Những biểu hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại - Pdf 25

Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***

NGUYỄN THANH HUYỀN
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Thành
Hà Nội – 2012

Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 3
MỤC LỤC
MỤC LỤC ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
MỞ ĐẦU 0
1.Lý do chọn đề tài………………………………………………………………………… 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề……………………………………………… 9
3.Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………….……….… 12
4. Pương pháp nghiên cứu…………………………………………………………… 13
5. Cấu trúc luận văn………………………………………… ……………………… 14
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI 9
VÀ THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 9
1.1. Khái lược về chủ nghĩa hậu hiện đại……………………………………………… 15
1.1.1. Khái niệm về Chủ nghĩa Hậu hiện đại 9
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thế giới đang chứng kiến một cuộc đổi thay chóng mặt của công
nghệ và truyền thông. Đi cùng với đó là sự lấn át mãnh liệt của những loại hình
nghệ thuật mang tính công nghệ cao như phim ảnh, internet, âm nhạc… đã và
đang khiến cho văn hóa “đọc” bị mất dần tầm ảnh hưởng. Đặc biệt là ở những
nước đang phát triển như Việt Nam, sự “lấn sân” này càng thể hiện rõ nét hơn
bao giờ hết. Ngay cả trong phạm vi “văn hóa đọc” nói chung cũng đã có những
phân định ngày một chênh lệch giữa văn xuôi và thơ. Ở những nước tư bản, nhịp
sống nhanh và hiện đại, người ta dễ dàng bắt gặp trên đường phố, quán café, tàu
điện ngầm, xe buýt, những người cầm trên tay một cuốn sách và say sưa đọc.
Nhưng đó là những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn, hay những cuốn sách “cẩm
nang”… Để tìm được một độc giả trung thành với thơ ca ngày nay quả thật là rất
ít ỏi. Ở một nước có truyền thống yêu thơ ca như Việt Nam, hiện tượng này
cũng không tránh khỏi. Giới trẻ bây giờ dành nhiều thời gian cho những mối
quan tâm khác. Nếu đọc, họ thường tìm đến với văn xuôi, nhất là văn xuôi trên
mạng – một loại hình văn học mới nhưng đang được các bạn trẻ hưởng ứng một
cách tích cực. Lý do rất đơn giản, văn xuôi dễ tiếp cận hơn thơ ca!
Điều này xem ra có vẻ lạ lùng bởi từ buổi sơ khai của loài người, thơ ca
xuất hiện trước tiên. Và văn xuôi lại được xem là một hình thức phát triển cao
hơn của văn học nghệ thuật. Thế nhưng thực tế là văn xuôi phản ánh đời sống
một cách gần gũi hơn thơ ca. Con người hiện đại không còn nhiều thời gian để
đọc, ngẫm nghĩ và thấu hiểu những tầng ý hàm chứa trong ngôn từ cô đọng, ẩn

cho toàn bộ đời sống sáng tác, mà còn có ý nghĩa cấp thiết đối với đội ngũ lý
luận, phê bình. Nó có thể kích thích khát vọng sáng tạo và góp phần điều chỉnh
những sự cực đoan, lệch hướng. Vì vậy, một cái nhìn tổng quát về Chủ nghĩa
Hậu hiện đại, vấn đề vẫn thường xuyên được nhắc đến trong đời sống thơ ca
đương đại là vô cùng cần thiết. Có nhận diện được rõ về những gì đang xảy ra
hôm nay, mới có thể chủ động trong tương lai. Bởi thực tế, trong sự phát triển
của mình, thơ hôm nay vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề - nhất là những vấn đề
về thực trạng sáng tác - cần được nhìn nhận một cách khách quan để thúc đẩy sự
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 3
phát triển của nó. Đời sống của thơ ca đương đại dường như ngày càng xa rời
với đối tượng tiếp nhận. Mặc dù tiếp nhận bao giờ cũng đi sau quá trình sáng tạo
nhưng nó sẽ có tác động ngược lại đến việc sáng tạo. Trên phương diện tích cực,
nó có thể kích thích khát vọng sáng tạo, góp phần điều chỉnh sự cực đoan, lệch
hướng.
1.4. Mới đây, Viện hàn lâm Thụy Điển đã trao giải Nobel văn học 2011
cho nhà thơ Tomas Transtromer, một nhà thơ Thụy Điển đã có tầm ảnh hưởng
lan rộng ở châu Âu và trên thế giới. Khi tên ông được xướng lên trong khán
phòng, nhiều người đã ồ lên, không phải vì kinh ngạc, mà có lẽ bởi niềm hạnh
phúc vì được an ủi. Nhiều người cho rằng Tomas và những sáng tác của ông
dường như đã bị quên lãng. Thế nhưng giải thưởng, sự ghi nhận của thế giới đã
cho thấy những cống hiến của ông là xứng đáng.
Sự vinh danh của một giải thưởng nghệ thuật danh giá nhất thế giới cho
một nhà thơ của chủ nghĩa “hậu hiện đại”, với những sáng tác tương tự những
họa phẩm thuộc trường phái siêu thực chứa đầy các hình tượng, các cám dỗ siêu
hình, sự im lặng và màu trắng – đã cho thấy sức mạnh của thơ “hậu hiện đại”.
Sự vinh danh của cá nhân Tomas cũng dường như là sự vinh danh cho toàn bộ
nền thơ ca hậu hiện đại hôm nay mà đôi khi đã bị đắn đo, đặt câu hỏi giữa “tồn

