1
Nghệ thuật trần thuật trong truyên ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
Vũ Thị Hải Yến
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Văn học
Luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hà Văn Đức
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Nghiên cứu về người kể chuyện trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn
Ngọc Tư. Trình bày nghệ thuật tổ chức cốt truyện và kết cấu trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư. Phân tích ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư.
Keywords. Văn học Việt Nam; Truyện ngắn; Nghệ thuật trần thuật
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của vùng đất tận cùng Tổ quốc. Chị sinh năm
1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một gia đình nông dân.
Sau hơn mười năm cầm bút, chị đã trở thành một hiện tượng độc đáo khiến bạn đọc
trong nước và ngoài nước quan tâm. Truyện của Nguyễn Ngọc Tư vừa mang hơi thở
của cuộc sống hiện đại vừa mang nét duyên của “trái sầu riêng” Nam Bộ, có người
thích, khen thơm, có người bưng mũi quay đi vì chê nó nặng mùi. Tuy vậy, chúng
tôi nhận thấy truyện ngắn của chị thực sự tạo được “hiệu ứng” với bạn đọc. Điều gì
mảnh”. Cũng trên báo Văn nghệ, nhà văn Dạ Ngân đã trả lời: “tôi đã viết bài
“Nguyễn Ngọc Tư như thế nào?” bằng tâm trạng thú vị khi nhớ tới lời khen mà
người ta từng giành cho Solokhov: “trên bầu trời văn học nước Nga, một con đại
bàng non vừa cất lên đôi cánh mênh mông từ sông Đông”.
Cũng vì yêu mến Nguyễn Ngọc Tư mà giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng - một
Việt kiều Mỹ đã lập một tủ sách Nguyễn Ngọc Tư trong trang web “Văn hóa và giáo
dục” của mình. Ông tự bạch trong website của mình: “tôi lập trang web với mục
đích trước hết, cho tôi thu thập vào một nơi những bài của (và về) Nguyễn Ngọc Tư
rải rác trên các web và sau đó chia sẻ với những bạn thích văn Nguyễn Ngọc Tư
như tôi”.
Nhưng nhiều người bắt đầu sốt ruột về Nguyễn Ngọc Tư khi nghĩ rằng chị đang
bằng lòng với những vinh quang chị đã có: “Đọc mãi, thấy lo lo, hình như tác giả
viết bắt đầu trơn tay, ít thể nghiệm. Có cảm giác Nguyễn Ngọc Tư đang quá thảnh
3
thơi trên con đường mà dư luận nhiều ưu ái đã phát quang cho, sự kỳ vọng bắt đầu
trở thành sự sốt ruột, kiên nhẫn” [21,1]. Giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng trong bài
viết: Nguyễn Ngọc Tư, “đặc sản” miền Nam, cũng có những nhận xét tương tự:
“Phần nào, sự chuyên biệt của Nguyễn Ngọc Tư vào những truyện loại này, có thể
làm người đọc lo ngại. Chẳng lẽ nghiệp văn của cô sẽ khoanh trong thể loại những
mối tình không trọn, những kí sự đồng quê? Quả là Nguyễn Ngọc Tư có tài thiên
phú, cô viết rất nhiều (trong vòng 3 năm đã ra bốn tập truyện ngắn). Nhưng cái
đáng lo là ở chỗ đó. Người đọc bắt đầu thấy quá quen thuộc với truyện của cô.
Chúng na ná như nhau…Sự quanh quẩn trong những không gian, hoàn cảnh quen
thuộc có thể là cái chớp đèn vàng (nhưng chưa đỏ) trên con đường văn chương của
Nguyễn Ngọc Tư” [11,3].
Tháng 8 năm 2005, truyện Cánh đồng bất tận đã ra mắt bạn đọc. Một Nguyễn
Ngọc Tư rất mới khuấy động đời sống văn học, những nhận định trái chiều về chị
được đăng trên các báo tạo thành một “hiện tượng văn học” đáng chú ý của năm
2005. Đã có nhiều ý kiến, đánh giá và những bài báo tỏ ra không có cảm tình thậm
Giáo sư kinh tế Trần Hữu Dũng - người đặc biệt quan tâm đến các sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư có nhận xét: “Trong cách lựa chọn tình tiết, cốt truyện, Nguyễn
Ngọc Tư “trung thành” với cái tình tự Nam Bộ của quê hương cô.” [11,2].
