Những đặc điểm chủ yếu của phong cách thơ Chế Lan Viên - Pdf 25

class="bi x0 y0 w1 h1"
ĐẠI HỌC Q UốC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
N G Ô B Í C H T H Ư
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YÊU
CỦA PHONG CÁCH THƠ CHẾ l a n v iê n
LUẬN VẪN THẠC s ĩ KHOA HỌC NGỮVĂN
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 5.04.33
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
PCS. PTS. NGUYỄN BÁ THÀNH.
HÀ NỘI 1997
1
MỤC LỤC
TRANG
/ . PHẦN M Ở ĐẦU
I. 1. Lý do chọn đề tài

s
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

6
I. 3. Phương pháp nghiên cứu

10
I. 4. Đối tượng và ph ạm vi nghiên cứu
10
I. 5. Đó n g góp của luận án

11
ỉ. 6. B ố cục của luận án 11

IV.2. Thể thơ

:

66
IV.3. Kết cáu

69
V. CHƯƠNG BỐN: CÁI Ảo VÀ CẢI Tĩĩực.
v.l. Khái niệm cái ảo và cái thực 74
V.2. Cái ảo lẩn át cái thực trong "Điêu tàn"

75
V.3. Cái thực và cái ảo hài hòa, dao xen trong thơ sau Cách
m ạ n g
81
V.4. Cái ảo trỏ lại lẩn át cái thực một cách sâu rộng hơn trong
thơ giai đoạn cuổi đời 84
VI KỂTLVẬN. 87
VII. DANII MỤC TÀI LIỆU TRỈC IĨD ẪN .
90
A. Sách

;

90
B. Báo và tạp chí

93
4

Chế Lan viên với gương mặt rát con người, m à mỗi chúng ta đều có thê
tìm thấy mình trong đó.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài N hững đặc điểm
c h ủ yểu của p h o n g cách th ư C h ế Lan Viên với một hy vọng sẽ góp
được phần nào vào việc nghiên cứu một tác giả lớn của nền văn học
Việt N a m hiện đại.
II. L ỊC H S Ử N G H IÊ N CỨU VÂN Đ Ẻ
Thơ Chế Lan Viên là một hiện tượng văn học rẩt phức tạp, tập
trung nhiều ý kiến dánh giá không thống nhất, thậm chí trái ngược
nhau. Đ ã từng tồn tại hai khuynh hướng nghiên cứu khác nhau theo
quan điểm văn học M á c xít và quan điểm nghệ thuật tư sản trước đây ỏ
Miền N a m cùng về tác giả văn học này. Chủ yếu các ý kién xoay
quanh việc đánh giá thơ Chế Lan Viên ỏ hai giai đoạn sáng tác trưổc
và sau Cách mạng.
Điêu tàn ~ tập thơ đầu tay của Ché Lan Viên đã được Hoài
Thanh nhận định như "một niềm kinh dị''giữa làng thơ Việt N a m
đương thởi. Củng chung ý kiến này có rất nhiều nhà phê bình nghiên
cứu khác, trong đó có Nguyễn Vỹ.
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm tư sản cũng đã hết lòi ca ngdi
tập thơ nảy, nhung vói một dụng ý chính trị rõ ràng. H ọ đề cao Điêu
tàn để hạ bệ và chê thơ Chế Lan Viên sau cách m ạn g ỏ miền Bắc‘ kém
cỏi, xuyên tạc đưòng lói văn nghệ của Đảng.
6
iNguicu w u jLsiêu tàn đầy dll hơn là công trình C hế L an Viên
- thi s ĩ tiền chiến của Hoàng Diệp. Là bạn thơ của Ché Lan Viên thời
ỏ Bình Định (trưđc 1945), Hoàng Diệp có khách quan hơn trong đánh
giá, nhưng toàn cục m à xét tập phê bình này thiếu một phương pháp
luận cơ bản. Tác giả chủ yếu dựa vào ấn tượng chủ quan, đề cao yéu tó
địa lý, con người riêng để lý giải tác phẩm.
Cũng nghiên cứu về thơ Ché Lan Viên, các nhà phê bình theo

