Nhân vật phản diện trong tiểu thuyết hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945 - Pdf 25

Đại học quốc gia Hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
o0o
Vũ Thị Lan Nhân vật phản diện trong tiểu thuyết hiện thực phê
phán việt nam 1930 –1945

Nhân vật phản diện trong tiểu thuyết hiện thực phê
phán việt nam 1930 –1945

(Qua Giông tố của Vũ Trọng Phụng, bước đường cùng của Nguyễn Công
Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí phèo của Nam cao)

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 5.04.33 Luận văn thạc sỹ khoa học ngữ văn
Người hướng dẫn: Giáo sư Hà Minh Đức
II. Các loại nhân vật phản diện trong một số tác phẩm văn học hiện thực
phê phán 1930 - 1945 40
1. Hệ thống nhân vật phản diện không tên tuổi, không lai lịch rõ ràng 40
2. Các nhân vật phản diện có tên tuổi, có lai lịch rõ ràng 47
2.1. Những đặc điểm gần gũi và giống nhau 48
2.2. Bản chất riêng của từng nhân vật 53
a. Nghị Quế 53
b. Nghị Hách 57
c. Nghị Lại 61
d. Bá Kiến 63
Chƣơng Iv. Các thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật phản diện 68
I. Xây dựng nhân vật Phản diện qua việc miêu tả ngoại hình. 68
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 4

II. Xây dựng nhân vật phản diện qua việc miêu tả hành động. 72
III. Xây dựng nhân vật phản diện qua việc đặc tả tính cách. 80
1.Tính cách Nghị Hách. 81
2.Tính cách nghị Lại. 85
3. Tính cách Nghị Quế. 88
4.Tính cách Bá Kiến. 91
IV. Xây dựng nhân vật phản diện qua việc miêu tả ngôn ngữ. 92
1. Ngôn ngữ của Nghị Hách. 93
2. Ngôn ngữ Nghị Lại. 96
3. Ngôn ngữ Nghị Quế. 97
4. Ngôn ngữ Bá Kiến 98
Chƣơng IV: Cách xây dựng loại nhân vật 102
phản diện. 102
I .Cách xây dựng nhân vật phản diện của Vũ Trọng Phụng 102

tất Tố; “Chí Phèo” của Nam Cao; “Bước đường cùng” của Nguyễn Công
Hoan; “Giông tố” của Vũ Trọng Phụng. Những tác phẩm này đã đi sâu
khám phá hiện thực cuộc sống của con người trong mỗi làng quê Việt
Nam. Có những nhà văn như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan
đã sáng tác những nhân vật của mình theo phong cách “quê một cục”, điển
hình như: chị Dậu, cái Tý, Chí Phèo, Bá Kiến, anh Pha, Năm thọ, Binh
Chức, Nghị Quế, Nghị Lại, thậm chí đến cả cái tên cũng rất „quê mùa”.
Khác với phần đông các nhà văn cùng thời, Vũ Trọng Phụng đã bước đầu
đi vào mảng đề tài mới, đó là đề tài về thành thị Việt Nam trong hoàn cảnh
xã hội đang đi vào con đường “á Âu xáo trộn”, “cũ mới tranh giành”, “mưa
Âu gó Mỹ”, Các nhân vật mà ông quan tâm phần nhiều là nhân vật thành
thị với hành động, lối sống, cách suy nghĩ, rất thành thị, ví dụ như: Xuân
tóc đỏ, bà phó Đoan, vợ chồng Văn Minh, cụ cố Hồng trong “Số Đỏ”. Bên
cạnh còn có nhiều nhân vật nửa nông thôn, nửa thành thị như kiểu Nghị
Hách trong “Giông Tố”,
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 6