Khi viết bài “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”, Phan Quý Bích nhận
định: “Nhiều người viết truyện ngắn thường cố tìm ra những cốt truyện li kỳ, những
sự kiện mà người ta hay gọi là đắt giá Thường thì Nguyễn Ngọc Tư cho ta biết
những cái “tin” giản dị: một cô gái sửa soạn đồ mang theo trong ngày cưới, một
anh bạn trẻ thấy nhớ ông già hàng xóm đã đi xa. Những cái tin như thế không cần
đến những cốt truyện li kỳ, những biến cố giật gân, mà chỉ như sự thông báo về
những gì diễn ra quanh ta với những con người mà ta có thể bắt gặp thường ngày
mà thôi. Tuy vậy, nó vẫn là “tin”, vẫn đáng chú ý vì có một cái gì đó khiến ta phải
suy nghĩ, phải chiêm nghiệm. Và đây mới là điều đáng nói” [8, 1]. Đồng thời, nhà
nghiên cứu cũng nhận thấy: “Nguyễn Ngọc Tư thường kể cho ta nghe những chuyện
buồn, rất buồn. Những cảnh đời éo le, những thân phận đau đớn” [8, 2].
Về nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Trần Phỏng Diều có những
nhận xét rất tinh tế: “Mặc dù phần lớn người nông dân Nam Bộ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư đều nghèo, đều có một số phận long đong, vất vả, nhưng trên hết,
họ sống với nhau bằng cái tình, bằng sự yêu thương và đùm bọc lẫn nhau…Nguyễn
Ngọc Tư quả có cái nhìn sâu sắc, tinh tế, có khả năng phát hiện ra những ngõ sâu
trong tâm hồn những người nông dân Nam Bộ, những niềm vui, nỗi buồn, cốt cách
đặc trưng cũng như bản chất cố hữu của họ” [9, 4].
Nhà phê bình Văn Công Hùng đã khẳng định: “Cái làm nên Nguyễn Ngọc Tư
còn là ngôn ngữ. Nguyễn Ngọc Tư đã thiết lập cho riêng mình một hệ thống ngôn
5
ngữ đậm chất Nam Bộ nhưng không dị mọ ăn theo mà tung tẩy, thăng hoa theo từng
ngữ cảnh cụ thể” [17, 1].
Đoàn Ánh Dương trong bài viết “Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và
ngôn ngữ trần thuật” nhận xét: “Tác giả đã lồng ghép hai hệ thống tự sự với ba mô
hình cốt truyện trong “Cánh đồng bất tận”. Trực diện với tác phẩm, cốt truyện sự
trị văn học - văn hóa, Luận văn thạc sĩ của Dương Thị Kim Thoa, Đại học KHXH
& NV Hà Nội, năm 2008.
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, Khóa luận tốt
nghiệp của Lương Thúy Hà, Đại học KHXH & NV Hà Nội, năm 2009.
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống
về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. Trên tinh thần kế thừa
những thành tựu nghiên cứu của người đi trước chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu
một cách toàn diện, có hệ thống về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của chị;
hi vọng sẽ góp tiếng nói của mình vào việc khẳng định tài năng, cũng như những
đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư với thể loại truyện ngắn nói riêng và với nền văn
học đương đại nói chung.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi khảo sát các tập truyện ngắn sau của nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư:
- Ngọn đèn không tắt (Tập truyện ngắn , NXB Trẻ, 2000).
- Ông ngoại (Tập truyện, NXB Kim Đồng, 2001).
- Biển người mênh mông (Tập truyện, NXB Trẻ, 2003).
- Giao thừa (Tập truyện, NXB Trẻ, 2003).
- Nước chảy mây trôi (Tập truyện và kí, NXB Văn nghệ TPHCM,
2004).
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Tập truyện, NXB Văn hóa Sài
Gòn, 2005).
- Cánh đồng bất tận (Tập truyện, NXB Trẻ, 2005).
- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện, NXB Trẻ, 2008).
- Khói trời lộng lẫy (Tập truyện, NXB Thời đại, 2010).
Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của một nhà văn trẻ đang trên
con đường kiếm tìm và định hình phong cách, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm nổi
bật một số nét phong cách trong nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
đồng thời cũng thấy được rõ hơn những đóng góp của chị trong sự vận động của Văn
học Việt Nam đương đại.
sâu sắc, trọn vẹn hơn.