chung, phản ứng tích cực thì ít mà tiêu cực thì nhiều, và cũng chưa có hồi ngã
ngũ. Bởi trong thời điểm đó, những quan niệm về thơ ca truyền thống vẫn còn
mãnh liệt. Và thực tế, đội ngũ tiếp nhận vẫn chưa thực sự được “trang bị” đầy đủ
để tiếp cận với những tư tưởng cách tân này. Cho nên nhiều người đã cho rằng
đây là xu hướng tìm tòi đi vào hình thức chủ nghĩa, coi nhẹ nội dung, làm cho
thơ bế tắc, tù mù, khó hiểu và có vẻ chỉ là trò chơi chữ nghĩa.
Đến hai năm 1993 – 1994, không khí thi đàn càng trở nên nóng hơn bởi
sự ra đời của hàng loạt các tập thơ cách tân theo hướng hiện đại chủ nghĩa như:
Bóng chữ (Lê Đạt), Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng), Sự mất ngủ của lửa
(Nguyễn Quang Thiều), Mưa ban mai (Nguyễn Quyến)… Trong số những
người kịch liệt lên án, phê phán phải kể đến Trần Mạnh Hảo. Ông đã viết nhiều
bài nghiên cứu, lên án, đả kích một cách gay gắt lối tìm tòi của những tác giả
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 5
trên. Ông cho rằng đó là xu hướng “phi thơ”, “thơ hũ nút”, “thơ mang nọc trong
mình”.
Từ năm 1995 trở đi thì không khí phê bình có phần bớt sóng gió hơn.
Trong khi đó, các nhà thơ vẫn kiên trì với những cách tân và thử nghiệm của
mình như: Nguyễn Quang Thiều với Những người đàn bà gánh nước sông, Văn
Cầm Hải với Người đi chăn sóng biển, Hoàng Cầm với 99 tình khúc, Lê Đạt với
Ngỏ lời thơ haiku, Trần Dần với Mùa sạch…
Đời sống thơ ca lại tiếp tục sôi động trở lại vào năm 2001 với sự xuất hiện
của hiện tượng thơ Vi Thùy Linh. Đây được xem là mốc đánh dấu quan trọng
cho sự xuất hiện của làn sóng thơ trẻ những năm sau này, và làm cho đời sống
phê bình trở nên đầy sôi động. Ngay lập tức cũng xuất hiện hai luồng ý kiến trái
ngược nhau khen và chê, hi vọng và phê bình kịch liệt. Những cuộc phê bình,
tranh luận về thơ trẻ từ đó đến nay vẫn là những cuộc tranh luận nảy lửa chưa có
hồi kết thúc. Có người lạc quan, tin tưởng vào một vận hội mới của thơ, nhưng

sáng tạo của các nhà thơ trẻ. Bởi thực tế là dù có bị đả kích và phê phán kịch liệt
thì thơ hôm nay vẫn đang vận động trên quỹ đạo tư duy “hậu hiện đại”. Và thơ
truyền thống đang ngày một mất dần tính hấp dẫn mặc dù giá trị nghệ thuật mà
nó đóng góp cho nền thơ ca Việt Nam là không thể phủ nhận. Thời đại đã thay
đổi, con người thay đổi, đòi hỏi thi ca cũng phải có những chuyển mình phù
hợp. Với luận văn này, chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn khách quan
về thơ ca trên phương diện lấy Chủ nghĩa Hậu hiện đại để soi chiếu.