Cho dù thành công ở mảng đề tài nào đi chăng nữa thì độc giả luôn
khẳng định rằng văn học hiện thực phê phán Viêt Nam 1930-1945 là giai
đoạn văn học có nhiều thành tựu, phản ánh một cách chân thực và sâu sắc
hiện thực cuộc sống như những gì nó vốn diễn ra. Nhưng, có một điều mà
chúng tôi thấy là từ trước tới nay, khi nghiên cứu những tác phẩm này, các
nhà nghiên cứu chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, tìm hiểu, về
các nhân vật chính diện như: chị Dậu, Chí Phèo, anh Pha, lão Hạc, mà ít
tập trung nghiên cứu tuyến nhân vật phản diện, hoặc có chăng chỉ là những
bài nhỏ, chưa có chiều sâu, chưa trở thành hệ thống. Vì vậy, chúng tôi thiết
nghĩ rằng phải quan tâm đến hệ thống các nhân vật phản diện trong dòng
văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930-1945. Có làm được như vậy

nghiên cứu mang tính chất lẻ tẻ, thoáng qua về các loại nhân vật phản diện,
in trong một số cuốn sách, một số cuốn tạp chí văn học,
Điển hình là: “Một nhà văn của dân quê-Ngô Tất Tố trong Tắt đèn”
của tác giả Trần Minh Tước in trong cuốn “Ngô Tất Tố-tác giả-tác phẩm”;
“Tắt đèn của Ngô tất Tố” của nhà văn Vũ Trọng Phụng; “Tắt đèn-tiểu
thuyết của Ngô Tất Tố” của tác giả Phú Hương; “Đọc Tắt đèn của Ngô Tất
Tố” của nhà văn Nguyễn Công Hoan; “Tắt đèn-cuốn tiểu thuyết hiện thực
xuất sắc” của Hồng Chương; “Những đóng góp của Ngô tất Tố trong Tắt
đèn” của tác giả Phong Lê; “Tắt đèn của Ngô Tất Tố” của Nguyễn Đăng
Mạnh; “Tắt đèn” của giáo sư Phan Cự Đệ,
“Bước đường cùng-tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan” tác giả
Trương Chính; “Đọc lại „Bước đường cùng‟ của Nguyễn Công Hoan” của
tác giả Nam Mộc
“Qua truyện ngắn „Chí Phèo‟ bàn thêm về cái nhìn hiện thực của
Nam Cao” tác giả Trần Tuấn Lộ; “Con người bị từ chối làm người trong
truyện „Chí Phèo‟ của Nam Cao”,
“Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng” của Đinh Trí Dũng; “Vũ
Trọng Phụng và xã hội Việt Nam thời hiện đại” của giáo sư Hà Minh Đức;
“Tìm hiểu lịch sử cái gọi là vấn đề Vũ Trọng Phụng” của tác giả Phong Lê;
“Vấn đề Vũ Trọng Phụng và sự phê phán Âu hoá” của GS-TS. Niculin;
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 8

“Cá tính sáng tạo và đặc điểm tiểu thuyết hiện thực Vũ Trọng Phụng” của
PGS-TS Trần Đăng Suyền; “Tính hiện đại trong văn chương Vũ Trọng
Phụng” của tác giả TS. Vũ Tuấn Anh; “Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại
nội tâm trong tiểu thuyết hiện thực của Vũ Trọng Phụng” của tác giả TS.
Đinh Trí Dũng,
Như vậy, thông qua sự khảo sát trên đây, chúng tôi thấy rằng vấn đề

5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trong luận văn này, chúng tôi đề ra cho bản thân những nhiệm vụ
sau đây:
- Thứ nhất nghiên cứu cơ sở xã hội để xuất hiện những loại
nhân vật phản diện trong sáng tác văn học.
- Thứ hai phải nghiên cứu những loại nhân vật phản diện trong
văn học truyền thống để so sánh, đối chiếu với các loại nhân vật phản diện
trong một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán 1930-1945.
- Thứ ba phải nghiên cứu các thủ pháp nghệ thuật xây dựng
nhân vật phản diện.
- Cuối cùng phải làm sáng tỏ cách xây dựng nhân vật phản diện
của từng nhà văn.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa
Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm, chính sách của
Đảng, Nhà nước ta về văn nghệ nói chung và văn học nói riêng cũng như
dựa trên kiến thức về lý luận văn học, tác phẩm văn học, ngôn ngữ văn học
mà tác giả luận văn đã tích luỹ được.
- Trên cơ sở sưu tầm, chọn lọc, khái quát các tác phẩm văn học,
các tài liệu có liên quan, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
7. Cấu trúc của luận văn.
Luận văn này ngoài phần mở đầu, kết luận gồm năm chương:
Chương I : Cơ sở xã hội xuất hiện nhân vật phản diện trong sáng tác
văn học.
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 10

Chương II : Những loại nhân vật phản diện trong văn học truyền

Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 11

CHƢƠNG I: Cơ sở xã hội để xuất hiện nhân vật phản diện
trong sáng tác văn học .

