Tác động của vốn FDI tới kinh tế, xã hội ở Việt Nam trong những năm 1988 - 2008 - Pdf 25



đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trần thị ph-ơng
Tác động của vốn fdi tới kinh tế, xã hội
ở việt nam trong những năm 1988 2008

Luận văn thạc sĩ lịch sử Hà Nội - 2009
1
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOT Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao
BTO Xây dựng – Chuyển giao - Kinh doanh
BT Xây dựng – Chuyển giao
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
FII Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
KCN Khu công nghiệp
KCX Khu chế xuất
KCNC Khu công nghệ cao
KKT Khu kinh tế
NICs Các nước công nghiệp mới
TNCs Các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations)
UNCTAD Hội nghị thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc
(United Nation Conference on Trade and Development)
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
WB Ngân hàng thế giới 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU


đặc biệt là từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct
Investment - FDI).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng
cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tạo điều kiện khai thác các lợi thế so
sánh, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, nâng cao năng lực quản lý và
trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm và
chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Sức mạnh kinh tế đóng vai trò quyết định đến sức mạnh của một quốc
gia. Trong quá trình phát triển kinh tế, các nước luôn biết tranh thủ nguồn vốn
từ bên ngoài, nhất là vốn FDI thành “chìa khoá vàng” cho sự phát triển kinh
tế. Ở Việt Nam, vốn FDI cũng có những đóng góp quan trọng, nó đã và đang
mở ra nhiều cơ hội mới cho Việt Nam đạt được bước phát triển nhanh chóng.
Hơn nữa, hiện nay xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ
trên thế giới, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia đồng thời nó
cũng đặt các nước này trước những thách thức lớn. Nếu muốn tránh nguy cơ
tụt hậu thì sự lựa chọn duy nhất là phải hội nhập. Tuy nhiên, muốn hội nhập
một cách chủ động và có hiệu quả thì các nước, trong đó có Việt Nam phải tự
xây dựng cho mình một nền tảng vững chắc. Trong điều kiện của Việt Nam
hiện nay, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn tích luỹ trong nước thì thực sự là điều
5
không dễ dàng. Vì thế, việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ bên
ngoài, nhất là vốn FDI đang là một vấn đề đặt ra cấp thiết.
Xuất phát từ thực tiễn của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước, nền kinh tế đang chuyển sang giai đoạn phát triển tăng tốc, vấn đề là
cần thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho đầu tư
phát triển. Muốn được vậy thì việc nhìn lại quá trình thu hút và sử dụng vốn

1994. Tìm hiểu đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của Lê Minh Toàn, NXB
CTQG, 2004. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: thực trạng và giải
pháp của Trần Xuân Tùng, NXB CTQG, 2005
Đó là những công trình có tính khái quát và ở tầm vĩ mô nên chưa có
điều kiện phản ánh cụ thể về những tác động của nguồn vốn FDI tới kinh tế,
xã hội của Việt Nam từ khi hoạt động đến nay.
Các bài viết và công trình nghiên cứu về một khía cạnh cụ thể của hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. Điển hình như các công trình:
Định hướng phát triển các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của Ngô
Công Thành (2005). Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế ở
Việt Nam của Tống Quốc Đạt (2005). Tác động của đầu tư trực tiếp nước
ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Lê Xuân Bá (CB), NXB Khoa học
kỹ thuật (2006)
Các công trình trên mới chỉ điểm qua tình hình hoạt động của vốn FDI
mà chưa đi sâu làm rõ sự tác động của nó tới toàn bộ kinh tế, xã hội Việt Nam
từ khi họat động tới nay.
Ngoài ra, có thể kể tới một số tài liệu của nước ngoài như các báo cáo
đầu tư hàng năm của UNCTAD cũng đề cập tới tình hình đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
7
Luận văn tập trung nghiên cứu sự tác động của đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) ở Việt Nam từ khi hình thức đầu tư quốc tế này xuất hiện ở nước
ta vào năm 1988 cho đến hết năm 2008. Vì thế, trong quá trình nghiên cứu,
tôi xem FDI là chủ thể chính, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu. Tuy nhiên,
trong bài viết này tôi chỉ nghiên cứu về sự tác động của dòng vào FDI ở Việt
Nam (dòng FDI nước ngoài đầu tư vào Việt Nam) mà không nghiên cứu dòng

