1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** LÊ THANH HÙNG NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP
TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆU TẠI
LƢU TRỮ LỊCH SỬ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: LƢU TRỮ HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC: LƢU TRỮ HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS, TS. ĐÀO XUÂN CHÚC
Hà Nội, 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân.
Trong quá trình nghiên cứu có tham khảo một số công trình nghiên
cứu có liên quan đã được công bố trước đây. Các thông tin, số liệu
trình bày trong luận văn được trích dẫn từ các nguồn tư liệu chính
thống.
BCH
Ban Chỉ huy
6
CP
Chính phủ
7
HĐND
Hội đồng nhân dân
8
HĐTĐKT
Hội đồng Thi đua Khen thưởng
9
NĐ
Nghị định
10
NHNN
Ngân hàng nhà nước
11
NQ
Nghị quyết
12
NVTW
Nghiệp vụ Trung ương
13
PL
Pháp lệnh
14
QĐ
Quyết định
15
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 11
1.1. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng 11
1.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm
Lƣu trữ thành phố Đà Nẵng 12
1.3. Các nguồn tài liệu đang bảo quản tại Trung tâm Lƣu trữ
thành phố Đà Nẵng 16
1.3.1. Nguồn tài liệu của HĐND và Uỷ ban nhân dân 16
1.3.2. Nguồn tài liệu của các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp
thuộc nguồn nộp lưu vào Trung tâm Lưu trữ thành phố. 18
1.4. Thành phần tài liệu tại Trung tâm Lƣu trữ thành phố Đà Nẵng
20
1.4.1. Tài liệu hành chính 20
1.4.2. Tài liệu khoa học công nghệ 20
1.4.4. Tài liệu điện tử 22
1.5. Nội dung tài liệu 22
1.6. Ý nghĩa của tài liệu 23
1.6.1. Trong lĩnh vực chính trị. 23
1.6.2. Trong lĩnh vực kinh tế. 24
1.6.3. Trong lĩnh vực văn hóa xã hội. 25
1.6.4. Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật. 26
1.6.5. Trong hoạt động quản lý của cơ quan 26
Chƣơng 2. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC KHOA HỌC TÀI LIỆU TẠI TRUNG
TÂM LƢU TRỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28
2.1. Sự cần thiết phải tổ chức khoa học tài liệu tại Trung tâm Lƣu
trữ thành phố Đà Nẵng. 28
2
2.2. Tình hình thu thập, bổ sung tài liệu vào Trung tâm Lƣu trữ
thành phố Đà Nẵng. 29
2.3. Thực trạng tổ chức khoa học tài liệu tại Trung tâm Lƣu trữ
thành phố Đà Nẵng. 37
Tại khoản 3, điều 2, Luật số 01/2011/QH13 quy định:“Tài liệu lưu trữ
là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử
được lựa chọn để lưu trữ.
Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không
còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp” [20]
Thực tiễn đã chứng minh rằng, tài liệu lưu trữ là một trong những
nguồn lực thông tin quan trọng đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của
các quốc gia trên thế giới. Chúng được sử dụng như một công cụ để xây dựng
và củng cố chế độ chính trị; là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã
hội; góp phần giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa của dân tộc; là “Nguyên
liệu” không thể thiếu, trong việc đảm bảo chất lượng và độ tin cậy cho các
luận cứ và kết luận của các công trình khoa học.Trong hoạt động hàng ngày,
tài liệu lưu trữ ghi lại hầu hết các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin giúp cơ quan xây dựng chủ trương,
chính sách, các biện pháp công tác, chương trình kế hoạch ngắn hạn, dài hạn,
sơ kết, tổng kết tình hình hoạt động; giải quyết các vấn đề về chế độ chính
sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và các nhu cầu chính đáng khác của
công dân.
Cách đây 67 năm, ngày 03 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh -
Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã ký Thông
đạt số 1CP/VP gửi các ông Bộ trưởng trong đó nêu rõ: “Xét rằng một vài
công sở đã tự tiện huỷ bỏ hay bán các công văn và hồ sơ cũ. Hành động ấy có
tính cách phá hoại, vì sợ làm mất những tài liệu có giá trị đặc biệt về phương
2
diện kiến thiết quốc gia. Vậy yêu cầu các ông Bộ trưởng ban chỉ thị cho nhân
viên các sở phải gìn giữ tất cả các công văn, tài liệu và cấm không được huỷ
những công văn, tài liệu ấy nếu không có lệnh trên rõ rệt cho phép huỷ bỏ.