tác giả Mai Quốc Liên đã phát hiện ra điểm gặp gỡ , tương đồng của
thơ Chế Lan Viên và thơ Đường (Trung Quóc) đó chính là nghệ thuật
s_iLdụng_cáLđối_nghịcli: "Ché Lan Viên thu hút tinh hoa của nhiều nền
thơ vào thơ mình mà không làm mất bản sắc riêng, bản sắc dân tộc.
Nhưn g nổi bạt nhất, theo tôi, vẫn là việc anh tiếp thu được một bí quyết
lớn cửa thơ Đường, đó là nghệ thuật sử dụng cái đối nghịch Khi một
câu thơ được nói lên, được diễn tả trong thế dối nghịch, nó gây án
tượng sâu sắc Ché Lan Viên hay làm thơ theo dạng áy rất nhuần nhị:
Chửa về Tuyên Thái thăm tre trúc. H ãy đến sông Hổng ngẩm nứa
xuôi Hay Khi tơ ỏ chỉ là nơi đấí ỏ. Khi ta đi âẩt đã hỏa tâm hổn " (41,
tr ll)1
V ũ Quần Phương trong bài Nhớ anh Chê Lan Viên dã có những
nhận xét khá xác đảng: ”Ớ nửa cuối thế kỷ này, tôi nghĩ, Chế Lan Viên
là người có công đầu trong việc cách tân câu thơ Việt Nam. Mỗi bài là
một thủ pháp, một tìm tòi trong diễn đạt
Các thủ pháp thơ hình như anh đều tinh tưởng, thuần thục, từ
Đưòng Tổng đến siêu thực, tượng trưng C ó bài ý rất thoáng, chĩ gợi
một nét để rồi ngân nga mãi (Sổng cầu), lại có bài tình ý vây bọc,
tung hung như m ê hồn trận (Trận tuyến này trên cả các m à u da) "
(41, trang 7)
Bên cạnh những bài viết đã nêu trên, có một s ổ bài khác lại.chú
trọugJihiều đếiĩ íùĩh tư tư ỏng.^hấi n í tuệ của Jhơ^ ChểJLcm__Viên, kh ả
ũăagjư_duỵ_ẩJầm_kháLquál cùcuîhàJh a.T'rong số nhiều bài viết phải
kể dén các bài: Đối thoại mới vói C h ế L a n Viên ciìa Hoàng Lan, C hế
L a n Viên ơỉ! biết nói gỉ đây của Hoàng Trung Thông (Tọp ch í Văn
học số 4/ 1989), C hế La n Viên nhà tfi<f - con ngiíòi của An h Đức
(Báo Văn n ghệ số 26/1989)
1 ' Y ? r
X in xem danh m ục tài liệu trích dẫn d cuối hiận án.
unat iri m ẹ la an tượng sâu sắc nhất m à nhà thơ Hoàng Trung

chưa có một công trình thật sự khái quát, tổng hợp về toàn bộ phong
cách và sự nghiệp của nhà thơ lớn này.
9
Sau ichi ra dơi tnem ba tập D i cảo, sự nghiệp thơ Chế Lan Viên
dường như được bồi đắp thêm, được m ỏ rộng ra, mặc dù ông dã qua
đời.
Với tham vọng nghiên cứu thơ Ché Lan Viên một cách toàn diện
và hệ thống, chúng tôi chọn phong cách thơ để làm đề tài. Tuy nhiên
phong cách thơ thật sự làmột vấn đề lớn và rất khó, chúng tôi chỉ xin
đề cập dến trong luận án này nảy những đặc điểm chủ yéu nhát của
phong cách thơ Ché Lan Viên m ả thôi.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Trên cơ sỏ nhận thức luận biện chứng M á c xít, chúng tôi xác
định phương pháp nghiên cứu của luận án này như sau:
1. Sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình và những
nguyên tắc của phong cách học để nghiên cứu vấn đề. Bằng thống kê,
đối lập, xét tần số xuất hiện chúng tôi cố gắng phát hiện ra cái mới
của thơ Chế Lan Viên, những đổng góp riêng của thd ông trong mói
tương quan với các nhà thd cùng thời.
2. Phương pháp lịch sử: Phải nghiên cứu từng vấn đề trong quá
trình phát triển của nó, gắn với nhung thòi điểm lịch sử cụ thể. Từ đó
rút ra những nhận định chung nhất.
3. Phương pháp tổng hợp liên ngành: Ngoài hai phương pháp
tiếp cận chủ yếu nói trên, trong quá trình nghiên cứu, để làm phong
phú sáng tỏ vấn đề trên nhiều phương diện, chúng tôi vận dụng cả
những phương pháp nghiên cứu khác như: văn học sử, phê bình văn
học, ngôn ngữ học, phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp
IV. ĐÓI TƯỢNG VÀ PHẠM Vỉ NGHIÊN cứu .
1. M ụ c đích của đề tài là tìm hiểu phong cách thơ Chế Lan Viên
bỏi vậy trong luận án này chúng tôi sẽ khảo sát hầu nhu' toàn bộ các