Trong lịch sử Việt Nam, bước sang thế kỷ 20, thời kỳ 1930 – 1945
là một thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt, từ
đó dẫn đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng và ý thức hệ, những sự
tác động qua lại hết sức phức tạp của các khuynh hướng và phương pháp
sáng tác khác nhau. Đó là thời kỳ chủ nghĩa thực dân kiểu cũ sắp đến ngày
cáo chung trên bán đảo Đông Dương, đế quốc Pháp ngày càng phơi trần bộ
mặt nham hiểm và tàn bạo còn bọn phát xít Nhật thì nuôi tham vọng làm
bá chủ vùng châu á – Thái Bình Dương. Nhưng từ năm 1930 dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, phong trào công nhân và các phong
trào yêu nước khác như những đợt sóng thần, ngày một dâng cao, liên tiếp
đập vào thành luỹ của bọn cướp nước và bán nước, tạo nên thế tức nước vỡ
bờ mùa thu năm 1945. Cách mạng tháng Tám của Việt Nam là cuộc cách
mạng đầu tiên trên thế giới diễn ra ở một nước thuộc địa với nền nông
nghiệp lạc hậu. Đó cũng là cuộc cách mạng có quy mô toàn quốc thứ hai
trên Thế giới ( sau Liên Xô), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến những cuộc
đấu tranh của các hình thái ý thức trong kiến thúc thượng tầng. Hệ tư
tưởng tư sản (bao gồm cả tư tưởng thực dân) cấu kết với hệ tư tưởng
phong kiến lỗi thời đấu tranh chống lại hệ tư tưởng vô sản. Những sự xung
đột đan chéo lẫn nhau giữa các hệ tư tưởng làm cho cục diện chính trị, kinh

Pháp, tỷ trọng kinh tế tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, nước ta bị kéo vào quỹ
đạo của chủ nghĩa tư bản, nhưng không được công nghiệp hoá mà lại biến
thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liêụ, hàng xuất khẩu cho
thương nghiệp Pháp. Lợi nhuận vào túi tư bản Pháp còn nhân dân ta bị bần
cùng hoá, phá sản trở thành nguồn nhân công rẻ mạt cho các hãng buôn,
các chủ thầu, chủ đồn điền của Pháp. Trong điều kiện ruộng đất bị chiếm
đoạt tập trung trong tay thực dân Pháp và quan lại tay sai, nhân công thừa,
rẻ mạt không đủ phát triển để thu nạp hết, kinh doanh theo lối phong kiến
vừa tốn ít vốn, vừa thu được nhiều lợi, vừa nhàn rỗi, vừa chắc chắn. Phụ
thuộc vào một nước tư bản, nước ta không thể giải thoát khỏi sự trì trệ của
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 13

nền kinh tế phong kiến. Tuy nước Pháp là một cường quốc tư bản chủ
nghĩa nhưng chủ nghĩa thực dân Pháp không phá hoại kinh tế phong kiến
mà ngược lại nó duy trì thậm chí củng cố nền sản xuất đó trên cơ sở phân
phối ruộng đất mới, phân bố sản xuất mới. Chính sách kinh tế phản động
ấy để lại nhiều hậu quả xấu và kéo dài cho nền kinh tế nước ta. Chính sách
về kinh tế phản động ấy tạo nên sự mâu thẫn gay gắt giữa hai giai cấp
thống trị và bị trị nhưng lại là mảnh đất mầu mỡ cho giai cấp địa chủ
phong kiến tồn tại và phát triển mạnh mẽ.
2. Về chính trị: Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị chuyên
chế, điển hình của thực dân kiểu cũ, trực tiếp cai trị nắm giữ các chức vụ
chủ chốt trong bộ máy nhà nước thuộc địa từ toàn quyền đến thống sứ,
khâm sứ, thống đốc, công sứ, biến giai cấp phong kiến và tư sản mại bản
thành những kẻ tay sai đắc lực, cùng chính sách đàn áp, khủng bố hết sức
dã man, tàn bạo, thực dân Pháp còn thi hành chính sách “chia để trị” rất
thâm độc. Chúng chia nước ta thành 3 miền với ba hình thức cai trị khác
nhau, nhằm chia rẽ dân tộc, gây thành kiến giữa người Bắc, người Trung