Trong tác phẩm tự sự, nhà văn trình bày, tái hiện một cách sáng tạo thế giới hiện
thực thông qua lời kể, lời miêu tả,…của một người trần thuật nào đó. Người kể chuyện
là sản phẩm của quá trình hư cấu của nhà văn, nó khác với người kể chuyện thực tế
trong đời sống. Khi nhà văn lựa chọn dạng thức xuất hiện của người kể chuyện trong
tác phẩm tự sự cũng là cách để nhà văn thể hiện ý đồ sáng tác. Có nhiều cách phân loại
người kể chuyện. Nếu căn cứ vào vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm, ta có:
8
người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba, cá biệt có trường hợp người kể chuyện
vừa ở ngôi thứ nhất vừa ở ngôi thứ ba. Nếu căn cứ vào vai trò của người kể chuyện, sẽ
có hai loại: Người kể chuyện không đáng tin cậy, không biết hết và người kể chuyện
đáng tin cậy
1.1.2 Vai trò, chức năng của ngƣời kể chuyện
Có thể khẳng định trong truyện ngắn nói riêng cũng như trong tác phẩm tự sự
nói chung người kể chuyện có vai trò quan trọng trong việc tổ chức kết cấu tác phẩm.
Viết truyện, nhà văn thường xây dựng những kết cấu riêng. Người kể chuyện phải thay
mặt nhà văn cố gắng tìm cho mình một kết cấu tốt nhất để làm câu chuyện hấp dẫn, lôi
cuốn được người đọc. Với những cách kể chuyện khác nhau, cách xuất hiện khác nhau
của người kể chuyện, ta sẽ có các dạng cốt truyện khác nhau: cốt truyện tuyến tính, cốt
truyện tâm lý, cốt truyện “chuyện lồng chuyện”…
Người kể chuyện còn có chức năng môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế
giới nghệ thuật. Nhà văn Gorki khẳng định: “Trong tiểu thuyết, trong truyện ngắn,
những con người được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả; tác
giả luôn bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc hiểu rõ cần phải hiểu như thế nào,
giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩa thầm kín, những động cơ bí ẩn ở phía sau
những hành động của các nhân vật được miêu tả”.
Khảo sát các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, có thể thấy nhà văn đã sử
dụng tất cả các dạng thức xuất hiện của người kể chuyện tạo nên nét duyên, cái tạng
riêng cho mỗi trang văn của chị.
Thổ Sầu, Khói trời lộng lẫy,…
Của ngày đã mất, người kể chuyện xưng “tôi” để giãi bày những trạng thái yêu
thương, dằn vặt, đau khổ,…của mình trước mối tình “so le” về tuổi tác.
Truyện Cánh đồng bất tận là những khúc xạ tâm lý và suy nghĩ của một cô gái
mới lớn sống cơ cực từ nhỏ. Câu chuyện thương tâm của gia đình và cả những mất mát
của bản thân cô được kể một cách chân thực. Không rành rọt thời gian, hiện tại và quá
khứ đan xen, người đọc nương theo những cảm nhận và suy nghĩ của nhân vật sẽ thấy
những cảnh đời, những con người bất hạnh, những ngang trái ở đời. Có thể nói, toàn
truyện là chuỗi tâm trạng, những hồi ức, kỉ niệm đau đớn của nhân vật Nương về
những gì cô phải trải qua và chứng kiến.
Chọn ngôi kể thứ nhất, với điểm nhìn bên trong, Nguyễn Ngọc Tư đã đi sâu vào
những ngóc ngách trong tâm hồn con người, mở ra những cung bậc, trạng thái tình
cảm thầm kín nhất. Nhờ vậy, chị đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của mình với những
cảnh đời ngang trái, những câu chuyện éo le. Hơn nữa, với cách kể chuyện này, chị đã
để người đọc thật sự được sống và trải nghiệm cùng những nhận vật của mình. Và
nhiều khi người đọc nhận thấy đó cũng là cảm xúc, tâm trạng của chính mình, của
những người xung quanh mình.
10
1.2.1.2 Cái “tôi” kể chuyện ngƣời khác
Nhiều truyện của Nguyễn Ngọc Tư, người kể chuyện ngôi thứ nhất nhưng
không kể chuyện mình mà kể chuyện người khác. Ở đó, “tôi” đóng vai trò của người
quan sát, tỏ ra thấu hiểu cuộc đời, tâm hồn nhân vật và tái hiện lại bằng lời kể của
mình. Đó là những truyện: Dòng nhớ, Cái nhìn khắc khoải, Người năm cũ, Nước chảy
mây trôi, Núi lở, Tình lơ,…
Không kể về những gì mình trải qua như cái “tôi” kể chuyện mình, cái “tôi” kể
chuyện người khác chỉ giữ vai trò như một chứng nhân trong câu chuyện, kể lại những
gì mình biết, mình chứng kiến. Nhờ vậy, những gì được kể mang tính chủ quan. Tuy
không phải là đồng nhất nhưng dạng thức xuất hiện này của người kể chuyện được cho
là hình thái của hình tượng tác giả - mang tiếng nói, quan điểm của tác giả. Tác phẩm
luận xen vào câu chuyện. Đây là dạng thức kể chuyện quen thuộc trong hình thức trần
thuật từ ngôi thứ ba. Khảo sát các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi
nhận thấy rằng phương thức tự sự này chỉ tồn tại ở cấp độ thấp hơn văn bản (đoạn,
cảnh, câu) chứ không xuất hiện ở cấp độ toàn văn bản. Như truyện Hiu hiu gió bấc và
Cảm giác trên đây vừa được kể theo điểm nhìn của chính người kể chuyện hàm ẩn vừa
kể theo điểm nhìn của các nhân vật trong truyện.
