vậy, để sử dụng lực lƣợng không quân chiến lƣợc một cách có hiệu quả,
14
các nước đồng minh.
Để mở rộng đồng minh và xây dựng các khối liên minh quân sự phục
vụ cho các mục tiêu của "Chiến lƣợc ngăn chặn", Mỹ đã dùng mọi biện pháp
kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao v.v trong đó biện pháp kinh tế là công
cụ chủ yếu để lôi kéo, tập hợp các nƣớc trên thế giới vào guồng máy chiến
tranh xâm lƣợc của Mỹ.
Tại khu vực châu Âu, trên cơ sở xác định Liên Xô là đối thủ trực tiếp
và nguy hiểm đang "đe doạ quyền lợi" của Mỹ, ngày 3- 4-1947, lấy cớ viện
trợ kinh tế cho các nƣớc châu Âu vừa bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới
thứ II, Quốc hội Mỹ đã thông qua Kế hoạch Mác-san (Marshall Plan) với
những quy định: các nƣớc nhận viện trợ buộc phải ký với Mỹ những hiệp
định tay đôi (có tính chất ràng buộc); phải thi hành các chính sách kinh tế, tài
chính mà Mỹ yêu cầu; phải bảo đảm quyền lợi cho tƣ nhân Mỹ đầu tƣ kinh
doanh; phải cung cấp nguyên liệu chiến lƣợc cho Mỹ; phải thiết lập các tài
khoản đặc biệt mà việc sử dụng tài khoản này phải đƣợc Mỹ đồng ý; phải liên
minh quân sự với Mỹ và để Mỹ đặt các căn cứ quân sự trên lãnh thổ nƣớc
mình
Kế hoạch Mác-san còn buộc các nƣớc nhận "viện trợ" phải chấm dứt
quan hệ thƣơng mại với Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa, từ bỏ kế
hoạch quốc hữu hoá và phải tiến hành đƣa tất cả các lực lƣợng tiến bộ ra
ngoài chính phủ (Đảng cộng sản Pháp và Đảng cộng sản Italia bị đƣa ra khỏi
chính phủ vào thời kỳ này), thậm chí cho Mỹ đƣợc quyền can thiệp vào nội
bộ nƣớc mình.
Với kế hoạch Mac-san, trong vòng chƣa đầy một năm, từ tháng 6-
1947 đến tháng 4-1948, 16 nƣớc châu Âu là: Anh, Pháp, Áo, Bỉ, Luých-xăm-
bua, Đan Mạch, Na-uy, Thụy Điển, Ai-xơ-len, Thụy Sỹ, Hy lạp, Thổ Nhĩ Kỳ,
16
Italia, Bồ Đào Nha, Cộng hoà liên bang Đức đã tiếp nhận viện trợ của Mỹ
với số tiền lên tới hơn 12,5 tỷ đô la.
phong trào cách mạng của bất kỳ một quốc gia nào ở châu Mỹ hoặc vào cuộc
chiến tranh xâm lƣợc do Mỹ gây ra.
Tại khu vực châu Á -Thái Bình Dương, với mục đích duy trì và mở
rộng ảnh hƣởng của mình, phục vụ cho chiến lƣợc toàn cầu chống các nƣớc
xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở
khu vực Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dƣơng, ngày 30-8-1951 Mỹ đã ký
hiệp ƣớc Liên minh quân sự tay đôi với Phi-líp-pin. Theo hiệp ƣớc này, Mỹ
có quyền đƣợc triển khai lực lƣợng và lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Phi-
líp-pin. Tiếp đó, ngày 1 tháng 9 năm 1951, Mỹ, Ô-xtrây-lia và Niu Di-lân đã
ký hiệp ƣớc thành lập khối chính trị - quân sự ANZUS. Sau khi hiệp ƣớc có
hiệu lực (29-4-1952), Mỹ đã lập đƣợc hàng loạt các căn cứ quân sự trên lãnh
thổ Ô-xtrây-lia và Niu Di-lân, khống chế và kiểm soát một phần quan trọng
khu vực Tây Nam Thái Bình Dƣơng và Ấn Độ Dƣơng, hợp pháp hoá việc lực
lƣợng quân Mỹ sự có mặt thƣờng xuyên tại khu vực này.
Chỉ vài ngày sau khi thành lập ANZUS, ngày 8-9-1951, tại thành
phố Xan-Phran-xcô, Mỹ ký tiếp với Nhật Bản "Hiệp ƣớc an ninh Nhật-Mỹ".