3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nền thơ ca đương đại của chúng ta bấy lâu nay vẫn nhắc nhiều đến khái
niệm “hậu hiện đại”, nhưng vẫn chưa thực sự có một cái nhìn đầy đủ về những
“dấu ấn” của nó đến sự cách tân của thơ ca. Trong phạm vi luận văn này, chúng
tôi cố gắng khảo sát, khái quát một vài biểu hiện chính thường gặp của Chủ
nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại, nhằm góp phần chỉ ra một
khuynh hướng cách tân của thơ Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 7
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu
hiện đại trong thơ Việt Nam từ sau 1975 đến nay, đặc biệt chú trọng vào các
sáng tác thơ từ sau 1990.
Chưa bao giờ thơ được in nhiều như hiện nay. Bởi vậy, chúng tôi khó
lòng có thể khảo sát được đầy đủ và bao quát toàn bộ sáng tác thơ đương đại.
Luận văn sẽ chỉ chú trọng đến những tác giả, tác phẩm ít nhiều được coi là sự
kiện trong đời sống văn học, thu hút được sự chú ý của công luận, hoặc có giá trị
nghệ thuật cao, hoặc có vấn đề gây tranh cãi, hoặc tiêu biểu cho một khuynh
hướng nào đó. Về cơ bản, đó là những tác phẩm đã được xuất bản thành sách, in
thành tập. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi chủ yếu tập trung vào một số nhà
thơ trẻ đã gây nhiều sóng gió trong đời sống văn học Việt Nam thời gian qua

được hết cái hay, cái đẹp, cái mới của mỗi một biểu hiện, một tác giả mà chúng
tôi lựa chọn trong phạm vi luận văn này. Từ đó cũng nhằm đưa đến một cái nhìn
khái quát, tổng hợp để hình dung rõ hơn những nét lớn đặc trưng cho những
biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại.

5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn đề tài
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại
được cấu trúc gồm ba chương như sau:
Chương 1: Khái lược về Chủ nghĩa Hậu hiện đại và thơ Việt Nam đương
đại
Chương 2: Những biểu hiện về mặt nội dung
Chương 3: Những biểu hiện về mặt hình thức nghệ thuật
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 9



10
là một phiên bản nôm na hơn của Chủ nghĩa Hiện đại trong nghệ thuật. Bernard
Smith quan niệm Chủ nghĩa Hậu hiện đại là một phản ứng mang tính hiện thực
và xã hội chống lại tính trừu tượng của Chủ nghĩa Hiện đại và chống lại các
quan điểm mỹ học nghệ thuật vị nghệ thuật. Sau này, Ihab Hassan coi Chủ nghĩa
Hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn – hay là chủ nghĩa hiện đại hậu
kỳ - mang tính phi lý tính, phi xác định, hỗn loạn, nhưng cũng mang tính nhập
cuộc. Còn Jean Francois Lyotard thì ngoài quan điểm triết học chính trị, coi Chủ
nghĩa Hậu hiện đại là nỗ lực chống lại các “đại tự sự” (tức các “lý thuyết phổ
biến”) của chủ nghĩa duy lý thời thế kỷ Ánh Sáng cùng các di sản của nó, trong
đó có chủ nghĩa Mác. Hậu hiện đại là ý chí tuyệt giao với lý tính và với sự biểu
hiện, là việc phải ám chỉ cái không thể diễn đạt được thông qua những điều diễn
đạt bằng thị giác, là phải làm cho người ta thấy rằng có một cái gì đó mà người
ta có thể quan niệm được nhưng không thể nhìn thấy được. Như vậy, theo
Lyotard, Chủ nghĩa Hậu hiện đại là đỉnh cao của Chủ nghĩa Hiện đại, hay là
“cơn kịch phát của Chủ nghĩa Hiện đại” [12, tr.111]. John Barth và Umberto
Eco, hai tên tuổi lớn tiêu biểu cho Chủ nghĩa Hậu hiện đại thế giới, cùng với
nhiều tác giả khác định nghĩa Chủ nghĩa Hậu hiện đại như một cách viết trong
đó người ta có thể dùng các hình thức truyền thống một cách châm biếm hay
hoán vị để diễn tả các chủ đề bất diệt. Nó hi vọng vượt thoát khỏi những phương
tiện và độc giả giới hạn vốn là những đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại. Ở Việt
Nam, trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học Việt Nam, các tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, cho rằng Chủ nghĩa Hậu hiện đại với tư cách
là một khuynh hướng phê bình văn học hiện đại, có ý đồ khám phá, phát hiện ở
cấp độ tổ chức văn bản nghệ thuật tập hợp tư tưởng – tình cảm mang nội dung
vũ trụ quan. Dựa vào các công trình nghiên cứu của các tên tuổi lớn như
J.F.Lyotard (Pháp), I.Hassan, P.Jamerson (Mỹ),… các tác giả này khái quát hệ
thống quan điểm của Chủ nghĩa Hậu hiện đại thành bốn điểm lớn, như sau:
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại

Một là, Chủ nghĩa Hậu hiện đại như là đỉnh cao của Chủ nghĩa Hiện đại,
là “cơn kịch phát của Chủ nghĩa Hiện đại” (Lyotard, Hassan…)
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 12
Hai là, Chủ nghĩa Hậu hiện đại như là sự quay trở về với truyền thống để
chống lại Chủ nghĩa Hiện đại (Smith, Lipovetsky…), đặc biệt là trong kiến trúc
và tạo hình.
Ba là, Chủ nghĩa Hậu hiện đại như là một sự vượt khỏi Chủ nghĩa Hiện
đại, một phong trào lai tạp mới và tương phản với Chủ nghĩa Hiện đại (Jencks,
Koehler…)
Nhìn chung hầu hết các ý kiến đều lấy Chủ nghĩa Hiên đại làm hệ quy
chiếu để xác định cái gọi là Hậu hiện đại. Theo Giáo sư nghiên cứu về Văn học
Mary Klages (Đại học Corolado, Mỹ), Chủ nghĩa Hậu hiện đại là một từ ngữ
phức tạp bao gồm một hệ thống tư tưởng rất khó để có thể đưa ra một định nghĩa
chính xác và hàm súc. Vì bản thân khái niệm này xuất hiện trên rất nhiều lĩnh
vực nghiên cứu khác nhau bao gồm cả văn học, kiến trúc, âm nhạc, phim ảnh,
chính trị, xã hội, truyền thông, khoa học kỹ thuật, và thậm chí cả quân sự.Tuy
nhiên, dù là trên phương diện nào, thì khái niệm Chủ nghĩa Hậu hiện đại vẫn
liên quan mật thiết đến Chủ nghĩa Hiện đại. Và trong phạm vi luận văn này,
chúng tôi cố gắng đưa ra một định nghĩa xác đáng nhất về Chủ nghĩa Hậu hiện
đại trong văn học.
Xét trên góc độ ngôn ngữ Chủ nghĩa Hiện đại – Modernisme và Chủ
nghĩa Hậu hiện đại – Postmodernisme, tiền tố Post – hậu, đã mặc định sự liên
quan giữa hai khái niệm này. Có thể coi Hậu hiện đại như là một sự phản ứng lại
với chủ nghĩa hiện đại (cái hiện đại), phản ứng lại những mô thức định sẵn. Post
(hậu, sau) ở đây không chỉ đơn thuần mang nghĩa chỉ một tiến trình lịch sử, cái
này ra đời thì cái kia biến mất, mà là sự phản ứng ngược trở lại. Vì vậy, một bộ
phận các nhà nghiên cứu trên thế giới xem Hậu hiện đại như là một khái niệm