Thứ tư là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các khoá luận tốt nghiệp.
Đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về một số vấn đề của FDI,
một số khía cạnh có liên quan đến FDI hoặc là nghiên cứu mối quan hệ giữa
đầu tư trực tiếp nước ngoài với một số quá trình kinh tế – xã hội ở Việt Nam.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu phương pháp lịch
sử kết hợp với phương pháp lôgic; phương pháp phân tích và thống kê so sánh
5. Bố cục của luận văn
Chương 1. Quá trình đầu tư của vốn FDI ở Việt Nam thời kì (1988 –
2008)
1.1. Một số khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
1.2. Vốn và sử dụng vốn FDI ở Việt Nam (1988 – 2008)
Chương 2. Tác động của nguồn vốn FDI tới kinh tế - xã hội Việt Nam
thời kì (1988 – 2008)
2.1. Tác động của vốn FDI tới kinh tế Việt Nam
2.2. Tác động của vốn FDI tới xã hội Việt Nam
Chương 3. Một số vấn đề rút ra
3.1. Bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới về thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài
3.2. Các giải pháp cơ bản nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn FDI
9
CHƯƠNG 1
QUÁ TRÌNH ĐẦU TƯ CỦA VỐN FDI
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ (1988 – 2008)
1.1. Một số khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Việt Nam

(FDI) diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một
tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản
đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính
khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản
lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó nhà đầu
tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con”
hay “chi nhánh công ty”.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư
được thực hiện nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp hoạt động
ở nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư. Mục đích
của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh
nghiệp đó. [41, tr24]
Tại Việt Nam, “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” năm 1987 đưa ra
khái niệm như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào
được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài theo quy định của luật này. [15, tr38]
Đến năm 2005, với việc ban hành Luật đầu tư áp dụng chung cho cả đầu
tư nước ngoài và đầu tư trong nước thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam. Luật nêu ra rằng, đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài
đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành
hoạt động đầu tư.
11
Như vậy, dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản, đầu
tư trực tiếp nước ngoài có thể xem là loại hình di chuyển vốn giữa các nước,
trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành

FDI tìm kiếm tài sản chiến lược: là hình thức đầu tư xuất hiện ở giai
đoạn phát triển cao của quá trình toàn cầu hoá sản xuất khi các nhà đầu tư tiến
hành đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm khả năng hợp tác nghiên cứu và phát
triển [17, tr227]
Căn cứ vào hình thức góp vốn, có 4 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
được sử dụng phổ biến sau đây:
Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là hình thức
đầu tư mà doanh nghiệp hoàn toàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.
Những doanh nghiệp này do nhà đầu tư nước ngoài tự thành lập tại nước tiếp
nhận đầu tư, họ tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập
theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân [17,
tr227]
Thứ hai, hình thức doanh nghiệp liên doanh: là hình thức doanh nghiệp
được thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký
kết giữa bên hoặc các bên của nước chủ nhà với bên hoặc các bên của nước
ngoài đến đầu tư, kinh doanh ở nước chủ nhà [17, tr 228]
Thứ ba, hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai hoặc
nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên
(bên nước ngoài và bên sở tại) để tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà
mà không thành lập pháp nhân. [17, tr228]
Thứ tư, hợp đồng BOT (xây dựng - hoạt động - chuyển giao), BTO (xây
dựng - chuyển giao - hoạt động), và BT (xây dựng - chuyển giao) [17, tr228].
Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan
có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng, mở rộng nâng cấp, khai
13
thác công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định (để thu hồi vốn