CÁI TÔI ĐẦY CÁ TÍNH
Nghiên cứu phong cách thơ Chế Lan Viên, vẩn đề đầu tiên m à
chúng tôi đề cập đến là cái tôi đầy cá tính m à nhà thơ bộc lộ qua thơ.
Vì sao vậy? Phải chăng đây chính là một chiếc chìa khóa để m ỏ vào
một thế giới bí ẩn và cũng đầy thú vị m à ta gọi là phong cách của nhà
thơ. M ột nhà thơ chỉ thực sự tạo nên được phong cách riêng của mình
khi nhà thơ đó cổ được "tiếng nói ciỉa mình", v à "tiếng nói" ấy được
cất lên chính ỉà nhờ một cái tôi đầy cá tỉnh trong thơ. Tuôcghênhep đã
nói với chúng ta về điều này: "Cái quan trọng trong tài năng văn
học và tôi nghĩ rằng cũng có thể trong bất kỷ một tài năng nào, là cái
m à tôi muó n gọi là tiéng nói của mình. Đ ún g thể, cái quan trọng là
tiéng nói của mình, cái quan trọng là cái giọng riêng biệt của chính
mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bẩt ký một người nào
khác Đ ó chính là đặc điểm phân biệt chủ yểu của một tài năng sóng
độc đáo" (27a, Tr 90)
Quan niệm này không phải ngay từ đầu dã dược thừa nhận một
cách dễ dàng. Những ý kiến phủ nliận vai trò của cái tôi trong thơ xuát
hiện từ nhiều phía. O.Brik, một trong những đại biểu tích cực của
trường phái hìnli thức vả sau này trỏ thành người tuyên truyền hăng hái
cho thứ văn học của sự kiện khẳng định: "Tất cả những gì m à nhà thơ
viết ra đều có ý nghĩa vđi tư cách là một phần công việc của anh ta
trong sự nghiệp chung và hoàn toàn vô giá trị với tư cách là sự bộc lộ
cái "tôi" của anh ta". (27a, tr 87). Còn Haiđơgơ, một trong số những
12
nhà lý luận lớn nhất của chủ nghĩa hiện sinh thì viét: "Đối vđi tác
phẩm, người nghệ sĩ là một cái gì đó không quan trọng, thậm chí có thê
nói rằng người nghệ sĩ bằng cách tự hủy hoại mình trong sáng tác đã
giúp cho việc nâng cao tác p hẩm nghệ thuật." (27a, tr 95)
Ch o dù có mọi lởi tranh cãi đi chăng nữa, chúng ta - vổi một cái
nhìn biện chứng - không thể nào phủ nhận được sự hiện diện một cái