ra đời của nhiều khuynh hướng nghệ thuật, khả dĩ đáp ứng nhu cầu, tâm trạng,
hoài vọng của công chúng. Đồng thời nó cũng là sự phản ánh thực trạng xã hội
khủng hoảng sau hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc. Tất cả đều đặt ra nhiều
câu hỏi với câu nói bất hủ của Hamlet “Tồn tại hay không tồn tại?” thời hậu
chiến. Và nếu tồn tại thì sẽ tồn tại như thế nào? John Dewey đã chỉ ra trong cuốn
Nghệ thuật như sự trải nghiệm vào năm 1934, rằng nghệ sĩ phải cung hiến hết
mình cho sự mới lạ để phản ứng lại với thị trường. Ngành công nghiệp đã được
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 14
cơ giới hóa và một nghệ sĩ không thể làm việc theo kiểu máy móc để phục vụ
nền sản xuất đại chúng… Nghệ sĩ thấy ra phận sự của mình ở chỗ đưa bản thân
vào tác phẩm để biến nó thành một phương tiện tự biểu lộ biệt lập. Để khước từ
góp mình vào các xu hướng bị chi phối bởi quyền lực kinh tế, họ thường xuyên
cảm thấy buộc phải cường điệu sự riêng biệt của mình cho tới mức lập dị [83,
tr.50]. Nhiều quan niệm mới về vị thế của triết – mỹ hiện đại. Nhà triết học
không phải là người nắm giữ chân lý mà chỉ là người bạn của chân lý đang đi
trên con đường dẫn tới chân lý bằng các phương tiện đối thoại, tiếp biến văn
hóa, giao lưu, hội nhập. Tri thức, thông tin, sản phẩm trí tuệ, giá trị đạo đức, kỹ
thuật tư duy… không còn là của riêng ai. Tất cả đều được mang ra quảng
trường, chịu sự phê bình và tranh cãi của công luận. Vào thời điểm này, hội họa
bị thách thứ đặc biệt bởi thế giới hiện thực của một hình thức mới xuất hiện –
nhiếp ảnh. Cuối thế kỷ XIX, sự mô phỏng dường như đã ngày càng ít được coi
là mục tiêu của nhiều trào lưu nghệ thuật như chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa
biểu lộ, chủ nghĩa siêu thực, tranh trừu tượng. Lý thuyết mô phỏng đã nhường
chỗ cho sự nhấn mạnh mang màu sắc hiện đại của chúng ta vào giá trị của một
cảm thức cá nhân và quan điểm sáng tạo của nghệ sĩ. Những đóa hoa diên vĩ của
O’Keeffe và tranh Van Gogh gây ấn tượng với chúng ta không phải bởi chúng
được mô phỏng chính xác, mà bởi họ đã sáng tạo nên một hình ảnh về cái đẹp

của nền văn hóa châu Âu cũ, như là sự từ bỏ quá khứ vĩ đại của mình và sự chế
nhạo quá khứ đó. Nhưng khi Chủ nghĩa Hậu hiện đại đến phương Đông, nơi mà
hầu như quá trình Hiện đại còn chưa hoàn tất thì nó lại mang ý nghĩa hoàn toàn
ngược lại. Chủ nghĩa Hậu hiện đại đem lại cho con người phương Đông cơ hội
chiến thắng văn hóa Tây phương trong mình, chiến thắng tính duy lý Tây
phương đã bóp méo ý thức hẳn, nhờ chính thuốc trị Tây phương. Không tốn quá
nhiều thời gian, dưới mặt nạ cuộc trình diễn hậu hiện đại, logic học tự nhiên của
phương Đông đã được tỏa sáng [48]. Cho nên, khi nhận định nền thơ ca đương
đại của Việt Nam dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Hậu hiện đại, chúng tôi suy xét
dưới góc độ Chủ nghĩa Hậu hiên đại trong bối cảnh triết – mỹ học phương
Đông.
1.1.3. Những dấu hiệu của Chủ nghĩa Hậu hiện đại
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 16
Một trong những đặc điểm phổ quát nhất của Chủ nghĩa Hậu hiện đại là
sự giải cấu trúc bao trùm mọi bình diện văn hóa. Chủ nghĩa Hậu hiện đại bao
gồm nhiều xu hướng phi hiện thực, là kết quả phủ định của phủ định. Nghệ thuật
hậu hiện đại từ chối nghệ thuật hàn lâm, nghệ thuật cổ điển. Nhưng đến cuối thế
kỷ XX, thì chính hậu hiện đại lại trở thành truyền thống. Một số nghệ sĩ hậu hiện
đại quay trở lại với nghệ thuật tiền hiện đại và sáng tác theo phong cách mới.
Điều này có thể thấy rõ nhất chính là trong sự phối khí của các tác phẩm âm
nhạc. Nói đến Chủ nghĩa Hậu hiện đại, không thể bỏ qua nghệ thuật bình dân,
đại chúng – Pop Art, một đặc điểm nổi bật nhất của hậu hiện đại. Pop Art là một
xu hướng của hậu hiện đại chủ trương dân chủ hóa việc thưởng thức, giải trí, tôn
trọng nhu cầu giao tiếp hàng loạt, nhu cầu đám đông. Nó là sự đối lập giữa cái
đại chúng và cái thượng lưu, là sự phản ứng đối với các tác phẩm phi vật thể.
Thẩm mỹ hóa thế giới đồ vật bình thường, tìm kiếm những giá trị nghệ thuật ở
bất cứ vật thể nào như: chiếc lốp oto cũ, những mảnh giấy báo, những chiếc máy

