Ơ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ HẢI YẾN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2012
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3.Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 12
4.Phương pháp nghiên cứu. 13
5.Cấu trúc luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN NGỌC TƯ 14
1.1Giới thuyết về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 14
1.1.1 Khái niệm người kể chuyện 14
1.1.2 Vai trò, chức năng của người kể chuyện 16
1.1.3 Người kể chuyện chi phối điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm tự sự.18
1.2 Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 19
1.2.1 Người kể chuyện lộ diện trực tiếp ở ngôi thứ nhất với điểm nhìn
bên trong 19
1.2.1.1 Cái tôi tự kể về mình 20
1.2.1.2 Cái “tôi” kể chuyện người khác 25
1.2.2 Người kể chuyện ẩn mình qua hình thức trần thuật từ ngôi thứ ba 27
1.2.2.1 Kể theo điểm nhìn của chính mình 28
3.2.2.1 Giọng điệu trữ tình – lo âu, khắc khoải 89
3.2.2.2 Giọng điệu dân dã, mộc mạc 94
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của vùng đất tận cùng Tổ quốc. Chị
sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một
gia đình nông dân. Sau hơn mười năm cầm bút, chị đã trở thành một hiện
tượng độc đáo khiến bạn đọc trong nước và ngoài nước quan tâm. Người
con đất Mũi, người con gái miền Tây xuất thân từ nông dân bằng tài năng
của mình đã góp phần làm sống động nền văn học đương đại. Nhà văn Dạ
Ngân đã tâm sự: “tôi nhớ mãi cảm giác của người trong nghề, lại là dân
biên tập, tôi nghĩ hình như mình đang tiếp cận một ngôi sao không biết nó
sẽ tỏa sáng đến đâu” (“May mà có Nguyễn Ngọc Tư” – Báo Văn nghệ).
Với Nguyễn Ngọc Tư “viết văn là một lựa chọn khó, đầy nhọc nhằn, nặng
nề, dằn vặt”. Nhiều khi nhà văn phải nuôi nỗi cô đơn “cô đơn là sự tối cần
của người viết, nó là một điều kiện hàng đầu của nhà văn” (Nguyễn Ngọc
Tư). Nhưng với tài năng thiên bẩm, với đam mê nghiệp văn, Nguyễn Ngọc
Tư đã gặt hái được những thành công liên tiếp. Thành công khởi nghiệp của
Nguyễn Ngọc Tư là tác phẩm Ngọn đèn không tắt, đạt giải 3 Báo chí trong
năm 1997. Năm 2000, chị nhận Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học
tuổi 20 lần II với tác phẩm Ngọn đèn không tắt. Ngay năm sau, chị được
trao tặng giải B giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam với tập truyện ngắn
Ngọn đèn không tắt. Cùng năm 2001, Nguyễn Ngọc Tư nhận tặng thưởng
dành cho các tác giả trẻ của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học
Nam đương đại. Qua đó cũng cho người đọc một cái nhìn khái quát về
những chuyến biến mạnh mẽ cả về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện
của thể loại truyện ngắn trong nền văn học hiện nay.
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
3
2. Lịch sử vấn đề
PGS.TS Lý Hoài Thu khi tổng kết sự vận động của các thể loại văn xuôi
trong thời kỳ đổi mới đã nhận xét “Bên cạnh tiểu thuyết, truyện vừa và
truyện ngắn (trung thiên tiểu thuyết và đoản thiên tiểu thuyết) trong các
thập niên vừa qua phát triển mạnh mẽ, có thể gọi là rực rỡ. Không phải
ngẫu nhiên mà người ta gọi đây là thời kỳ “lên ngôi” của truyện ngắn.