Với hiệp ƣớc này, Nhật Bản chấp nhận dƣới ô "bảo vệ hạt nhân" của Mỹ, để
cho Mỹ có quyền xây dựng các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Nhật Bản và các
miền phụ cận nƣớc Nhật, đổi lại, Nhật Bản sẽ nhận đƣợc những ƣu đãi đặc
biệt về kinh tế và quân sự từ phía Mỹ. Hiệp ƣớc an ninh Nhật- Mỹ là cơ sở
pháp lý để Mỹ mở rộng sự có mặt về quân sự đối với khu vực vòng cung
chiến lƣợc tiền tiêu kéo dài từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Mục tiêu của
Mỹ trong việc thiết lập vòng cung chiến lƣợc này là nhằm chống lại Liên Xô,
Trung Quốc và phong trào cách mạng ở vùng Viễn Đông, hợp pháp hoá việc
quân đội Mỹ chiếm đóng và xây dựng các căn cứ quân sự trên đất Nhật, biến
Nhật Bản thành căn cứ chiến lƣợc phuc vụ cho mƣu đồ bành trƣớng và xâm
18
lƣợc của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng. Ngoài việc ký hiệp ƣớc
quân sự tay đôi với Phi-lip-pin và Nhật Bản, Mỹ còn ký hàng loạt hiệp ƣớc
Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao đã cho thực hiện một chiến lƣợc quân sự toàn cầu
mới - chiến lƣợc "Trả đũa ồ ạt". Nội dung chủ yếu của chiến lƣợc này là: tăng
cƣờng chuẩn bị chiến tranh tổng lực, lấy vũ khí hạt nhân và không quân chiến
lƣợc làm cơ sở để tiến hành một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, ồ ạt không
hạn chế ở những địa điểm và thời gian do Mỹ lựa chọn; xây những liên minh
quân sự khu vực mạnh và những liên minh song phƣơng với vai trò áp đảo
dành cho lực lƣợng lục quân, hải quân và không quân Mỹ; dựa vào các nƣớc
đồng minh và chƣ hầu để bao vây sát biên giới Liên Xô và các nƣớc xã hội
chủ nghĩa, đàn áp phong trào cách mạng ở các khu vực, trực tiếp đưa quân
Mỹ đến lập các căn cứ trên vành đai ấy để hỗ trợ cho các nƣớc đồng minh khi
không có chiến tranh, và trực tiếp chi viện cho các nƣớc đó khi chiến tranh
xảy ra.
Nhƣ vậy, về mục tiêu và biện pháp cơ bản, chiến lƣợc "trả đũa ồ ạt"
không khác nhiều so với "chiến lƣợc ngăn chặn" bởi cả hai chiến lƣợc quân
sự toàn cầu này đều nhằm bao vây tiêu diệt Liên Xô, chế độ xã hội chủ nghĩa
và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đều dựa trên sức mạnh hạt
nhân và không quân chiến lƣợc. Tuy nhiên, khi ƣu thế và độc quyền về vũ khí
hạt của Mỹ không còn nữa, thì những "ƣu tiên" cho chiến lƣợc này đã có
những thay đổi. Trong chiến lƣợc "trả đũa ồ ạt" Mỹ đề cao vai trò lực lượng
tại chỗ của các nước đồng minh.
Trong bài diễn văn đọc ngày 12-1-1954 tại Uỷ ban về các chính sách
đối ngoại, ngoại trƣởng Mỹ Đa-lét tuyên bố: "Chính sách của Mỹ phải đi đôi
với một chính sách đồng minh. Lực lƣợng của chúng ta có hạn. Chúng ta
không thể cung cấp tất cả lực lƣợng bộ binh, hải quân và không quân cho cả
thế giới tự do, vì vậy, bằng mọi cách, chúng ta phải giúp đỡ các nƣớc đồng
20
minh, để nhờ sự giúp đỡ đó, các nƣớc đồng minh có thể bảo vệ đƣợc an ninh
tại chỗ của mình và của cả chúng ta [36:14].
Với cách nhìn mới về vai trò và tầm quan trọng của lực lƣợng đồng
SEATO đã "vƣợt quá mức thoả mãn của Mỹ, vì sự tồn tại của nó không
những có thể ngăn ngừa và răn đe đƣợc việc Trung Quốc can thiệp vào cuộc
chiến tranh ở Đông Dƣơng mà còn củng cố và mở rộng đƣợc ảnh hƣởng của
Mỹ ra toàn bộ khu vực châu Á Sự ra đời của SEATO còn có thể làm mất đi
nỗi ô nhục của nƣớc Pháp trong cuộc chiến trang Đông Dƣơng, và bảo đảm
toàn toàn bộ gánh nặng khu vực này không rơi vào Mỹ"[18: 39] Ngay sau khi
thành lập, SEATO đã đƣa ra học thuyết phòng thủ "Tầm nhìn mới", theo đó
lực lƣợng của các nƣớc thành viên sẽ đảm đƣơng những phần chính khi các
cuộc chiến trên bộ xảy ra, còn Mỹ sẽ có trách nhiệm đảm bảo chi viện không
quân, hải quân, cung cấp tiền, vũ khí cũng nhƣ hàng tiếp tế và huấn luyện cho
quân đội các nƣớc này. Trong Nghị định thư về Đông Dương, SEATO đặt
miền Nam Việt Nam, Lào và Căm-pu-chia dƣới ô "bảo hộ" của nó.