theo hệ quy chiếu những đặc tính đã nêu trên.

1.2. Thơ Việt Nam đương đại (sau 1975)
1.2.1. Những dấu hiệu đổi mới của thơ trước 1975
Trước 1975, đỉnh cao của thơ ca Việt Nam phải kể đến phong trào Thơ
Mới với thắng lợi rực rỡ đã được Hoài Thanh tổng kết: Chữ tôi, với cái nghĩa
tuyệt đối của nó đã thống lĩnh trên thi đàn cùng với những tên tuổi lớn cho đến
nay vẫn là những cây đại thụ của thơ ca Việt Nam như Thế Lẽ, Lưu Trọng Lư,
Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân
Diệu… Dòng thơ ca kháng chiến có nhiều ý kiến cho rằng là sự tiếp nối dòng
mạch Thơ Mới trong một hoàn cảnh lịch sử mới. Cái tôi trữ tình thời kỳ này là
cái tôi sử thi. Tuy nhiên thực tế về mặt hình thức thơ chưa tạo được những bước
đột phá lớn. Nhưng thực tế, những nhận xét này mới chỉ là ứng với mảng thơ
“chính thống” đã được thừa nhận và đánh giá cao. Bên cạnh đó vẫn còn có
những hướng cách tân quyết liệt hơn và do vậy cũng còn chịu nhiều luồng phán
xét bất đồng.
Thời kỳ Thơ Mới phải kể tới những đóng góp của Xuân Thu Nhã Tập, Dạ
Đài, Giác Linh Hương. Đặc biệt là những đóng góp về mặt lý luận của nhóm
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 18
Xuân Thu Nhã Tập như quan niệm về văn bản thơ, tính đa nghĩa của thơ, mối
quan hệ giữa sáng tác – tác phẩm – tiếp nhận… Đến thời kỳ kháng chiến chống
Pháp, xu hướng thơ tự do – tự do hóa hình thức thơ cũng là một hướng đi nhằm
đáp ứng yêu cầu mở rộng khả năng phản ánh hiện thực rộng lớn và phong phú
của đời sống chiến tranh. Trong xu hướng đó phải kể đến những tên tuổi lớn như
Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Quang Dũng, Văn Cao, Chính Hữu… Đến
những sáng tác của nhóm Sáng tạo ở miền Nam với Thanh Tâm Tuyền, Bùi
Giáng, Đuynh Trầm Ca… thơ ca Việt Nam đã có những vận động đáng kể, “đã