các thành viên gồm tư lệnh Nam kỳ và Cao Miên, Tư lệnh Hải quân và
trưởng lý. Hội đồng quản hạt hay còn gọi là Hội đồng thuộc địa gồm các
đại diện dân cử mà đa số là pháp kiều. Tính chất của hội đồng quản hạt
như một Hạ viện của địa phương đối với chính quốc, có quyền thảo luận,
biểu quyết ngân sách, tư vấn về chính trị, kinh tế. Tổ chức hành chính địa
phương được thể hiện như sau: Nam kỳ gồm 20 tỉnh, đứng đầu tỉnh là các
chức Chánh Tham biện còn gọi là chủ tỉnh người Pháp. ở tỉnh còn có hội
đồng tỉnh hạt do dân bầu có nhiệm vụ biểu quyết ngân sách hàng tỉnh.
Dưới tỉnh là quận. Đứng đầu quận là viên Đốc phủ sứ (còn gọi là chủ
quận) người Pháp. ở quận nhỏ là chức Đốc phủ sứ người Việt. Dưới quận
là Tổng, do chức cai tổng đứng đầu. Cai tổng do dân bầu nhưng phải được
thống đốc chấp thuận và bổ nhiệm. Dưới tổng là xã, do ban hội tề quản lý,
đứng đầu là chức hương cả, dưới có hương chủ, hương sư, hương chính.
Chính quyền bảo hộ ở Bắc và trung Kỳ được chính thức thiết lập
thông qua điều ước Quý Mùi (1883) và được hoàn thiện qua điều ước Giáp
Thân (1884). Theo đó, Bắc kỳ (từ Ninh Bình trở ra Bắc), ở mỗi tỉnh có một
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 15

viên công sứ người Pháp đứng đầu còn Trung kỳ là phần đất từ Bình
Thuận đến thanh hoá do triều Nguyễn cai trị như cũ, nhưng ở đây treo chế
độ “nửa bảo hộ”, bên cạnh vua Nguyễn còn có một viên khâm sứ người
Pháp ở Huế để trực tiếp điều khiển công việc đối nội và đối ngoại. Việc
quân sự và trị an do người pháp đảm nhiệm hoàn toàn.
Bắc kỳ là xứ bảo hộ, đứng đầu viên thống sứ người Pháp, giữ quyền
quyết định về các vấn đề hành chính, chính trị, kinh tế của toàn xứ. Giúp
việc cho thống sứ là một đổng lý sự vụ, thường được gọi là phó thống sứ
cùng giám đốc các sở chuyên môn của xứ. Thuộc phủ thống sứ có một văn
phòng ở Bắc kỳ còn có một hội đồng bảo hộ do thống sứ làm chủ tịch và