Điều này hoàn toàn có thể cắt nghĩa được bởi nhịp độ của đời sống công
nghiệp hiện đại, dưới sức ép từ phía các phương tiện nghe nhìn, truyện
ngắn đã phát huy được ưu thế của mình một cách hiệu quả”(Lý Hoài Thu,
Sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới, http:
//www. Tapchisonghuong. com. vn). Đã có cả một đội ngũ đông đảo các nhà
văn với sức trẻ, tài năng, họ đã tạo cho nền truyện ngắn Việt Nam đương
đại một vườn hoa nhiều màu sắc rực rỡ. Bên cạnh những tên tuổi quen
thuộc như: Sương Nguyệt Minh, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Nguyễn Thị
Châu Giang,… Nguyễn Ngọc Tư cũng là một nhà văn trẻ đầy tài năng. Là
một nhà văn được yêu mến không chỉ trong nước mà còn cả ở nước ngoài,
vì thế những bài viết tìm hiểu về truyện ngắn và tạp văn của chị thường
xuyên được đăng tải trên các phương tiện truyền thông. Từ tập truyện ngắn
đầu tay năm 2000 Ngọn đèn không tắt đến tập truyện ngắn xuất bản năm
2010 Khói trời lộng lẫy, Nguyễn Ngọc Tư thực sự đã tạo nên “thương hiệu”
riêng cho mình trong nền văn học hiện đại. Khen có, chê cũng không ít
khiến cho việc tìm hiểu và nghiên cứu văn chương của chị càng hấp dẫn với
độc giả yêu văn.
nghệ, nhà văn Dạ Ngân đã trả lời: “tôi đã viết bài “Nguyễn Ngọc Tư như
thế nào?” bằng tâm trạng thú vị khi nhớ tới lời khen mà người ta từng
giành cho Solokhov: “trên bầu trời văn học nước Nga, một con đại bàng
non vừa cất lên đôi cánh mênh mông từ sông Đông”.
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
5
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng - Tổng thư ký Hội nhà văn Thành Phố Hồ
Chí Minh, trưởng ban chung khảo cuộc thi sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ
II năm 2000 đã nhận xét về tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt như sau:
“Tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” của Nguyễn Ngọc Tư có truyện
“Ngọn đèn không tắt” là truyện ngắn nổi bật nhất. Với giọng văn mộc mạc
bình dị, với ngôn ngữ đời thường đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về
màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng Tổ quốc – mũi Cà Mau của
những con người mà cha ông là người tứ xứ về mũi đất của rừng, của sông
nước, của biển cả đã dày công khai phá, đã đứng lên khởi nghĩa. Qua ngòi
bút của Nguyễn Ngọc Tư, những con người lam lũ, giản dị, bộc trực ấy
chứa bên trong cả một tâm hồn vừa nhân hậu vừa tinh tế qua cách đối nhân
xử thế…”.
Nhà văn Huỳnh Kim cũng nhận xét: “đọc tập truyện “Ngọn đèn không
tắt” thật là thích vì văn chương sâu sắc mà dung dị, tinh tế mà lại tràn trề
tánh nết của người dân Nam Bộ trong khi tác giả mới 24 tuổi. Với tôi truyện
của Nguyễn Ngọc Tư là những câu chuyện nhà quê. Ở trong đó, ai đọc, dù
không hợp gu, cũng như tìm gặp được bóng dáng nhà quê của riêng mình”.
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên lại tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư từ
góc độ khác: “Truyện “Ngọn đèn không tắt” đã cho thấy Tư biết kể những
truyện nhân tình bằng một giọng chân tình khiến người đọc dễ nghe và dễ
chịu”. Hoàng Thiên Nga đã tâm sự: “tôi chưa từng gặp nhưng đã yêu
Nguyễn Ngọc Tư qua ngòi bút chị quá đỗi tinh tế, nhân hậu và trong lành”
[20, 3].
cảnh quen thuộc có thể là cái chớp đèn vàng (nhưng chưa đỏ) trên con
đường văn chương của Nguyễn Ngọc Tư” [11,3].