1.2.2.2 Kể theo điểm nhìn của nhân vật
Với điểm nhìn của nhân vật, người kể chuyện dễ dàng thuật lại những diễn biến
khách quan của tình tiết, sự kiện. Lúc này, khung cảnh, sự vật, con người,…trong câu
chuyện không phải do người kể miêu tả nữa mà nó được dựng lên dưới sự quan sát,
cảm nhận của chính người trong truyện. Khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư,
chúng tôi nhận thấy đây là dạng kể chuyện được sử dụng nhiều trong tác phẩm của chị.
Tiêu biểu như: Đau gì như thể, Chuyện của Điệp, Nửa mùa, Nhớ sông, Nước chảy mây
trôi, Biển người mênh mông, Duyên phận so le, Ngày đùa, Bởi yêu thương, Mộ gió,
Rượu trắng,…
Đặt dưới điểm nhìn của nhân vật, những gì được kể, tả đều nhuốm màu tâm
trạng của người trải nghiệm: “Sáng mai thôi nó sẽ xuống Võ rồi ở miết nhà người ta.
Nhớ cái cối xay bột dựa hàng kệ đựng tiêu, tỏi, dầu ăn, nước mắm…con mèo ngủ thiu
thiu trên đầu bộ ngựa, mấy võng giăng quây quần quanh bồ lúa. Lối vô nhà trải đất đỏ,
người đi ra đi vô mòn mấy hòn tròn tròn trọc lóc. Lối này đổ ra con đường chạy dài tới
Vịnh Dừa. Đi chút nữa là tới đám trâm bầu, chỗ con đập vào xóm Kinh Cụt…Và nhà ở
đó” (Huệ lấy chồng)…
Trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, người kể chuyện hàm ẩn đã di
chuyển điểm nhìn sang cho nhân vật, tạo nên cách kể chuyện đầy tính chất chủ quan,
chất chứa những cảm xúc, tình cảm, trải nghiệm của cá nhân con người. Đó là lối kể
chuyện mang chiều sâu đời sống nội tâm của chính chủ thể thẩm mĩ. 12
1.2.3 Ngƣời kể chuyện toàn tri với điểm nhìn di động
13
CHƢƠNG 2: NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƢ
2.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện
2.1.1 Khái niệm cốt truyện
Cốt truyện là yếu tố quan trọng bậc nhất, không thể thiếu trong bất kì một hình
thức tự sự nào. Trong tác phẩm tự sự, “cốt truyện là cái khung để đỡ cho toàn bộ tòa
nhà nghệ thuật ngôn từ đứng vững” [44,181]. Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên cũng viết: “Hệ thống sự kiện
cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ
phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc loại
hình tự sự và kịch… Có thể tìm thấy qua một cốt truyện hai phương diện gắn bó hữu
cơ: một mặt, cốt truyện là một phương diện bộc lộ nhân vật, nhờ cốt truyện, nhà văn
thể hiện sự tác động qua lại giữa các tính cách nhân vật; mặt khác, cốt truyện còn là
phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội” [13; 99,100]. Theo giáo trình Lí
luận văn học của trường Đại học Tổng hợp thì “cốt truyện là một hệ thống các sự kiện
phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ
thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại
của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ để và tư tưởng tác phẩm”.
Trong một tác phẩm tự sự, cốt truyện luôn giữ vị trí “xương sống”, nó liên kết
các chi tiết, các sự kiện thành một hệ thống.
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ sáng tác sung sức nhất ở lĩnh vực truyện
ngắn. Chị viết về những điều bình thường trong cuộc sống của những con người nơi
cực Nam của Tổ quốc, viết về những nỗi đau âm thầm, dai dẳng…Truyện ngắn của chị
với những kiểu cốt truyện vừa quen thuộc vừa hiện đại đã giúp chị tái hiện và phản
ánh những mâu thuẫn, xung đột, giằng xé trong cuộc đời thực một cách thấm thía nhất,
xúc động nhất.
những cốt truyện tâm lý để khám phá những ngóc ngách sâu kín trong tâm hồn con
người giữa bộn bề những toan tính của cuộc sống hiện đại mới thực sự là nguồn nội
lực tiềm tàng ở chị.