Xin nhắc rằng những hồ sơ hoặc công văn không cần dùng sau này sẽ phải
gửi về những sở lưu trữ công văn thuộc Bộ quốc gia Giáo dục tàng trữ.
Những viên chức không tuân lệnh này sẽ bị nghiêm trị” [45]. Văn bản này
Đà Nẵng lần lượt được thành lập và đi vào hoạt động. Tài liệu do các cơ quan
này sản sinh ra được lập thành các phông lưu trữ riêng. Tài liệu các cơ quan
thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng từ năm 1996 trở về trước lập thành các
phông lưu trữ riêng do các cơ quan thuộc thành phố Đà Nẵng quản lý.
Trước yêu cầu của tình hình mới, UBND lâm thời thành phố đã quyết
định thành lập các cơ quan chuyên môn trực thuộc để quản lý nhà nước trên
các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của UBND. Đây cũng là cơ sở hình
thành các phông lưu trữ của các cơ quan thuộc thành phố Đà Nẵng. Sau 15
năm kể từ ngày trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, cùng với sự phát
triển của thành phố là sự gia tăng không ngừng của tài liệu lưu trữ, trong đó
phải kể đến khối tài liệu của các cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu
vào Lưu trữ lịch sử của thành phố. Đây là khối tài liệu có giá trị cao, phản ánh
hầu hết các lĩnh vực hoạt động của địa phương.
Tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2013, Lưu trữ lịch sử thành
phố Đà Nẵng (trong luận văn này, chúng tôi gọi là Trung tâm Lưu trữ thành
phố Đà Nẵng) đang là đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng UBND thành phố.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực…nên
trong những năm qua thành phố Đà Nẵng chưa thành lập Chi cục Văn thư
Lưu trữ theo Thông tư số 02/2010/TT-BNV ngày 24/8/2010 của Bộ Nội vụ
hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức văn thư
lưu trữ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các
cấp. Hiện nay, Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng đang bảo quản một
khối lượng tài liệu tương đối lớn, có giá trị về nhiều mặt, trong đó có khối tài
liệu của các cơ quan thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng từ 1975 đến 1996 và tài
liệu của các cơ quan thuộc thành phố Đà Nẵng từ 1997 đến nay.
4
Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, công
tác lưu trữ của thành phố đã có những bước tiến đáng kể, đáp ứng một phần
nhu cầu cung cấp thông tin phục vụ quá trình xây dựng và phát triển. Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề tổ chức khoa học tài liệu tại
- Đề xuất các giải pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương
nhằm tổ chức khoa học tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Giới thiệu vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trung tâm
Lưu trữ thành phố Đà Nẵng.
- Khảo sát thành phần, nội dung, ý nghĩa, thống kê khối lượng tài liệu
đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng; khái quát hệ
thống cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của hoạt động tổ chức khoa học tài liệu.
- Đánh giá thực trạng tổ chức khoa học tài liệu và đề xuất các giải pháp
góp phần nâng cao chất lượng công tác tổ chức khoa học tài liệu tại Trung
tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi sau:
- Nguồn, thành phần, nội dung, ý nghĩa của khối tài liệu hành chính
đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng, đề tài không đề cập
đến các loại hình tài liệu khác.
- Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và tình hình thực tế của hoạt động tổ
chức khoa học tài liệu như phân loại, xác định giá trị và tổ chức hệ thống
công cụ tra cứu khoa học tài liệu lưu trữ.