nhập của nền văn học và lý luận phương Tây, châu Mỹ thời gian này đã ảnh
hưởng lớn đến phong trào cách tân thơ những năm 80, 90. Giờ đây, thơ mới tràn
đầy những năng lượng tư tưởng lớn lao trong nhiều dạng thức, chối bỏ những
quy luật nghiêm ngặt, những tư tưởng xưa cũ… đánh dấu sự vận động không
ngừng của dòng chảy văn học.
1.2.3. Những xu hướng cách tân
Các nhà thơ xuất hiện sau 1975 là một thế hệ đổi mới quan trọng của văn
học đương đại Việt Nam. Trong số họ có những người đã cầm bút trước đó,
nhưng thành tựu tho ca chính lại xuất hiện và được ghi nhận sau cái mốc 1975.
Do vậy, chúng tôi tạm chia những nhà thơ Việt Nam sau 1975 thành hai nhóm
như sau: nhóm thứ nhất là các nhà thơ thuộc thế hệ hậu chiến từ 1975 đến 1990
– đây là những gương mặt tiêu biểu làm nên diện mạo của thời kỳ đổi mới trong
thơ Việt Nam đương đại. Nhóm thứ hai là những tác giả trẻ hơn xuất hiện từ
1990 đến nay với những tìm tòi, phát hiện bước đầu đã được ghi nhận. Thế hệ
những nhà thơ này đã đạt được thành tựu nổi bật là đã có những bước chuyển
mới rất cơ bản về nội dung phản ánh, về nghệ thuật và thi pháp. Thơ của họ gần
gũi hơn với cuộc đời, với thiên nhiên, gần gũi với tâm sự buồn vui của con
người, nghiêng về phía những cá thể và là tiếng nói thân phận. Ngòi bút thơ của
họ chủ động, tìm tòi vươn tới bề sâu của những địa tầng còn ẩn khuất trong đời
sống tinh thần của con người để khai thác và hướng tới những hiệu quả nghệ
thuật mới.
1.2.3.1. Nhóm những nhà thơ sau 1975 đến 1990
Cho đến nay, sau rất nhiều tranh cãi, bất đồng… thì hầu như tất cả chúng
ta đều nhìn nhận thẳng thắn và công bằng rằng trên hành trình cách tân thơ, Trần
Những biểu hiện của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đương đại 20
Dần chính là tên tuổi đi đầu, hứng khởi, quyết liệt với những tìm tòi rất có giá
trị. Trần Dần đã kiên nhẫn thầm lặng triển khai “cuộc – chơi – thể - nghiệm –

21
Lối vận âm, vận vần có thể khiến người đọc khó hiểu, nhưng lại dễ dàng chấp
nhận cái sự “trúc trắc” ấy bởi nó được đặt trên một nền “nhạc” rất thân quen,
gần gũi của ca dao, tục ngữ, của đồng dao xưa, như những câu thơ:
Tôi qua sáng ngõ
Sáng ngõ trong sao
Tôi qua sáng cầu
Sáng cầu trong nhịp.
(Tôi qua…)
Thơ Trần Dần không phải dễ đọc, dễ hiểu. Nó như là một sự thách thức trước tất
cả những ai muốn khám phá sáng tạo.
Cùng với Trần Dần là Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, Dương
Tường, những người một thời tạo nên nhóm “Dòng chữ”, một thế hệ khởi đầu
với những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho ngôi nhà thơ cách tân. Thơ của
họ đã vượt ra ngoài những khuôn sáo ước lệ của vần điệu để thắp lên những
hình tượng thơ mới. Không gian thơ được mở rộng hơn, vươn tới các chiều kích
của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao, từ những cái rất tầm thường,
nhỏ bé hàng ngày. Họ muốn đưa thơ trở về với bản thể tự nhiên, phản ứng lại
quan niệm ngôn từ chỉ là một phương tiện chuyển tải. Ngôn từ phải được xem
như là một đối tượng sáng tạo, phải được bộc lộ tất cả vẻ đẹp tự thân của nó.
Thơ Lê Đạt là tràn ngập những hình ảnh đẹp, ấn tượng: Qua những đèo lẻ nắng/
Những chiều sương bạc má/ Mimoza chiều khép cánh mi môi xa/ Vườn màu hoa
con gái bướm phù dâu/ Em về trắng đầy cong khung nhớ… Và đặc biệt hơn nữa
là những bài thơ Hai-kâu của ông.
Tình sét đánh má đồi môi bão dập
Yêu một liều xuân bấp chấp thu lôi.
(Thu lôi)
Em tình tựa cơ may phường ảo số
Mỗi ngã đường e cửa ngõ Tạm Thương.
(Tạm Thương)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status