2.1.2.2 Cốt truyện tâm lý
Với kiểu kiểu cốt truyện tâm lý, câu chuyện được tổ chức theo mạch vận động
của tâm lý nhân vật, những cảm xúc, suy nghĩ, liên tưởng,…Vì thế cốt truyện tâm lý
thường “lỏng lẻo”, khó có thể tìm thấy đầy đủ sự phát triển của các tình tiết. Kiểu cốt
truyện này đặc biệt phát huy tác dụng khi nhà văn muốn diễn tả thế giới nội tâm con
người, một hiện thực khó nắm bắt hơn rất nhiều so với khám phá cuộc sống bên ngoài.
Điển hình trong kiểu cốt truyện tâm lý là kiểu truyện được triển khai dựa trên
tâm lý nhân vật với những bức xúc, dằn vặt nội tâm. Nhiều truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư thường thể hiện những thăng trầm trong cảm xúc, suy tư của nhân vật hướng
15
người đọc khám phá những vỉa tầng sâu kín trong nội tâm con người. Tiêu biểu như
các truyện: Nhớ sông, Dòng nhớ, Huệ lấy chồng, Ngổn ngang, Biển người mênh mông,
Nước như nước mắt,…
Được tạo dựng theo cách kể chuyện quen thuộc của Nguyễn Ngọc Tư, Ngổn
ngang là một truyện ngắn đầy ắp tâm trạng. Cũng là một câu chuyện tình đầy lỡ dở,
đầy đau thương nhưng không hề có những sự kiện, biến cố gay cấn. Câu chuyện được
thêu dệt bởi những trăn trở về tình yêu, về nghề nghiệp, về cuộc đời của một cô gái
mới lớn bằng một giọng kể nhẹ nhàng nhưng nặng suy tư đã bộc lộ tài năng của nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư.
Nước như nước mắt là truyện ngắn được xây dựng bằng những cảm xúc, những
dằn vặt của nhân vật Sáo khi kể về câu chuyện của chính mình. Có thể thấy cốt truyện
sự kiện đã bị phân rã và cốt truyện tâm lý đã lấn lướt. Truyện là những mảnh gép đứt
nối giữa hiện tại và quá khứ. Chất keo kết dính chính là dòng chảy tâm trạng. Truyện
đã chứng tỏ tài năng của Nguyễn Ngọc Tư trong việc thâm nhập vào ngõ ngách sâu
kín của nội tâm của con người, thấy được ranh giới giữa yêu thương và căm hận.
Chiếm một số lượng lớn trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là những
tiếng.
Góp phần làm nên thành công cho truyện ngắn Cánh đồng bất tận, đánh dấu sự
đổi mới trong hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chính là những chi tiết đầy ám
ảnh. Câu chuyện về hai chị em Nương và Điền sống trong sự thù hận của người cha
khi bị vợ mình phản bội thật đáng thương. Sống lang thang nay đây mai đó hai đứa trẻ
như cỏ cây hoang dại, chúng phải tự học đủ thứ, không biết thì thử, không hiểu thì chất
thành khối trong lòng. Và nhiều khi để hiểu được một vấn đề nào đó chúng phải trả
một giá rất cao. Chi tiết thằng Điền tìm được một cây ô môi nhỏ và hai chị em trồng
cây, nhìn thấy cây bén rễ đã ao ước “Ước gì đây là đất của mình” thật đáng thương.
Sống xa con người, lênh đênh khắp đồng này đến bãi kia, hai đứa trẻ khao khát được
sống như con người bình thường. Rồi đến chi tiết về lần đầu tiên Nương ra máu tháng
thật xót xa: “Máu chảy giữa hai đùi không tạnh được, tôi thụp xuống, bụm chỗ ấy lại.
Máu từ từ chảy qua kẽ tay, tôi thấy mình rỗng ra, tái nhợt chết dần. Thằng Điền vói
bứt đọt chuối, tọng vào miệng nhai ngốn ngấu, điên dại, để lấy bả rịt lại chỗ máu.
Thuốc gò nghe nói cầm máu rất tốt, cũng chẳng ăn thua. Hai đứa nhìn nhau khóc, tôi
đã mơ thấy ngôi mộ của mình, như chiếc giường giữa bốn bề đồng nước…”. Thật tội
nghiệp cho đứa con gái dậy thì thiếu tình thương và sự chỉ bảo của người mẹ. Có
những điều người ta chỉ gặp một lần trong đời, nên sự trải nghiệm đối với hai đứa trẻ
trong truyện cũng không giúp được gì cho chúng. Bởi cái mà chúng cần là tình yêu
thương, là cuộc sống thực sự của con người lại là điều khó lòng mà chúng có được.