- Các giải pháp tổ chức khoa học tài liệu như: Giải pháp về tổ chức -
cán bộ; về xây dựng ban hành văn bản; về cơ sở vật chất, tài chính; giải pháp
thu thập bổ sung tài liệu và giải pháp nâng cao các hoạt động nghiệp vụ tổ
chức khoa học tài liệu như phân loại, xác định giá trị tài liệu và xây dựng
cong cụ tra cứu khoa học tài liệu.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng sau đây:
6
- Các quy định của các cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương về
tổ chức khoa học tài liệu.
thực tiễn về công tác tổ chức mạng lưới kho lưu trữ ở Việt Nam” của tác giả
Vương Đình Quyền; “Cơ sở khoa học của việc xác định giá trị tài liệu quản
lý nhà nước thời kỳ DCND và XHCN để lựa chọn, bổ sung vào Trung tâm lưu
trữ Quốc gia” của tác giả Dương Văn Khảm;
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, trong thời gian qua còn có
khá nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo, bàn hoặc nghiên
cứu, trao đổi về nghiệp vụ liên quan đến tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ như
phân loại, xác định giá trị tài liệu, xây dựng công cụ tra tìm tài liệu lưu trữ.
Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu nêu trên các tác giả đã tập
trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình và đề xuất các giải pháp, đáp
ứng phần nào yêu cầu về cơ sở lý luận và thực tiễn công tác tổ chức khoa học
tài liệu tại các kho lưu trữ. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu này
chỉ đề cập đến công tác tổ chức khoa học hoặc một nghiệp vụ cụ thể trong
công tác tổ chức khoa học tài liệu tại một kho, một phông lưu trữ, một loại
hình tài liệu cụ thể hoặc chỉ mới giải quyết vấn đề ở mức độ tìm hiểu trong
một phạm vi nhỏ hẹp. Đối với lưu trữ lịch sử cấp tỉnh, đặc biệt là tại Trung
tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng, cho đến thời điểm hiện tại chưa có công
trình nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá chính xác thực trạng công tác này. Trên
cơ sở đó có những giải pháp hữu hiệu để khắc phục những hạn chế, yếu kém,
góp phần làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của công tác lưu trữ trong việc giữ gìn
“Di sản của dân tộc”. Điểm khác biệt của đề tài này so với các công trình
nghiên cứu trước đó là, nó đề cập đến công tác tổ chức khoa học tại Lưu trữ
lịch sử cấp tỉnh, đây là nơi bảo quản nhiều phông lưu trữ được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau và nhiều loại hình tài liệu khác nhau.
7. Nguồn tài liệu tham khảo
Để hoàn thành luận văn văn này, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài
liệu tham khảo sau:
Một là, các giáo trình, bài giảng, tài liệu lý luận về khoa học nghiệp vụ
lưu trữ như Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ của các tác giả Đào Xuân
8
9
- Phương pháp tổng hợp được vận dụng để tổng hợp thông tin, tư liệu
viết luận văn khoa học.
- Phương pháp hệ thống, được vận dụng để nghiên cứu hệ thống văn
bản quy định, hướng dẫn các hoạt động nghiệp vụ lưu trữ; xây dựng bố cục
của của luận văn
9. Đóng góp của luận văn
Báo cáo nghiên cứu khoa học của đề tài là sản phẩm phản ánh hiện
trạng công tác tổ chức khoa học tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà
Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công
tác lưu trữ phục vụ yêu cầu phát triển của khu vực nói riêng và của đất nước
nói chung. Đề tài còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo, áp dụng để tổ
chức khoa học tài liệu tại Lưu trữ lịch sử tỉnh, thành phố khác. Ngoài ra còn
có thể dùng làm tài liệu giảng dạy, học tập, tham khảo, nghiên cứu của giảng
viên, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có đào tạo ngành
Văn thư Lưu trữ hoặc liên quan đến công tác Văn thư Lưu trữ hoặc làm tài
liệu tham khảo cho cán bộ lưu trữ tại các cơ quan.
10. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có 03 chương
Chƣơng 1. Sự hình thành các nguồn tài liệu, thành phần, nội dung
và ý nghĩa của tài liệu tại Trung tâm Lƣu trữ thành phố Đà Nẵng
Trong chương này, chúng tôi trình bày tổng quan về thành phố Đà
Nẵng; giới thiệu vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế của
Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng; sự hình thành các nguồn tài liệu,
thành phần, nội dung, ý nghĩa của tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ thành
phố Đà Nẵng.