công sứ. Dưới tỉnh là phủ do tri phủ đứng đầu. Dưới nữa là tổng do Chánh,
Phó tổng đứng đầu. Dưới tổng là xã do Hội đồng kỳ mục chịu trách nhiệm
về mọi mặt, đứng đầu là Tiên chỉ, Thứ chỉ. Thi hành công việc và chịu
tràch nhiệm với cấp trên là Lý trưởng, Phó lý và ban ngũ hương giúp việc.
Năm 1921, thống sứ Bắc kỳ ký nghị định cải tổ lại chế độ hương thôn. Mỗi
xã do hương hội quản lý gồm các tộc biểu do dân bầu ra. Đứng đầu là
chánh huơng hội, có phó hương hội giúp việc. ở Trung kỳ vẫn giữ nguyên
như cũ.
Như vậy, muốn nắm chặt thuộc địa, Thực dân Pháp cần nắm chắc
chính quyền các cấp và kiểm soát chặt chẽ nhân dân. Chúng cần có bộ máy
cai trị trung thành và đắc lực, cần tạo được một cơ sở xã hội thích hợp với
chế độ của chúng. Thực dân Pháp vừa mua chuộc vừa hạ uy thế vừa uy
hiếp khuất phục tầng lớp thân sĩ, nho sĩ là tầng lớp có cội rễ và có tín
nhiệm lớn ở nông thôn, có uy quyền với cả bọn hương lý, thân sĩ, nho sĩ là
lực lượng hậu bị của bộ máy quan lại. Chính sách của thực dân đã tác động
đến tầng lớp quý tộc, thân hào. Muốn giữ chặt lấy quyền lợi, địa vị, bọn
chúng ra sức làm việc cho Pháp. ở nông thôn bọn thầy Chánh, thầy Lý ít
lâu trước đó còn là người chạy việc, khúm núm, vâng dạ nghe theo các
thân sĩ nay bỗng trở thành người có quyền hành thật sự được quan sứ bênh
vực, giúp cho tậu ruộng, chiếm vườn, xây dựng dinh cơ chẳng bao lâu nữa
sẽ thành ông Nghị. Phản ánh vấn đề này đã có nhiều tác phẩm văn học
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 17

hiện thực phê phán đề cập đến nhưng phải nói rằng tác phẩm Tắt Đèn của
Ngô Tất Tố đã thể hiện sâu sắc hơn cả.
Trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố có đầy đủ một hệ thống,
một bộ máy cai trị. Ngay ở chương I và chương II của tác phẩm, cả một bộ
máy thống trị ở địa phương đã được hiện lên một các cụ thể: đứng đầu là

đánh lạc hướng và làm xì hơi phong trào cách mạng. Thực dân Pháp thò
tay nham hiểm nắm mấy phong trào văn hoá có xu hướng cải lương tư sản
(phong trào âu hoá, vui vẻ trẻ trung, hội ánh sáng, hội hướng đạo ) và
những hoạt động tôn giáo nhằm ru ngủ và đánh lạc hướng thanh niên.
Thống sứ Stalen rất chăm lo tổ chức thi sắc đẹp và gây phong trào chợ
phiên. Stalen còn là người đỡ đầu cho hội ánh sáng mà hội ánh sáng chỉ là
một tổ chức phỏng theo mô hình sẵn có của bọn thực dân, nhằm lôi kéo
thanh niên và trí thức vào con đường cải lương tư sản và tất nhiên là có lợi
cho đế quốc. Cần phải phân biệt khuynh hướng cải lương này với khuynh
hướng tiến bộ do nhân dân lợi dụng khả năng hợp pháp để làm lợi cho
mình (hội truyền bá học quốc ngữ). Hội ánh sáng đã phát triển được nhiều
chi hội ở các địa phương, lôi kéo được một số viên chức, trí thức, nghệ sĩ.
Tất nhiên, dưới cái gậy chỉ huy của Stalen thì hội ánh sáng sẽ gắn với hội
hướng đạo, với phong trào chợ phiên, vui vẻ trẻ trung, với những hoạt
động cải lương nhỏ giọt, có tính chất lừa phỉnh, mua chuộc quần chúng của
thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Phong trào âu hoá, vui vẻ trẻ trung của
nhóm tự lực văn đoàn với phong trào chấn hưng phật giáo nhìn bên ngoài
có vẻ rất xa lạ với nhau nhưng do vai trò lãnh đạo của thống sứ Stalen nên
lại diễn ra một sự kết hợp kỳ lạ giữa hai phong trào đó. Trong đại chiến thế
giới lần thứ hai, thực dân Pháp thi hành chính sách phát xít hoá, khủng bố
và kiểm duyệt gắt gao báo chí và các nhà xuất bản, giải tán các hội đồng
thuộc địa Nam Kỳ và các viện dân biểu Bắc, Trung kỳ. Mặt khác, chúng
còn đẩy bọn Việt gian và bồi bút như Phạm Quỳnh, Phạm Lê Bổng, Bùi
Quang Chiêu hàng ngày tuyên truyền chủ nghĩa đầu hàng, ca tụng một
cách trơ trẽn các khẩu hiệu “ Pháp – Việt phục hưng” và „cách mạng quốc
gia‟ của tên cáo già bán nước Phê Tanh.
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 19



Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 20

chủ phong kiến người Việt đã có nhiều tác phẩm trong dòng văn học hiện
thực phê phán phán ánh hết sức sâu sắc.
Đọc Giông Tố của Vũ Trọng Phụng người đọc cũng dễ dàng nhận ra
một sự pha tạp, xáo trộn giữa nền văn hoá Đông và Tây. Có thể coi đây là
một bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá Việt Nam trong những năm 30 của
thế kỷ này. ở nông thôn vẫn duy trì một nền văn hoá lạc hậu, hủ tục và tệ
nạn. Giữa chốn bùn lầy nước đọng ấy, nổi lên cuộc sống tủi nhục, xác xơ,
tù hãm của những người nông dân quần quật tối ngày như trâu ngựa vẫn
không sao lo nổi ngày hai bữa. Bọn hương lý và chức dịch thi nhau đè đầu,
cưỡi cổ, bóp nặn dân nghèo làm cho người nông dân không thể ngóc đầu
lên được. ở làng Quỳnh Thôn “ chỉ cách xa huyện lỵ chưa đầy mười cây số
‟‟ mà dường như không có ánh sáng văn minh nào lọt tới đến mức “ một trí
thức cao cấp” vào loại nhất làng như cụ đồ Uẩn cũng không thể nhận ra bộ
mặt thật của bọn hương lý và chức dịch trong làng. Khi đám đông dân
chúng hành quân lên cửa quan cũng chỉ là hình ảnh “ Cả bọn lôi thôi lốc
thốc kéo nhau ra khỏi làng, trước những cặp mắt toét mà còn tò mò của
bọn giai làng, trước những cái mồm cười rất khả ố”. Người nông dân thì
lạc hậu như vậy còn ở thành thị thì một bộ phận người dân sống xa hoa,
truỵ lạc, trác táng: “ một xã hội thất vọng truỵ lực, muốn phải làm cho
những điều thất vọng phải tan ra khói”, gồm “ông chủ phòng mà Sở Liêm
phóng không thương hại, mấy cậu học trò vừa ra khỏi trường mà đã oán
giận xã hội không trọng dụng nhân tài, cụ phán già không được cưới thêm
vợ, ông nhà văn có sách mới bị cấm, tay chủ báo bị kiện vì tội phỉ báng,
tay phóng viên thiếu đầu đề, cô gái nhảy vừa đánh mất nhân tình, nhà tài tử
cải lương không có người bao ” Đó là đám khách của Nghị Hách vào
ngày nhà tư bản tính sổ doanh thương: “Bọn người mà bề ngoài đủ tỏ ra vẻ
doanh nghiệp, vẻ sắc sảo, gian hùng ở những cái mũ cát két, ở những đôi

Những chính sách đàn áp về chính trị, bóc lột dã man về kinh tế và
đầu độc về văn hoá của bọn thực dân và phát xít đã ngày càng củng cố vị
trí của thực dân Pháp, khẳng định, bình thường hoá những cái xấu xa,
những cái trái mắt của quân cướp nước, của phương Tây, của xã hội tư sản
mà thực dân mang vào xã hội Việt Nam. Cái lố lăng, hợm của, trái tôn ti
Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 22