17
Truyện ngắn là một lát cắt của cuộc sống. Để tái hiện thành công những lát cắt
đó, nhà văn sử dụng những tình huống truyện, những chi tiết nghệ thuật đắt giá. Viết
về những điều ngang trái, những nỗi đau,…trong cuộc đời này, Nguyễn Ngọc Tư đã sử
dụng những chi tiết nghệ thuật đặc sắc.
2.1.3.2 Kết thúc mở gợi nhiều day dứt, trăn trở
Nhiều truyện ngắn của chị có kết thúc khá bất ngờ đối với người đọc. Tư tưởng,
chủ đề của tác phẩm thường được thể hiện đột ngột, cô đọng ở đoạn cuối tác phẩm.
Đầu truyện nhà văn dẫn dắt người đọc bằng những chi tiết nhỏ nhặt để đến đoạn kết
Cách tổ chức kết cấu trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã giúp chị đi
sâu khai thác mảng hiện thực đang phơi bày trước mắt, một hiện thực đang được rung
chuông báo động, ở đó đầy những va chạm, bụi bặm và ngột ngạt của cuộc sống đời
thường.
2.2.2 Tổ chức kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ
2.2.2.1 Truyện thƣờng có lời đề từ
Là “thành phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách
hoặc sau tiêu đề ở mỗi chương trong cuốn sách nhằm hướng người đọc vào ý đồ nghệ
thuật của tác giả hoặc tư tưởng của tác phẩm” [13, 112].
Nguyễn Ngọc Tư là một trong số ít nhà văn sử dụng lời đề từ cho truyện ngắn.
Điều này đã tạo nên nét riêng cho nhiều truyện ngắn của chị, nhất là những truyện
ngắn được sáng tác gần đây. Trong truyện của chị, “lời đề từ có thể là một danh ngôn,
một đoạn trích từ kinh Phật, một câu hát dân gian, hoặc đôi khi chỉ là một ý nghĩ bâng
quơ, nêu một sở thích ngộ nghĩnh, hoặc một đoạn tự sự tồn tại song song với
truyện…nhưng tất cả đều có thể vận vào, đều thể hiện chiều sâu tư tưởng, là một phần
bổ sung không thể thiếu cho văn bản tác phẩm, góp phần tạo nên sự toàn vẹn của
chỉnh thể,…thể hiện ý đồ sáng tạo của tác giả và tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm”
[25, 2].
Ngay trong lời đề từ của truyện Cải ơi! là câu hát cửa miệng của người dân
Nam Bộ “Mỗi lần nghe câu hát “Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại…”, tôi hơi
quạu, ông bà mình quá hiền lành đi, thí dụ có bị phụ phàng, thì cũng cố chanh chua,
hằn học một tí, “Gió đưa thằng quỷ sứ về thành. Để tui ở lại chành ành… đắng cay”.
Đau, tức vậy mà cứ trách nhẹ hều…Dường như người ta vẫn yêu, yêu đến mức không
thể giằn dỗi, nặng lời. Và mình thì chưa bao giờ yêu ai đến như vậy?!!!”.
Truyện Gió lẻ có lời đề từ ngắn gọn: “Tại sao người ta không nhìn thấy mình
khi mình còn sống? - Lời của một con ma” khơi mở cho một câu chuyện đầy xúc cảm
về nỗi cô đơn, tổn thương, sự mất mát và cái chết.
Cũng có một lời đề từ ngắn gọn là truyện Thềm nắng sau lưng. Câu chuyện
được khơi mở bằng câu thơ của nhà thơ Nguyễn Đình Thi “người ra đi đầu không
ngoảnh lại…”. Đây cũng là nguồn cảm hứng chung của toàn truyện.
Việc sử dụng lời đề từ trong truyện ngắn đã tạo cho chị khả năng mở ra những
ngóc ngách tận đáy tâm hồn của con người, trong sự đồng hiện, đồng cảm giữa người
đọc và thế giới nhân vật.
20
2.2.2.2 Kết cấu đảo trật tự thời gian, sự kiện
Truyện có kiểu kết cấu này thường được mở đầu bằng những sự kiện của hiện
tại, sau đó ngược dòng quá khứ rồi có thể từ đó, hướng tới tương lai.
Có thể thấy trong nhiều truyện ngắn của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư kiểu kết
cấu đảo trật tự thời gian, sự kiện thực sự tạo ra hiệu quả nghệ thuật. Cánh đồng bất tận
là một truyện ngắn có cấu trúc lỏng. Hệ thống sự kiện bị phân rã, chắp nối theo chuỗi
ký ức đứt đoạn của nhân vật tôi. Đó là một câu chuyện mở, một tác phẩm được dệt bởi
sự đan cài giữa xúc cảm và suy tưởng của nhân vật chính trên phông nền là cuộc sống
của những kiếp người nhọc nhằn, tủi cực.