Nhƣ vậy, rõ ràng sự ra đời của SEATO là nỗ lực của Mỹ trong việc
triển khai thực hiện chiến lƣợc quân sự toàn cầu "Trả đũa ồ ạt" ở khu vực này.
Tuy vậy, sự ra đời của tổ chức này nằm trong thế bị động, trƣớc hết là để đối
phó với tình hình trong khu vực đang diễn ra theo chiều hƣớng không có lợi
cho Mỹ, sau khi Việt Nam giành đƣợc thắng lợi trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp. Mƣu đồ của Mỹ Khi thành lập SEATO là nhằm tạo ra
một vòng cung phản ứng cách mạng chống lại ảnh hƣởng của phong trào giải
phóng dân tộc từ bán đảo Đông Dƣơng lan tới. Tại Hội nghị thành lập tổ chức
này, các nƣớc thành viên còn ký 2 văn kiện có tính chất nền tảng của SEATO
là "Hiệp ƣớc phòng thủ chung Đông Nam Á" (Hiệp ƣớc Manila) và "Hiến
chƣơng Thái Bình Dƣơng". Trong cả 2 văn kiện nền tảng ấy của SEATO đã
trình bày đầy đủ những nguyên tắc can thiệp vũ trang của chủ nghĩa đế quốc
vào công việc nội bộ của các nƣớc trong vùng. Chẳng hạn, trong "Hiệp ƣớc
22
phòng thủ chung Đông Nam Á", nguyên tắc đó đƣợc trình bày nhƣ sau: "Duy
trì và làm tăng khả năng của từng nƣớc và của toàn khối chống lại sự tiến
công vũ trang và ngăn chặn hoạt động phá hoại từ bên ngoài, trong trƣờng
Liên Xô và các nƣớc xã hội chủ nghĩa khác. Những bàn đạp đó trải suốt từ
Bắc Mỹ, sang Bắc Âu, Tây Âu vòng xuống Địa Trung Hải, Trung Cận Đông,
qua Đông Nam Á, lên tới Đông Bắc Á. Với hàng chục tỉ đô la viện trợ kinh tế
và viện trợ quân sự cho các nƣớc đồng minh trung bình mỗi năm, Mỹ không
chỉ duy trì, mở rộng sự hiện diện của các căn cứ quân sự của mình ở nƣớc
ngoài, mà còn thƣờng xuyên cột chặt chính phủ các nƣớc nhận viện trợ vào cỗ
máy chiến tranh và chạy đua vũ trang của Mỹ kéo dài trong suốt những thập
kỷ 50 của thế kỷ XX.
Đến năm 1961, do không ngăn chặn đƣợc sự phát triển của phong trào
cách mạng thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nƣớc Á, Phi
và Mỹ La tinh (năm 1960 có 17 quốc gia châu Phi giành đƣợc độc lập), đồng
thời bị mất ƣu thế chiến lƣợc, đặc biệt là chiến lƣợc hạt nhân, do sự lớn mạnh
của tiềm lực hạt nhân và tên lửa chiến lƣợc của Liên Xô, Mỹ buộc phải thay
đổi chiến lƣợc quân sự toàn cầu từ "Trả đũa ồ ạt" chuyển sang chiến lƣợc
"Phản ứng linh hoạt" nhằm tiếp tục thực hiện âm mƣu thống trị toàn cầu trong
một thế giới đang trên đà chuyển biến mạnh mẽ bất lợi cho Mỹ. Thay đổi lớn
nhất trong chiến lƣợc "phản ứng linh hoạt" so với chiến lƣợc "Trả đũa ồ ạt" là
chuyển hướng chiến lược từ chuẩn bị chiến tranh tổng lực để uy hiếp và tiến
công ồ ạt vào đối phương bằng vũ khí hạt nhân là chính, sang sẵn sàng "phản
ứng lại mọi hình thức có thể bằng sức mạnh" một cách linh hoạt để giành
thắng lợi từ chiến tranh hạn chế với các cấp độ khác nhau đến chiến tranh
tổng lực, phù hợp với thực tế tƣơng quan lực lƣợng hạt nhân Xô-Mỹ và đối
phó với phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh. Các biện pháp
quân sự cơ bản để thực hiện chiến lƣợc "Phản ứng linh hoạt" là hoàn thiện
khả năng huỷ diệt chắc chắn, bảo vệ tốt lực lƣợng hạt nhân chiến lƣợc mà
24
nòng cốt là tên lửa hạt nhân, sẵn sàng uy hiếp và chống lại các đòn tiến công
hạt nhân của đối phƣơng, tăng cƣờng khả năng phản ứng linh hoạt của Mỹ và
NATO chống lại các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh cách mạng;