của nền kinh tế thế giới. Mỗi nước trong quá trình phát triển không thể tách
rời sự tác động của thị trường khu vực và thế giới. Liên kết kinh tế và hội
nhập trở thành một xu thế tất yếu của thời đại.
Trong bối cảnh đó, hầu hết các nước trên thế giới đã có sự điều chỉnh
hoặc cải cách kinh tế ở mức độ và hình thức khác nhau.
Trong khi đó, sau vài thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đến đầu những
năm 1980, các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào tình trạng khủng
hoảng kinh tế - xã hội. Đó là hệ quả tất yếu của việc duy trì một mô hình kinh
tế xã hội không phù hợp, nó bộc lộ nhiều khuyết điểm và không đáp ứng được
nhu cầu phát triển khách quan của kinh tế - xã hội. Thực trạng đó đã buộc các
nước xã hội chủ nghĩa phải có sự điều chỉnh về đường lối, tiến hành đổi mới,
cải tổ, cải cách nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế -
xã hội.
Là một thành viên trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trên phạm vi cả nước trong suốt 10 năm (1975
- 1985) đã khắc phục được những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại đồng
thời đưa lại một số thành tựu nhất định cho nền kinh tế -xã hội Việt Nam. Tuy
nhiên, về cơ bản, trong những năm đó, chúng ta vẫn xây dựng chủ nghĩa xã
hội theo mô hình cũ của lối tư duy cũ, cho nên, giống như các nước xã hội
chủ nghĩa khác, Việt Nam cũng vấp phải những vấn đề có tính nguyên tắc
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và không tránh khỏi tình trạng đất nước rơi
vào khủng hoảng kinh tế - xã hội. Vì vậy, đổi mới đã trở thành vấn đề bức
thiết đối với Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI họp tại Hà Nội (12/1986) đã đề ra
đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, đi vào
thế ổn định và phát triển. Đại hội VI, vì vậy đã trở thành đại hội mở đầu cho
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước của Việt Nam. Sau đó, qua các Đại hội


16
Quốc hội thông qua Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam vào tháng 7/1987 và
bắt đầu áp dụng từ ngày 1/1/1988 thì chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài
của Đảng đã được thực hiện hoá, chính thức đánh dấu quá trình thu hút đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam, trong đó đầu tư trực tiếp là một bộ phận quan trọng.
Bên cạnh đó, trong suốt thời kỳ Đổi mới, tại các Đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh phải quan tâm đến
hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài và xem đó là một trong những nhân tố
quan trọng thúc đẩy và đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
đi đến thành công. Đặc biệt, tại Đại hội Đảng lần thứ X (2001), lần đầu tiên
Đảng đã chính thức công nhận khu vực đầu tư nước ngoài là một thành phần
kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam
1
có vai trò “hướng
vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút công
nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm” [8, tr147]. Điều đó cho thấy Đảng và
Nhà nước ta đã ghi nhận và đánh giá cao vai trò quan trọng của khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam.
Chính sự ghi nhận này đã trở thành cơ sở và động lực quan trọng thúc đẩy quá
trình thu hút FDI của Việt Nam.
Như vậy, có thể nói công cuộc đổi mới đất nước đã mở ra cơ hội lớn cho
Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp
nước ngoài nói riêng để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Vốn và sử dụng vốn FDI ở Việt Nam từ 1988 – 2008
Kể từ khi bắt đầu cuộc đổi mới đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn: tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao và ổn định

1
Trước năm 2000 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được coi như một chủ thể độc lập, một

tiên nên FDI vào Việt Nam rất khiêm tốn, tổng 3 năm chỉ đạt 1,79 tỷ USD và
chưa có tác động rõ rệt đến nền kinh tế- xã hội Việt Nam. Kết quả đó tuy nhỏ
nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta. Nó đánh dấu sự thành công
ban đầu của công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, thực hiện đường lối mở
rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Sau ba năm tiến hành thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta
đã cấp giấy phép cho 214 dự án với tổng vốn đăng ký 1417 triệu USD. Tốc độ
18
tăng trưởng hàng năm đạt 255/năm. Quy mô mỗi dự án đạt khoảng 7 triệu
USD/dự án. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu trong thời kì này là thăm dò dầu khí
32,2%, khách sạn 20,6% và bưu chính viễn thông, còn các lĩnh vực khác thì
rất ít hầu như chưa được triển khai. Tổng số vốn thực hiện của cả thời kì đạt
40 triệu USD băng 27% tổng vốn đăng kí.[4, tr 147]
Giai đoạn (1991- 1996): Đây là giai đoạn FDI tăng trưởng nhanh và
góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu xã hội. Giai đoạn này đã
thu hút 25,179 tỷ USD vốn đăng ký, tốc độ tăng trưởng hàng năm cao. Vốn
đăng ký năm 1991 là 1,322 tỷ USD thì năm 1996 là 8,497 tỷ USD, bằng 6,43
lần[4, tr148]. Sự hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã
tạo ra nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao, giá thành hạ đáp ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, các kết quả khả quan của các dự án thăm
dò dầu khí đã tạo cơ sở để phát triển ngành công nghiệp lọc dầu, hoá dầu
thành ngành công nghiệp mũi nhọn ở nước ta.
Giai đoạn (1997- 2003): Đây là thời kỳ suy thoái của FDI. Do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997. Vốn đăng ký bắt
đầu giảm từ năm 1997 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo. Năm 1996 vốn
đăng ký là 8,498 tỷ USD, thì năm 1997 chỉ bằng 50%, còn 4,649 tỷ USD. Tồi
tệ hơn là năm 1999 chỉ còn 1,568 tỷ USD và tiếp tục ngưng trệ cho đến năm