Tháng 8 năm 2005, truyện Cánh đồng bất tận đã ra mắt bạn đọc. Một
Nguyễn Ngọc Tư rất mới khuấy động đời sống văn học, những nhận định
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
7
trái chiều về chị được đăng trên các báo tạo thành một “hiện tượng văn học”
đáng chú ý của năm 2005. Đã có nhiều ý kiến, đánh giá và những bài báo tỏ
ra không có cảm tình thậm chí phê phán gay gắt về tác phẩm. Ban tuyên
giáo Tỉnh Ủy Cà Mau yêu cầu kiểm điểm nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Thạc
sĩ Vưu Nghị Lực, phó giám đốc sở văn hóa - thể thao tỉnh Cà Mau viết bài
đăng trên báo Tuổi trẻ với tiêu đề Có một vũng lầy bất tận. Trong đó ông đã
lên án gay gắt: “ “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư là ở đâu vậy;
một cánh đồng bệnh hoạn về nhân cách; tồn tại không kỉ, không cương,
không pháp luật” [4, 22]. Trên báo Tuổi trẻ, Đỗ Hồng Ngọc đã nhận xét:
“Tôi như cảm thông sâu sắc với người cha của Nguyễn Ngọc Tư khi ông
đọc bản thảo của con mình đã im lặng…Nguyễn Ngọc Tư của ông đã là một
cơn gió mát rượi của đất phương Nam bỗng trở thành cơn lốc xoáy lên,
chướng lên trên cánh đồng bất tận thì ông đành phải im lặng và giấu sau đó
một tiếng thở dài. Tiếng thở dài rất nhẹ mà tôi ngờ rằng một người rất nhạy
cảm như Nguyễn Ngọc Tư cũng có thể sẽ không nghe thấy, nhưng đó sẽ là
tiếng thở dài bất tận nếu Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục thổi phồng lên, tiếp tục
khai thác, tiếp tục tô đậm phần con, phần cái ác cái xấu…” [22,1].
Tuy nhiên, đã có nhiều ý kiến đánh giá của các nhà phê bình, các nhà
văn lên tiếng ủng hộ Cánh đồng bất tận và Nguyễn Ngọc Tư.
Đoàn Ánh Dương khẳng định: “đến truyện ngắn “Cánh đồng bất tận”
trong tập truyện cùng tên, người đọc thực sự ngỡ ngàng trước sự bứt phá
của tác giả. Tác phẩm kết thúc một bước quá độ dài để khẳng định sự
trưởng thành của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời cũng là một tín hiệu
gợi ý sâu sắc cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
9
2.2 Lịch sử nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư
Đến với văn học bằng những truyện ngắn giản dị mà sâu sắc, Nguyễn
Ngọc Tư nhanh chóng tìm được chỗ đứng trong nền văn học hiện đại và
trong lòng độc giả. Những bài nghiên cứu, phê bình hoặc những cảm nhận
ban đầu về truyện ngắn của chị xuất hiện ngày càng nhiều. Hiện có nhiều
bài viết in trên các báo và tạp chí của các nhà nghiên cứu tìm hiểu sáng tác
của chị dưới góc nhìn Trần thuật học về cốt truyện, nhân vật, kết cấu,
giọng điệu, ngôn ngữ,…. Chúng tôi xin điểm qua một số bài viết và những
nhận xét tiêu biểu
Giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng - người đặc biệt quan tâm đến các sáng
tác của Nguyễn Ngọc Tư có nhận xét: “Trong cách lựa chọn tình tiết, cốt
truyện, Nguyễn Ngọc Tư “trung thành” với cái tình tự Nam Bộ của quê
hương cô. Chỉ những người sống và lớn lên ở địa phương, thật sự mến yêu
họ hàng, làng xóm của mình, mới thể hiện tình tự với quê hương mình được
như thế. Và bởi ở đâu cũng có cái đặc thù, chính tính đặc thù lại là độc đáo
nhất. Sự cá biệt của phương ngữ, khi được sử dụng để diễn đạt những tình
tự của cuộc sống con người, có khả năng vạch ra cái chung của cái riêng”
[11,2].
Khi viết bài “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”, Phan Quý
Bích nhận định: “Nhiều người viết truyện ngắn thường cố tìm ra những cốt
truyện li kỳ, những sự kiện mà người ta hay gọi là đắt giá. Không phải
trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư không có những chân dung lạ, những sự
kiện ít gặp trong cuộc sống của chúng ta vì hình như bức tranh không có
chút gì đặc biệt thì nó khó thành bức tranh của truyện ngắn. Nhưng những
chắp nối, đứt đoạn của nhân vật. Ở đó, nhân vật tan chảy thành dòng xúc
cảm hỗn độn giữa quá khứ và hiện tại, tâm cảnh và ngoại cảnh mà một sự
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
11
phục dựng đầy đủ chỉ có được khi người đọc đã lật đến trang cuối cùng.