Nam, đã đưa được một chữ íôi trực tiếp vào thơ. Đây cũng là điểm
khác biệt nhất giữa các nhà thơ lẵng m ạ n 30 - 45 vổi các nhả thơ tiền
bổi. Đ ể nói lên chí làm trai của mình, Nguyễn Trãi - "người khổng lồ
của thế kỷ 15" - phải dùng đến hình tượng cây tùng, Nguyễn Bỉnh
Khiêm phải mư ợ n đến "cây thông", còn Nguyễn Du phải bằng hình
ảnh "Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên" mới nói được nỗi lòng đau đáu
của mình trước vận nước. Trong thơ trữ tình phong kiến cái tôi của nhà
thơ thường được biểu hiện một cách gián tiếp. Đôi khi cái tôi ẩy được
ẩn đưđi một chữ ta, như Nguyễn Trãi đã từng viét trong C ô n Sơn ca :
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiểu êm.
(3 1 , ừ 45)
Hay Nguyễn Bỉnh Khiê m trong Bạch vân quốc ngữ thi với những vần
thơ nghĩ suy về thế sự:
Tơ dại ta tìm nơi váng vẻ
Người khôn ngưởi đến chốn lao xao
(32 , tr 37)
Sự hiện diện của các nhà Thơ Mới củng vdi một chừ lôi trực tiếp
ữong thơ đã làm biển đổi hẳn giọng điệu của cả một nền thơ: "Thi
nhân ta cơ hồ đã mất hét cái cót cách hiên ngang ngày trước. Chữ ta
với họ rộng quá. T â m hồn họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi.
Đời chúng ta n ằm trong vòng chữ tôi. Mẩt bề rộng ta đi tìm b ề
sâu. Như ng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ ta
phiêu lưu trong trưòng tình cùng cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng vđi
Hà n M ặ c Tử, Chế Lan Viên, ta đ ắ m say cùng Xuân Diệu. Nh ưng động
tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đ ắ m vẫn bơ
vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trỏ về hồn ta cùng H u y Cận " (23 tr. 54)
14

Đắt trời nghiêng ngửa
Mà trước mẩt thành sâu chưa sụp đô
Đ ất trời nghiêng ngửa
Thành sầ u không sụp đổ, em ơi!
(Tho’say, 23, tr 353)
15
I - ẸỈ.2 Những điểm khác biệt
Trong D iêu tàn cá i íôi đã đưa ra mội quan niệm íhảm .mĩi hếí
ỵên_aon ngiíài đừng
Vĩ u buồn là những đóa hoa tươi
Và đau khổ là chiến công rực rd
(Đừng quên lãng, 1, tr 18^
Cải chắt trí tuệ, suy tư của một Ché Lan Viên sail này đã dược
bộc lộ ngay từ tập thơ đầu tiên qua cách quan niệrri như vậy. v à đó
cũng là cội nguồn chi phói mạch xúc cảm của toàn bộ tập thơ Điêu
tàn. Khi V ũ Hoàng Chương khuyên con ngưòi hãy hướng tới một cõi
trời Quên, để lãng quên đi tất cả, thì cái tôi trong Điêu tàn lại nói vđi
chúng ta một điều ngược lại: con người đừng bao giờ quên lãng, bỏi vì
nỗi buồn, niềm đau khổ ẩy lại chính là cái Đẹp. v à chúng ta - những
con người trần tục trên cõi dời này - làm sao có thể sống m à thiéu được
cải Đẹp. Nói khác những điều mọi người vẫn nói, phát hiện ra những
ph ẩm chát khác lạ của một vấn đề tưởng chừng quen thuộc là một đặc
điểm nổi bật của cái tói trong Điêu tàn.
CŨBgMáLvÀ.ỉìẫi b iíấ ì^cháĩi íiỉyệt vọng^ cổ đơỉr như_ahiều_nhà
tÈƠ-Ấãĩig-jmạn_cùng thời, nhưng đối tượng mà cái tôi. írnng Điêu tàn
hưángJáLJj3LhũảnAQàiiJíhácJLẩn. Khi H u y Cận nói với chúng ta nỗi
buồn nơi quán chật, đèo cao, nỗi buồn của sông đài trời rộng, nỗi buồn
của người lữ thứ dừng ngựa trên non, buồn đ ê m mưa, buồn nhớ bạn ,
Xuân Diệu buồn cái buồn vô cớ Hôm nay tròi nhẹ lên cao. Tôi buôn
không hiểu vì sao tồi buồn, Lưu Trọng Lư với những vần thơ sầu rụng