Chƣơng 2. Thực trạng công tác tổ chức khoa học tài liệu tại Trung
tâm Lƣu trữ thành phố Đà Nẵng
Trong chương này, chúng tôi trình bày sự cần thiết phải tổ chức khoa
học tài liệu tại Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, còn tập trung
11
NỘI DUNG
Chƣơng 1
SỰ HÌNH THÀNH CÁC NGUỒN TÀI LIỆU,
THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, Ý NGHĨA CỦA TÀI LIỆU LƢU TRỮ
TẠI TRUNG TÂM LƢU TRỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng là trung điểm của cả nước, phía Bắc giáp tỉnh
Thừa Thiên - Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp
biển Đông. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc,
cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách thành phố Huế
108km về hướng Tây Bắc. Đây là một thành phố vừa có núi cao, sông sâu,
đồi dốc trung du xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Đà Nẵng nằm ở trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết
mạch Bắc Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không,
là cửa ngõ giao thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên, là điểm
cuối của hành lang kinh tế Đông Tây đi qua các nước Myanma, Lào, Thái
Lan. Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng lúc bấy giờ là thành phố thuộc tỉnh
Quảng Nam - Đà Nẵng bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của
cuộc chiến tranh. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và
phát triển thành phố đã đạt được nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới, sau
1986.
Năm 1996, Đà Nẵng được chia tách từ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng và trở
thành thành phố trực thuộc Trung ương. Sau hơn 15 năm xây dựng và phát
triển, Đà Nẵng ngày nay đã và đang trở thành một trong những tỉnh, thành
phát triển mạnh nhất ở nước ta. Trong những năm qua, cùng Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân thành phố đoàn kết một lòng xây dựng cơ sở hạ tầng,
đốc phụ trách do Chủ tịch UBND thành phố bổ nhiệm, 01 phó Giám đốc do
Chánh văn phòng UBND thành phố bổ nhiệm trên cơ sở thỏa thuận với Ban
Tổ chức Chính quyền (nay là Sở Nội vụ) thành phố và có bộ phận quản lý
nghiệp vụ chuyên môn giúp việc quản lý kho.
13
Ngày 01 tháng 02 năm 2005, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số
21/2005/TT BNV Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của
tổ chức Văn thư, Lưu trữ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ và
Uỷ ban nhân dân (sau đây gọi tắt là Thông tư 21). Để thống nhất quản lý nhà
nước về công tác lưu trữ tại địa phương, ngày 30 tháng 12 năm 2006, UBND
thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 9357/QĐ-UBND Về việc thành
lập lại Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng, trực thuộc Văn phòng UBND
thành phố trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng được
thành lập tại Quyết định số 3128/QĐ-UB ngày 06 tháng 6 năm 1998 của
UBND thành phố Đà Nẵng (sau đây gọi tắt là Quyết định 9357).
Về chức năng
Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng là đơn vị sự nghiệp, có chức
năng lưu trữ lịch sử, chịu sự quản lý, chỉ đạo của Chánh văn phòng UBND
thành phố, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu theo quy định và
được mở tài khoản để giao dịch.
Về nhiệm vụ: Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng có những nhiệm
vụ sau:
- Xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và hàng năm về tài liệu lưu trữ
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức thực hiện thu thập, chỉnh lý, xác
định giá trị, bảo quản và khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ của thành phố.
- Thực hiện thống kê, báo cáo về tài liệu lưu trữ
- Thực hiện một số dịch vụ công về công tác lưu trữ theo quy định của
pháp luật
- Quản lý tài chính, tài sản, viên chức của Trung tâm theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chánh văn phòng UBND thành phố giao.
thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh) quản lý nhà nước về văn thư,
lưu trữ của tỉnh và trực tiếp quản lý tài liệu lưu trữ lịch sử của tỉnh theo quy
định của pháp luật. Chi cục Văn thư - Lưu trữ chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ
chức, biên chế và hoạt động của Sở Nội vụ, đồng thời chịu sự hướng dẫn về
chuyên môn, nghiệp vụ của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước trực thuộc Bộ
Nội vụ. Chi cục Văn thư - Lưu trữ là tổ chức có tư cách pháp nhân, con dấu,
15
có tài khoản riêng, có trụ sở, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp
theo quy định pháp luật” [49].
Tuy nhiên, tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2013, việc tổ chức
bộ máy quản lý lưu trữ tại thành phố Đà Nẵng vẫn chưa được thống nhất.