Điều này đem đến cho người đọc cái hứng thú được thể nghiệm “một hiện
thực chưa hoàn kết”, được cùng theo đuổi và trải nghiệm với nhân vật, tức
là gia tăng sự tham gia của người đọc vào câu chuyện. Đó là khuynh hướng
tự sự giàu tính hiện đại” [10, 2]. Đồng thời ông còn chú ý đến giọng điệu và
người kể chuyện: “Để có một giọng văn chân thật, một mặt như đã nói, tác
giả rời chuyển ngôi kể từ người kể chuyện sang nhân vật chính, cho nhân
vật “nói” bằng ngôn ngữ cảm xúc, suy tưởng, mặt khác, đẩy ngôn ngữ đối
thoại, ngôn ngữ của nhân vật khác lọc qua lăng kính tâm lý của nhân vật
chính, đưa nó vào trường cảm nhận của nhân vật chính” [10, 3].
Phạm Phú Phong trong bài Lời đề từ trong Truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư nhận xét: “Lời đề từ có thể là một danh ngôn, một đoạn trích từ kinh
Phật, một câu hát dân gian, hoặc đôi khi chỉ là một ý nghĩ bâng quơ, nêu
một sở thích ngộ nghĩnh, hoặc một đoạn tự sự tồn tại song song với
truyện…nhưng tất cả đều có thể vận vào, đều thể hiện chiều sâu của tư
tưởng, là một phần bổ sung không thể thiếu cho văn bản tác phẩm…” [25].
Ở cuối bài viết tác giả khẳng định: “Những gì hiện ra trên văn bản, trên
ngôn từ mà ta thường gọi là hiển ngôn hữu hạn hơn rất nhiều so với sự hàm
ngôn, ở tầng sâu hơn, chị có khả năng mở ra những ngóc ngách tận đáy
tâm hồn của con người, trong sự đồng hiện, đồng cảm giữa người đọc và
thế giới nhân vật. Một trong những thủ pháp nghệ thuật tạo cho chị thành
công, đó chính là việc sử dụng nhuần nhuyễn các lời đề từ” [25].
Có thể nói, những ý kiến, nhận định về truyện ngắn của cây bút trẻ
Nguyễn Ngọc Tư đều có những phát hiện sâu sắc về nét riêng trong cách kể
chuyện, hành văn của chị. Điều đó góp phần làm cho các sáng tác của chị
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
13
- Nước chảy mây trôi (Tập truyện và kí, NXB Văn nghệ
TPHCM, 2004).
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Tập truyện, NXB Văn hóa
Sài Gòn, 2005).
- Cánh đồng bất tận (Tập truyện, NXB Trẻ, 2005).
- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện, NXB Trẻ,
2008).
- Khói trời lộng lẫy (Tập truyện, NXB Thời đại, 2010).
Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của một nhà văn trẻ
đang trên con đường kiếm tìm và định hình phong cách, chúng tôi hy vọng sẽ
góp phần làm nổi bật một số nét phong cách trong nghệ thuật viết truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tư đồng thời cũng thấy được rõ hơn những đóng góp của
chị trong sự vận động của Văn học Việt Nam đương đại.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích tác phẩm; Phương pháp so sánh, đối
chiếu; Phương pháp phân loại, thống kê; Phương pháp hệ thống, tổng hợp.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được
triển khai phần nội dung thành 3 chương :
Chương 1: Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Chương 2: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và kết cấu trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư.
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư.
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
15
đọc…Vì vậy mà người kể chuyện không chỉ có mối liên hệ gắn bó với tác giả
mà còn với bản thân câu chuyện kể và người tiếp nhận nó.