giòng máu thẩm và tiếng sông trôi lại tựa như tiêng huyết kêu rạo rực
N hư cô hồn rạo rực bãi tha ma
Khi ồ ạt như muôn năm không đứt
Ô ạt trôi nguồn máu chiến trường xa
(Sổng Linh, ], tr 51)
Quả thật tâm hồn và trí tưỏng tượng phong phd, kỳ lạ của nhà
thơ cũng giống như những cái tháp C h à m kia, thật lẻ loi và bí ẩn. Ta
không thể gặp được một nhà thơ vđi những câu thơ tương tự như vậy
trên văn đàn thơ ca lãng m ạ n Việt N a m 30 - 45.
Khi ỉục ú m y à o M n bề^Lâu. mọi ngóc ngách xúc cảm jcủa.m inh,
của cái tôi của mìỉĩh nhiều như C h ế Lan Viên. Ta là ai đây? Vì sao lại
có sự hiện diện của ta trong cõi đcM này, trong vũ trụ này? Phải làm sao
đây để sự hiện diện ấy trỏ thành bẩt tử? Khi Xuân Diệu vội vàng, giục
giã trong tình yêu: Mau với chứ, vội vàng lên vói chứ! Em, em ơi! tình
non sắp già rồi , hay Hàn M ặ c Tử đ ắm mình trong cái dau thể xác,
hưđng tđi Chúa nguyên cầu: Xin tha thứ những câu 1hơ tội ìẩi. c ủ a hàn
tay thi s ĩ kẻ lên írđng, có lẽ không có nhà thơ nào dừng lại một chút, tự
đặt cho mình những câu hỏi như vậy. Hay ít ra trong thơ của họ ta
không hề bắt gặp những câu hỏi tương tự như vậy. Ché Lan Viên thi
khác.
Ớ vào lúa tuổi bồng bột, đễ suy nghĩ nông nổi, Chế Lan Viên
không giống nhiều người khác, để mặc con người mình bị cuốn theo
những xúc cảm tự nảy sinh, m à trái lại Ngưỏi khao khát hiểu tháu đến
tận củng bản chất của vẩn đề. Người bị dẳn vặt, dày vỏ nghi ngờ về sự
tồn tại của chính bản thân mình. Những câu hỏi lớn được đặt ra mặc dủ
chua tìm được lời giải đáp:
Biết làm sao giữ mãi điỉỢc Tơ đây?
A i bảo giùm: Ta có có ta không?
(Ta, 1, ir20)
Ta đứng trước cỗi Ta khôn hiểu /hấu

được một Chể Lan Viên như h ô m nay?
Như ng vượt lên ừên mọi sự đổi thay đó, với Chế Lan Viên, Điêu
tàn vẫn là một cột m ố c đầu tiên, một đáu ấn đầu tiên trong cả cuộc đòi
và hành trình thơ ca của mình, để từ đó cho dù nhà thơ có tung hoành
ngang dọc bón phương trời, qua những khoảng không gian, thời gian
dài rộng, vẫn nhìn về đó để tìm lại cái tôi của chính mình. Là một nhà
thơ luôn nghiêm khắc trong sự tự nhìn nhận, đánh giá bản thãn, so với
nhiều đồng nghiệp cùng thế hệ, Ché Lan Viên là người có phẳn quyết
liệt hơn cả trong việc chói bỏ con người cũ của mình, cái tôi cũ của
mình. Nhìn lại quãng đời quá khứ, nhà thơ cảm nhận:
Tôi đi giữa lòng mình
M à mình không hiểu nữa
Tôi đi giữa siêu hỉnh
Tôi như con sông Thương
Chảy lòng mình thương nhớ
Đánh đấm cả thuyền mình
Trong cuộc đời tại ch ỗ
(Ngoảnh lại mưòì lăm năm, 2, tr 84 - 85J
,9
Thật tỉnh táo và quyết liệt trong sự tự đánh giá bản thân:
Ta làm con nai lạc giữa rừng thu
Làm h ổ sơ cơ giận vườn bách thảo
Làm bóng ma Hời sở soạĩĩg đêm mơ
Làm í ất cả chỉ trừ không d ỗ máu
(Nguưỉ thay đổi đ<YỈ tôi.Nguai thay đổi th(f tôi, 3, tr 65)
Nghĩ về cái tôi thuỏ Đ iêu tàn nhà thơ tự nhủ với lòng mình:
Chớ bao giờ quên nổi chua cay của một thời thơ ấy
T ổ quốc trong lòng ta mà có cũng như không
Nhân dân ỏ quanh mà ta chảng thấy
Thơ xuôi tay như nước chầy xuôi dòng