Hiện tại vẫn đang tồn tại hai cơ quan lưu trữ khác nhau, đó là: phòng Quản lý
Văn thư Lưu trữ trực thuộc sở Nội vụ và Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà
Nẵng thuộc Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng.
Về nhân sự: Tính đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013, số lượng biên
chế của Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng là 13 người. Trong đó có
Giám đốc, 02 phó Giám đốc và 10 viên chức chuyên môn nghiệp vụ (xem
bảng thống kê sau):
Nội dung báo cáo
Đơn vị tính
Số lƣợng
A
B
01
Tổng số đơn vị trực thuộc
Đơn vị
Tổng số đơn vị báo cáo
Đơn vị
10
+ Kiêm nhiệm các công tác khác
Người
- Trình độ chuyên môn - nghiệp vụ + Trên đại học chuyên ngành văn thư, lưu trữ
Người
00
+ Trên Đại học khác
Người
00
+ Đại học chuyên ngành văn thư, lưu trữ
Người
04
+ Đại học khác
Người
02
+ Trung cấp văn thư, lưu trữ
Người
07
+ Trung cấp khác
Người
00
16
Nội dung báo cáo
Đơn vị tính
Số lƣợng
+ Sơ cấp
Người
03
+ Từ 46 đến 55
Người
02
+ Trên 55
Người
00
(Nguồn: Trích Báo cáo thống kê cơ sở công tác lưu trữ năm 2013 của
Trung tâm Lưu trữ thành phố Đà Nẵng, ngày 31/01/2014)
1.3. Các nguồn tài liệu đang bảo quản tại Trung tâm Lƣu trữ
thành phố Đà Nẵng
Chúng ta biết rằng, trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được
giao, các cơ quan, tổ chức sản sinh ra một khối lượng tài liệu nhất định, là
nguồn tài liệu chủ yếu tại các Lưu trữ lịch sử. Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi
nhận thấy nguồn tài liệu đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ thành phố
Đà Nẵng chủ yếu được hình thành từ các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp
và một số tổ chức kinh tế trên địa bàn thành phố. Trong đó, tiêu biểu là các
nguồn tài liệu sau:
1.3.1. Nguồn tài liệu của HĐND và Uỷ ban nhân dân
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương
bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước
cấp trên.HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát
huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế -
17
xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối
với cả nước. HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường
Nẵng (cũ), từ năm 1975 đến 1996 và phông lưu trữ UBND thành phố Đà
Nẵng từ 1997 đến nay.
1.3.2. Nguồn tài liệu của các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp
thuộc nguồn nộp lƣu vào Trung tâm Lƣu trữ thành phố.
Cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp là những tổ chức do UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập thực hiện chức năng quản lý
ngành và lĩnh vực của địa phương. Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04
tháng 02 năm 2008 Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Kế
hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi
trường, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội,
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và
Đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng UBND.
Ngoài ra còn có các cơ quan chuyên môn được tổ chức theo đặc thù
riêng của từng địa phương như: Sở Ngoại vụ, Ban Dân tộc, Sở Quy hoạch -
Kiến trúc (được thành lập ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Qua tìm
hiểu, chúng tôi nhận thấy hệ thống các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự
nghiệp, tổ chức kinh tế của thành phố Đà Nẵng hiện nay gồm:
TT
Tên cơ quan
KHỐI SỞ, BAN NGÀNH
1.
BQL các khu công nghiệp và chế xuất
2.
Sở Công thương
3.
Sở Giáo dục và Đào tạo
4.
18.
Thanh tra
19.
Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố
20.
Văn phòng UBND thành phố
21.
Ban Quản lý đầu tư xây dựng Khu công nghệ cao
KHỐI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
1.
Đài Phát thanh và Truyền hình
2.
Trung tâm Xúc tiến đầu tư
3.
Trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng
4.
Quỹ Đầu tư phát triển Đà Nẵng
5.
Viện nghiên cứu Phát triển KT-XH Đà Nẵng
6.
Trung tâm Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao TP Đà Nẵng
KHỐI CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ
1
Công ty TNHH một thành viên Thương mại Quảng Nam Đà Nẵng
2
Công ty TNHH MTV Quản lý và Kỹ thuật Công trình thủy lợi
3
Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết và dịch vụ in