Trong tác phẩm tự sự, nhà văn trình bày, tái hiện một cách sáng tạo thế
giới hiện thực thông qua lời kể, lời miêu tả,…của một người trần thuật nào
đó. Người kể chuyện là sản phẩm của quá trình hư cấu của nhà văn, nó khác
với người kể chuyện thực tế trong đời sống. Khi nhà văn lựa chọn dạng thức
xuất hiện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự cũng là cách để nhà văn
thể hiện ý đồ sáng tác. Có nhiều cách phân loại người kể chuyện. Nếu căn cứ
vào vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm, ta có: người kể chuyện ở ngôi
thứ nhất, ngôi thứ ba, cá biệt có trường hợp người kể chuyện vừa ở ngôi thứ
nhất vừa ở ngôi thứ ba (Linh Sơn – Cao Hành Kiện). Người kể chuyện ở ngôi
thứ nhất kể về câu chuyện mình chứng kiến hay câu chuyện của bản thân
mình nên khoảng cách giữa người kể với câu chuyện được kể bị triệt tiêu
(Lão Hạc – Nam Cao, Sợi tóc - Thạch Lam, Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn
Minh Châu). Tham dự vào truyện như một nhân vật, người kể chuyện đứng ở
vị trí bên trong như một chủ thể, được tự do quan sát bàn luận, có điều kiện đi
sâu tìm hiểu, khám phá thế giới hiện thực trong tác phẩm. Lời kể bộc lộ tính
chất chủ quan và sắc thái cảm xúc cao độ. Người kể chuyện ở ngôi này có thể
mang quan điểm của tác giả nhưng không phải lúc nào cũng trùng khít với tác
giả. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba phổ biến hơn, là hình thức kể khi người
kể chưa được ý thức (như trong truyện thần thoại, truyện cổ tích,…) hoặc là
đã được ý thức nhưng cố ý giấu mình (như trong truyện ngắn, tiểu thuyết hiện
đại). Ngôi kể này làm cho câu chuyện hoàn toàn khách quan, người kể chuyện
vốn có tài “hiểu biết hết” mọi chuyện. Nếu căn cứ vào vai trò của người kể
chuyện, sẽ có hai loại: Người kể chuyện không đáng tin cậy, không biết hết và
người kể chuyện đáng tin cậy
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
17
tác phẩm bởi các quan niệm, các biến cố xảy ra, cách đánh giá các nhân vật
và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân người kể” [44, 204].
Không chỉ góp phần tổ chức kết cấu tác phẩm, người kể chuyện còn có
chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật. Nhà văn
Gorki khẳng định: “Trong tiểu thuyết, trong truyện ngắn, những con người
được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; tác giả luôn
bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc hiểu rõ cần phải hiểu như thế nào,
giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩa thầm kín, những động cơ bí ẩn ở
phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả”. “Tác giả” mà
Gorki nói tới chính là người kể chuyện, bởi trong tác phẩm người kể chuyện
thay mặt tác giả dẫn dắt người đọc thâm nhập vào thế giới nghệ thuật. Người
kể chuyện sẽ gợi mở, giúp người đọc tiếp cận với nhân vật, hiểu được những
động cơ thầm kín trong những hành động của nhân vật, rút ngắn khoảng cách
giữa nhân vật với mình. Không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn, sâu hơn về
nhân vật mà người kể chuyện còn hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ và
đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về cuộc đời.
Nhiều khi, người kể chuyện còn đối thoại, tranh luận với người đọc để cùng
nhau khám phá, kiếm tìm những chân lý của cuộc sống.
Mang tiếng nói, quan điểm của tác giả, người kể chuyện thay mặt nhà
văn trình bày những quan điểm về cuộc sống, nghệ thuật. Mỗi tác phẩm nghệ
thuật là một đứa con tinh thần của nhà văn và thông qua tác phẩm nhà văn
trình bày một cách nghệ thuật những quan niệm của mình.
Qua sự phân tích trên, ta có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của
người kể chuyện trong tác phẩm tự sự để từ đó giúp chúng ta đánh giá, phân
tích tác phẩm sâu hơn, trọn vẹn hơn. Khảo sát các tập truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tư, có thể thấy nhà văn đã sử dụng tất cả các dạng thức xuất
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
19
người kể miêu tả sự vật từ phía bên ngoài nhân vật, kể những điều nhân vật
không biết. Điểm nhìn không gian là nhìn xa hay cận cảnh, điểm nhìn thời
gian là nhìn từ thời điểm hiện tại như sự việc đang diễn ra hay nhìn lại quá
khứ, kí ức. Điểm nhìn di động là sự di chuyển điểm nhìn từ đối tượng này
sang đối tượng khác. Vận dụng linh hoạt các điểm nhìn trần thuật sẽ góp phần
tạo nên tính sinh động, hấp dẫn cho tác phẩm văn học bởi tác phẩm văn học
chính là tấm gương phản chiếu đời sống. Sự đa dạng về điểm nhìn có thể phản
ánh được hiện thực đời sống ở nhiều góc cạnh đa dạng nhất.