Nước như nước mắt cũng là truyện ngắn có kết cấu đảo lộn thời gian tuyến tính.
Trên văn bản, Nguyễn Ngọc Tư cũng đánh dấu rõ ràng, truyện được kết cấu thành 7
phần. Nếu theo trật tự tuyến tính thì kết cấu truyện phải được sắp xếp lại là: đoạn
4,3,1,2,5,6,7. Trong truyện, từ biến cố trong hiện tại, nhà văn đã đưa nhân vật trở về
quá khứ rồi quay lại hiện tại. Truyện vận động theo mạch tâm lý của nhân vật chính là
Sáo. Các lớp sự kiện, biến cố được xâu chuỗi lại bởi mạch tâm lý đó. Nhờ vậy, nhà
văn đã đưa người đọc vào những ngách sâu trong tâm lý nhân vật, những giằng xé
giữa thù hận và thương yêu, giữa hiện thực và khát vọng,…
Kiểu kết cấu truyện này khiến cho câu chuyện vừa linh động vừa hấp dẫn.
Truyện ngắn không chỉ là những lát cắt mà đã phản ánh được những mảnh đời, những
số phận của nhiều nhân vật. Sức khái quát và quy mô phản ánh hiện thực của truyện
ngắn được mở rộng hơn. Đó cũng là khuynh hướng tự sự giàu tính hiện đại, nó phù
hợp với kiểu cốt truyện tâm lý - một đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư.
CHƢƠNG 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN NGỌC TƢ
3.1 Ngôn ngữ trần thuật
3.1.1 Giới thuyết về ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm tự sự
Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và
sáng tạo tác phẩm; nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người
đọc với tác phẩm. Vì vậy mà ngôn ngữ trở thành yếu tố không thể thiếu của văn học,
như sắc màu đối với hội họa, âm thanh đối với âm nhạc, hình khối đối với kiến trúc.
Chính M. Gorki đã khẳng định: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ
yếu của nó cùng với các sự kiện, các hiện tượng cuộc sống là chất liệu văn học”.
Ngôn ngữ của tác phẩm văn học cũng là ngôn ngữ của đời sống, ngôn ngữ của
toàn dân, nhưng đã được nâng lên đến trình độ nghệ thuật. Trong phương thức tự sự,
ngôn ngữ trần thuật không những đóng vai trò then chốt, mà còn thể hiện phong cách,
cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả. Ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, cá
thể hóa.
22
Do đổi mới tư duy nghệ thuật và cách tân về thi pháp nên hiện nay ngôn ngữ
trần thuật còn mang tính hiện đại. Ngôn ngữ trần thuật không còn là tiếng nói quyền
uy mà trở nên gần với ngôn ngữ đời sống hơn bao giờ hết; tính chất văn hóa vùng
miền trong ngôn ngữ trần thuật thể hiện ở chất giọng nhà văn, người trần thuật không
những kể chuyện mà còn chuyển tải những giá trị văn hóa nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ,
làm cho nội dung trần thuật phong phú, đặc trưng.
3.1.2 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ
3.1.2.1 Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ
Ngôn ngữ trong tất cả các truyện ngắn của chị từ ngôn ngữ dẫn truyện đến ngôn
ngữ nhân vật đều khá thuần chất Nam Bộ. Điều đó tạo nên một văn phong riêng, đặc
biệt ấn tượng với người đọc.
Theo kết quả nghiên cứu của nhà báo Huỳnh Công Tín thì Nguyễn Ngọc Tư đã
sử dụng từ ngữ, phương ngữ Nam Bộ rất nhiều trong các truyện ngắn của chị. Đó là
những phía tham gia giao tiếp); mỗi phát ngôn đều được kích thích bởi phát ngôn có
trước và là sự phản xạ lại phát ngôn ấy…” [6, 333].
Không gai góc, như Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê; không trần trụi, quyết liệt
như Y Ban,…lời đối thoại trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư mang tính chất độc thoại
đầy thấp thỏm, da diết. Đối thoại giữa các nhân vật trong truyện của chị nhiều khi
không đảm bảo yêu cầu của một cuộc thoại thông thường.
Dễ dàng nhận biết lời đối thoại của các nhân vật tách hẳn ra khỏi lời người kể
chuyện qua những dấu gạch đầu dòng. Có khi lời đối thoại của nhân vật trong truyện
nằm trong lời người dẫn truyện, không có dấu hiệu xuống dòng và gạch đầu dòng như
thông thường.