+ Cấp phép đầu tư từ 1988-2008
Tính đến cuối năm 2008, cả nước có hơn 10000 dự án ĐTNN được cấp
phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 159 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm).
Trong 3 năm 1988 -1990, mới thực thi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam nên kết quả thu hút vốn còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới
1,6 tỷ USD) [2, tr3] ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế -xã hội đất
nước.
Trong những năm 1991 - 1995, vốn ĐTNN đã tăng lên (1409 dự án với
tổng vốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình
20
kinh tế - xã hội đất nước. Thời kỳ 1991 - 1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ”
ĐTNN tại Việt Nam (có thể coi như “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt
Nam) với 1781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp
mới và vốn tăng thêm) 28,3 tỷ USD. [2, tr3] Đây là giai đoạn mà môi trường
đầu tư -kinh doanh tại Việt Nam đă bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu
tư - kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao
động với giá nhân công rẻ, thị trường mới, vì vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh
chóng, có tác động lan toả tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích
cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội của đất nước. Năm 1995 thu
hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD).
Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm
trước.[2, tr3]
Trong 3 năm 1997 - 1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng
ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm
1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8 % năm 1998), chủ
yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ [2, tr3]. Cũng trong thời gian này
nhiều dự án ĐTNN được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng

động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất - kinh doanh, tăng thêm vốn
đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4100
lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng
23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới [2, tr4]. Riêng năm 2008, số dự án
tăng vốn cũng rất lớn với 311 dự án đăng ký tăng vốn, với tổng số vốn đăng
ký tăng thêm là 3,74 tỷ USD.[39] Chỉ tính riêng số vốn tăng thêm của các dự
án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm 2008 đã tương đương với tổng số
vốn đăng ký mới trong một năm của đầu những năm 2000.
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng
doanh nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD
22
trong 5 năm 1991 -1995 thì ở giai đoạn 1996 - 2000 đã tăng gần gấp đôi so
với 5 năm trước (4,17 tỷ USD). Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm
đạt 7,08 tỷ USD (vượt 18% so với dự kiến là 6 tỷ USD, tăng 69% so với 5
năm trước. Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt
đầu từ năm 2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2
tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35%.[2, tr5]
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất
công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995;
65,7% trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005.
Trong 2 năm 2006-2007 tỷ lệ tương ứng là 80,2% và 79,1% tổng vốn tăng
thêm.[3, tr5] Riêng năm 2008 vốn tăng thêm đạt 3,7 tỷ USD.[39]
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong số vốn
tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao
nhất 66,8% trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000,
đạt 70,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006-2007 tỷ lệ tương ứng
là 72,1% và 80%.[2, tr5]

(Intel, Panasonic, Piaggio…). Đến năm 2008 thì quy mô dự án đã cao hơn rất
nhiều so với các năm trước (51,47 triệu USD/ dự án)[40]
+ Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988-2008
ĐTNN phân theo ngành nghề:
* Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài 1987, Việt Nam đã chú trọng
thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các
lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh
mục các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư. Trong những
năm 90 thực hiện chủ trương thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hành chính sách
ưu đãi, khuyến khích các dự án: sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu,
24
sản xuất hàng xuất khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), sử dụng
nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địa hóa cao.
Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2006), Việt Nam
đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với các dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao,
không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu
trong nước. Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công
nghiệp- xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản
vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ
cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện
tử. Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị tăng cao và Việt Nam
có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN. Nhờ vậy, cho đến nay các dự án ĐTNN
thuộc các lĩnh vực trên vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng
kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hàng
triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cực theo hướng gia
tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công nghệ thông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status