thì á m nóng ngay. Chỉ cần xoay ngược lại câu hỏi "Ta là ai" thành "Ta
vì ai", ta phục vụ cho ai dây , thì ta sẽ thấy rằng cây ra fộc, mùa lên
xanh, nhờ có bàn tay con ngưôi hành động.
K á isựch ư yJnb ìênm ạ nh_m ẽvề^ih ậ n í hức, cái lô i củaC hế^Lan
Viêngiâđứykhôngcòiĩ_dđmucM mJL(m^JỉìổÌgịdLcô^dóc^_hiwjì.daujjằư
ỉhài kị> trưóc cách mạng, jn à ỉuỏn có găng vượỊ khổi cái /ôi có đơn bé
nhỏ đeJĩẩa vào cái ta chuug của mọi ngườiL
Trong thung lũng đau thương vẫn íìm ra vũ khí
Phá cô đơn - "ta” hòa hợp vói "người".
(Khi đã có liưíhig rồi, 2, tr 33)
N h ư một người vừa được chữa khỏi bệnh, nhà thơ tự ghi lại nhật
ký của đỏi mình:
Ta lấn từng nồi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng
Lấn bệnh tật mà đi, máu đổ lấn da xanh
Bốn bức tường vôi chận ỉấv đời mình
Ta cũng lấn. Nụ tầm xuân ra ánh sảng.
(Nhật ký một nguVri cliữa bệnh, 2, tr 1\)
và những "ý nghĩ m ù a xuân" vừa đến :
Tôi đổi năm đau lấy những ngày lành l
N hư đuổi giậc lấy từng tấc đấí
Từìig tấc tự do trông vời mỏi mất
Đuôi mây dài, cướp những quãng trời xanh
(Ý nghĩ iuùa xuân, 2, tr 69j
Không còn cái buồn, cái chán ngày xu'a, cái tôi bây giờ tháy
cuộc đời đẹp hơn, vui hơn, và khát khao chia sẻ niềm vui ắy với mọi
người. N h ử e m cỏi hết thươtig đau đã giãi bày tâm sự ẩy của nhà thơ:
21
Hổn 1a trăng tròn
Câu thơ nức nổ
Tạnh dỏng đau khổ