trật tự ấy gây ra bất bình, phản ứng cho cả xã hội vốn tôn trọng tục lệ, tôn
trọng lễ giáo, phân vị trên dưới. Nhưng về sau khi quyền của kẻ có của
được thừa nhận, sự hưởng thụ thú vị vật chất được coi là quyền lợi tự
nhiên, khi lễ giáo, tục lệ lùi bước, thì cái ngon, cái đẹp, cái tiện lợi, cái hào
nhoáng trở thành có sức hấp dẫn.
Những người luống tuổi đua nhau đi học, các bậc cha mẹ thúc giục
con cái đi học, kiếm lấy ít vốn liếng chữ Tây và hãnh diện về cái chức
thông phán. Cái quan trọng không phải ở chỗ thay đổi sự thích thú mà còn
là sự thay đổi trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam.
ở thành thị, nhiều hạng người, nhiều nhà hát lộng lẫy, con người cần
tiền, cuộc sống sôi động, đua chen, phức tạp nên đòi hỏi con người cũng
phải luôn vận động. Hàng hoá từ thành thị tràn về nông thôn. Cái mới tập
trung ở thành thị nhưng không đóng khung ở thành thị, nó đổi thay cả cuộc
sống ở nông thôn, căn cứ địa của nhà nho và người nông dân, những con
người vốn trung thành với cái cổ truyền nhất. Tuy nhiên sự thay đổi đó
không phải thật sự dễ dàng. Những cái mới, cái đẹp, cái tiện lợi vẫn có sức
mạnh của nó. Dần dần cái mới chinh phục được cả những người khó tính,
cổ hủ.
Những người nông dân bị thất nghiệp chạy ra thành phố. Dần dần họ
cũng thành thị hoá, tư sản hoá. Cái danh giới của địa vị, của gia thế bị xoá
bớt. Dần dần chính họ lại tập hãnh diện với những mánh khoé trong nghề

Luận văn tốt nghiệp Lớp cao học văn K47 <2002 -05>

Học viên: Vũ Thị Lan Trang: 24

CHƢƠNG II: Những loại nhân vật phản diện trong văn học
truyền thống.

Trong lịch sử phát triển, văn học luôn có chức năng phản ánh cuộc
sống một cách toàn vẹn và sinh động. Vì vậy, văn học có khả năng vươn
tới tầm cao của sự khái quát, nắm bất sự vận động bên trong của đời sống
hiện thực. Văn học ở mọi thời đại đều phản ánh giai cấp và mang tính giai
cấp một cách rõ rệt. Từ rất lâu trong xã hội đã hình thành hai giai cấp đối
kháng nhau đó là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Để phản ánh hiện
thực đó, văn học đã hình thành hai tuyến nhân vật: chính diện và phản
diện. Như vậy, có thể khẳng định rằng, các nhân vật phản diện không phải
chỉ đến giai đoạn này ( 1930 – 1945 ) mới xuất hiện mà đã có từ rất lâu
trong văn học. Chỉ có điều đến giai đoạn này các nhân vật phản diện mới
được các nhà văn phản ánh cụ thể hơn, chi tiết hơn và sinh động hơn. ở
đây, chúng tôi chỉ khảo sát một số tác phẩm văn học tiêu biểu trước năm
1930 để so sánh, làm sáng tỏ vấn đề này.
Nửa cuối kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19 là giai đoạn văn học phát triển

người ta nghĩ xấu về giai cấp thống trị của xã hội ấy, về chế độ ấy. Truyện
Kiều trên căn bản nhận thức về quan lại phong kiến khác với những truyện
Nôm bình dân. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du thấy cái xấu của bọn quan
lại không phải là hiện tượng mà là bản chất. Nhà thơ có lên án và phê phán
ba tên quan và có cả một gia đình quan lại. Mỗi tên quan mỗi vẻ, không
thằng nào giống thằng nào, không phải đúc từ một khuân có sẵn, tuy có
cùng một hành động là xô đẩy Thuý Kiều vào con đường khổ nhục, phá
hoại hạnh phúc và chôn vùi nhân phẩm của cô.
Thằng bán tơ là kẻ vu oan cho gia đình Thuý Kiều. Trong cách trình
bày của Nguyễn Du, việc vu oan của tên bán tơ chỉ là cái cớ cho bọn sai
nha có dịp đi bắt cóc, hành hạ người khác. Hành động của chúng không
phải là hành động của công lý, hay công lý của chúng là công lý của bọn
đầu trộm đuôi cướp. Đằng nào cũng vậy. Thế rồi kéo về cửa quan thì quan
cũng chẳng hơn gì bọn sai nha. Viên quan ở đây đúng là một thứ “ cướp
ngày”. Cha, em Thuý Kiều không được xét xử mà còn bị tra khảo nặng nề

Trích đoạn Xây dựng nhân vật phản diện qua việc miêu tả hành động Tính cách Nghị Quế Ngôn ngữ của Nghị Hách Ngôn ngữ Nghị Lại Ngôn ngữ Nghị Quế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status