Tìm hiểu Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
chúng tôi nhận thấy các sáng tác của chị có sức hấp dẫn ở cách xây dựng nhân
vật người kể chuyện kết hợp với hệ thống điểm nhìn trần thuật vừa linh hoạt
vừa độc đáo.
1.2 Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
1.2.1 Người kể chuyện lộ diện trực tiếp ở ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên
trong
Điểm nhìn bên trong giúp người kể chuyện dẫn người đọc vào trạng
thái tâm tình, khiến họ có cảm giác thấy cuộc sống qua tâm hồn người trong
cuộc, nên những gì họ thẩm thấu được đều đáng tin, đáng nhớ. Từ điểm nhìn
của một nhân vật trong câu chuyện những điều được kể mang đậm tính chủ
quan, những sự việc biến cố dần dần được hiện lên qua những gì nhân vật
cảm thấy, nhận thấy rồi suy ngẫm và bộc lộ thái độ. Với điểm nhìn này người
kể chuyện dễ dàng tái hiện các quá trình trong tâm hồn nhân vật. Ở đó người
kể chuyện đồng thời cũng là nhân vật chính, xưng “tôi”, vừa là chủ thể diễn
ngôn, vừa là chủ thể hành động trong câu chuyện. Để có thể diễn tả được tất
cả các ngõ ngách của đời sống và nội tâm con người của vùng đất Nam Bộ
máu thịt, Nguyễn Ngọc Tư đã chọn cho người kể chuyện kể lại câu chuyện từ
điểm nhìn bên trong.
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến Luận văn Thạc sĩ
21
không giữ tay em được lâu, vì khi rình bắt con chuồn chuồn gần cái ao nhỏ
sắp cạn nước bên bờ ruộng, tôi đã thấy lại mái tóc trắng xóa của mình…vì chỉ
cần chút nữa, gặp người đời, tôi sẽ thấy lại tuổi sáu mươi chín của mình trong
mắt họ”. Hạnh phúc thoáng qua, còn lại là những dằn vặt, đau đớn khi nhận ra
thực tại khiến nhân vật “gần như không dám nhìn vào cái cười trong trẻo đó
vì sợ mình sẽ nhớ lâu”. Và cho đến kết thúc truyện vẫn là sự trăn trở, nỗi đau
của một người từng trải, hiểu sâu sắc cuộc đời này: “May quá, mai kia khi trút
hơi thở cuối cùng, tôi chẳng phải nặng lo cho em, lúc đó ngồi cạnh tôi với
gương mặt ướt”. Những cảm xúc thật đó trải ra từng trang giấy khiến người
đọc có cảm giác như đang trực tiếp nghe nhân vật giãi bày.
Cũng giống như nhà văn Thạch Lam, các truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư không mang tính chất tự thuật về cuộc đời mà chỉ kể về những trải
nghiệm tâm lý của con người. Với tư cách là kẻ trong cuộc, hình thức cái
“tôi” trải nghiệm của người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã
mang tính thuyết phục người đọc rất cao ở sự chân thực của cảm xúc.
Truyện Cánh đồng bất tận là những khúc xạ tâm lý và suy nghĩ của
một cô gái mới lớn sống cơ cực từ nhỏ. Câu chuyện thương tâm của gia đình
và cả những mất mát của bản thân cô được kể một cách chân thực. Không
rành rọt thời gian, hiện tại và quá khứ đan xen, người đọc nương theo những
cảm nhận và suy nghĩ của nhân vật sẽ thấy những cảnh đời, những con người
bất hạnh, những ngang trái ở đời. Có thể nói, toàn truyện là chuỗi tâm trạng,
những hồi ức, kỉ niệm đau đớn của nhân vật Nương về những gì cô phải trải
qua và chứng kiến.
Kể theo dòng chảy nội tâm của nhân vật nên các sự kiện đứt nối, không
liền mạch. Đang từ cảnh sống trong hiện tại trên cánh đồng không có tên, chị
em Nương đã cứu cô gái điếm, lại quay về kí ức ngày bà mẹ bỏ đi, rồi trở về
cuộc sống hiện tại, kí ức lại hiện về với những cuộc tình của người cha, sự bất