Nên đòi còn thương
(Đi ra ngoại ổ, 2, tr 52)
22
mình:
Tôi đứng giữa nhành vui còn bõ ngd
N hư em Kiểu e lệ nép vào hoa
(2, tr 71)
Ché Lan Viên và hầu hét các nhà thơ lãng mạn cùng thé hệ, khi
đi theo Cách mạng đều đã phải trải qua một chăng đưòng "tự lột xác".
Cho nên cũng không có gì là khó hiểu khi ta đọc được những câu thơ
như vậy. Nhữ ng nhà thơ dó, những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuâu Diệu,
H uy Cận, Tể Hanh, Chế Lan Viên đều là những con ngưdi từ thể giới
một người đển thể giđi nhiều ngưòi, từ thung lũng đau thương ra đến
cánh đồng vui, những con người xưa kia "tự xé da thịt mình , nay đi vả
lại thịt da và xây dựng m ùa xuân". Chính Chế Lan Viên đã tâm sự về
chặng đường thử thách đầy khó khăn đó của riêng mình và những
ngưòi cùng thế hệ: "Chiíng tôi vào Cách mạng, là người Cách mạng
rồi, nhưng vẫn không ngớt làm phiền cho Cách mạng, cả nước đi
nhanh. Riêng tôi về chậm vì đã trót đi xa. Đi xa là đi những đâu? Đi
tuốt ra khỏi cuộc đời, về phía tha ma, về phía siêu hình Hình như một
tên ăn trộm dễ cải tạo hơn một người thần bí " (Mất nỗi đau riêng và
được cái vui chung, 18a, tr 27)
T ừ bỏ "cái gia tài đồ sộ của hàng triệu nỗi buồn" , đi theo Đảng,
Chế Lan Viên đã tìm dược ý nghĩa cuộc dời mình trong cuộc đời của
nhân dân, ý nghĩa của thơ mình trong tính m ục đích "vì ai" : "Nhờ có
Đảng, có nhân dân tôi đã thành một ngọn sóng, một vị mặn, một hạt
muổi của đời trong cái biển đời vô tận" (18a, tr 20). Nh un g đổi thay
mạ nh m ẽ đó của cái tôi Ché Lan Viên ngoài đời đã in dấu vào thơ, tạo
nên trong thơ một cái tôi trữ tình mới mẻ. Đ ó ỉà cái tôi chién sĩ.
Kh ông chỉ đau nỗi đau chung m à hàng triệu đồng bào phải chịu

Những vật vó tri cũng làm rưng nước mắí
Đ á sổi, cây cằn sao bổng thấy thiêng liêng
Giọng nói quen nghe, màu dût quen nhìn
Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết.
(Kết nạp Đả n g trên quê mẹ, 2, tr 80)
Cũng trong giây phút ấy, cái tôi đã nói lên một khát vọng phải
nói là khác lạ, nhưng cũng thật chân thành của riêng mình:
Cho lôi sinh ra buổi Đ ảng dựng xây đời
Mắt được thấy lỏng sông ra gặp b ể
Tôi với m ẻ thép gang đâu là đứa trẻ sinh đôi.
* r *
(TÔ quốc bao giờ đẹp thê này chăng, 3, tr 73^
24
Không ngl'i'ng tìm íòi, sáng tạo, cái lới của Chê ỉ,an Viên luôn tạo ra những
bấi ngà thú vị cho ngỉĩởi đọc. cái tôi ấy dã ítbĩg đem đến cho người dọc "niềm
kinh dị” thuỏ Điêu tàn, niềm kinh ngạc xen lẫn hân hoan, hào hứng bài những
chuyển biển mạnh mẽ thài sau Cách mạng, còn đến cuôi dời, san từtig ây năm
tháng trăn trỏ và suy tư, cái lỗi ấy sẽ nói vái người dọc điểu gỉ đây ? Có thể nói,
trong thơ Chể Lan Viên , cái tôi của nhà thơ khổng ngừng vận động và phát triển.
Cái tôi ẩy không chỉ sông vói hiện tại, hướng vê tương lai, mà CÒỈ1 luân ngoảnh về
quá khứ, định giá lại các giá íiị, Và đó cũng là một trong những đậc điểm nôi bật
của cái tôi giai đoạn cuối đời.
J-ệ3. CẢI TÔI TRONG D I CẢO
Nếu như trong tập thơ dầu tay, cái tôi của Chế Lan Viên khóc
than cho một dân tộc đã bị tuyệt diệt trong quá khứ - dân tộc C h à m ,
thì đén tập thơ cuổi đòi D i cảo, cải tôi ẩy lại hòa tháp Ă n g kor khóc
mình lúc sắp bưóc vào "xứ không màu".
Có thể nói con đường thđ ciìa Chế Lan Viên đi từ tháp C h à m
dến tháp Bay on và trên hành trình thơ ấy Chế Lan Viên đã để lại cho
đời một khói lượng tác ph ẩm đồ sộ và có nhiều giá trị, ma ng những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status