Lời nửa trực tiếp là “Lời trần thuật của tác giả và lời độc thoại của nhân vật
có khi hòa nhập với nhau, xuyên thấu nhau tạo thành lời nửa trực tiếp” (Bakhtin). Còn
trong Từ điển thuật ngữ văn học thì đó là “biện pháp diễn đạt lời văn khi lời của nhân
vật có bề ngoài thuộc về tác giả (về mặt chấm câu, ngữ pháp) nhưng về nội dung và
phong cách lại thuộc về nhân vật” [13,187].
Những lời nửa trực tiếp trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư vẫn là lời người
trần thuật nhưng đồng thời là tiếng lòng của nhân vật. Dòng tâm trạng nhân vật đan
xen trong lời người trần thuật. Đó là ngôn ngữ trong trẻo nhưng nhiều suy tư của Diệp
ở những đoạn độc thoại nội tâm được “thốt lên” bởi người trần thuật: “Đâu nè, đâu
phải muốn là làm, cũng phải suy nghĩ đắn đo dữ lắm. Coi lại, làm gì có chuyện con
người được sống hồn nhiên như nước chảy mây trôi? Phải chọn lựa và trả giá
chớ…”(Nước chảy mây trôi).
Chị đã vận dụng linh hoạt ngôn ngữ trần thuật, đặc biệt là việc sử dụng phương
ngữ, hình thức đối thoại và độc thoại nội tâm nhằm làm nổi bật thế giới tâm hồn của
24
người dân quê chị. Đồng thời, những lời nửa trực tiếp được sử dụng đậm đặc trong
truyện tạo cho ngôn ngữ trần thuật của chị trở nên giàu sức gợi hơn.
3.2 Giọng điệu trần thuật
3.2.1 Giới thuyết về giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự
25
mãi…” (Cánh đồng bất tận); “Chiều nay bìm bịp kêu, nắng chỉm lỉm theo” (Khói trời
lộng lẫy). Nhiều câu trong trẻo và buồn như một bản vọng cổ hoài lang “tự dưng nghe
buồn, nghe thất vọng quá trời đất” (Một mái nhà),…
Giọng điệu trữ tình – lo âu đầy thắc thỏm còn được thể hiện qua việc sử dụng
hàng loạt những câu hỏi tu từ. Đó là sự thổn thức trước cuộc đời đa đoan, sự vỡ nhẽ
trước cuộc sống,…và cũng là sự đồng cảm sâu sắc của nhà văn. Câu hỏi tu từ xuất
hiện khá đậm đặc trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, tạo nên nét đặc trưng
nghệ thuật trong sáng tác của chị. Đặc biệt khi những dấu chấm lửng, những câu hỏi ở
kết truyện vừa day dứt, trăn trở vừa khơi mở ra chân trời cảm xúc, suy tư nơi độc giả.
Có thể thấy, dấu chấm lửng và câu hỏi tu từ là phương tiện hiệu quả thể hiện
giọng điệu trữ tình nhưng đầy khắc khoải, lo âu trong các truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư. Giọng điệu này còn được thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh đặc trưng
như: “dòng sông”, “cánh đồng”, “gió”, “nỗi nhớ”, “giọt nước mắt”,…
Chính giọng điệu trữ tình – lo âu đầy khắc khoải đã tạo nên nét riêng cho những
truyện ngắn của chị. Những lời tha thiết, những dòng cảm xúc của nhà văn trước cuộc
đời bàng bạc trong từng trang văn, khiến người đọc truyện của chị xong rồi vẫn cứ suy
nghĩ, trăn trở khôn nguôi.
3.2.2.2 Giọng điệu dân dã, mộc mạc
Với tấm lòng của một người ăn cơm nông dân, tắm nước sông và nghĩ về nông
thôn với tất cả sự thuần hậu yêu thương, Nguyễn Ngọc Tư đã viết nên những câu
chuyện mang đậm chất giọng tâm tình của người dân quê, mộc mạc mà chứa chan
nghĩa tình. Điều ấy trước hết được thể hiện ở cách kể chuyện hay lời nói của các nhân
vật theo kiểu người dân quê.
Viết văn, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ khui mở những tâm tình của người dân
quê mình, chị còn đưa người đọc đến với thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt của Nam Bộ
bằng giọng kể dân dã, mộc mạc.
Với giọng điệu dân dã, mộc mạc, Nguyễn Ngọc Tư đã trần thuật một cách dễ
dàng với lời văn gần lời nói, ở đó, có sự mộc mạc, dung dị khi nói về cuộc sống vất vả
của người dân Nam Bộ. Sự thiếu thốn về vật chất, sự khắc nghiệt của thiên nhiên được