Sự tiếp thu và kế thừa kinh nghiệm tiểu thuyết trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ NGA

SỰ TIẾP THU VÀ KẾ THỪA KINH NGHIỆM TIỂU THUYẾT
TRONG SÁNG TÁC CỦA HỒ BIỂU CHÁNH LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số : 60 22 32 Người hướng dẫn khoa học : PGS. TS. Phạm Thành Hưng

Hà Nội-2012 4
MỤC LỤC

3.2. Kết cấu 81
3.3. Thời gian trần thuật 86
3.4. Cốt truyện 86
3.5. Ngôn ngữ 92
KẾT LUẬN 100

5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hồ Biếu Chánh- người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Không phải ngẫu nhiên và cũng không có gì là quá lời khi người ta phong cho ông
chức danh đó. Thời gian cứ chảy trôi theo quy luật tất yếu của nó, có những thứ sẽ
bị năm tháng vùi lấp hoặc làm cho mờ nhạt. Thế nhưng, có thể khẳng định, trải qua
gần một thế kỷ, cho đến nay tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn là một món ăn tinh
thần hấp dẫn đối với độc giả miền Nam nói riêng và độc giả cả nước nói chung
trong khi nhiều tác phẩm của các nhà văn nổi tiếng cùng thời với ông hầu như đã bị
đẩy lùi vào quá khứ. Bên cạnh giá trị văn hoá, trong lĩnh vực nghiên cứu văn học,
sáng tác của Hồ Biểu Chánh thực sự là một hiện tượng văn học sử lý thú, chứa đựng
nhiều vấn đề hấp dẫn về phương diện lý thuyết thể loại và giao lưu văn hoá Đông-
Tây.
Với số lượng tác phẩm khá đồ sộ, ông chính là một trong những tiểu thuyết
gia nổi tiếng hàng đầu ở miền Nam mà tác phẩm từng được phổ biến rộng rãi trên
mọi miền của tổ quốc. Đến với những tác phẩm của Hồ Biểu Chánh là hòa mình
vào cuộc sống của nhân dân Nam Bộ hồi đầu thế kỷ XX, sống lại không khí một
thời của vùng đất này với những con người chất phác, trung thực, đôn hậu. Đọc văn
của Hồ Biểu Chánh, ta có cảm giác như “đang được nghe ông già bà cả ở thôn quê
kể lại những điều hằng xảy ra trong cuộc đời thực tế Truyện của ông là những
bức tranh truyền thần khá chính xác về xã hội Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử
đã qua” (Nguyễn Văn Y). Vì thế, có lẽ chỉ khi nào quá khứ chẳng còn liên quan
đến hiện tại, con người hôm nay không cần nhìn lại quá khứ dân tộc, tiểu thuyết của

học sử yếu (1944) của Dương Quảng Hàm Nhưng việc đánh giá vị trí của tiểu
thuyết văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ trong các công trình này mới dừng lại ở mức độ
rất khiêm tốn: một vài gương mặt tiểu thuyết gia được điểm qua như Phú Đức,

7
Nguyễn Thời Xuyên, Tân Dân Tử, Hồ Biểu Chánh cùng một hai tác phẩm của họ
được nói đến rất sơ sài. Hầu hết các tác giả đều coi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách
và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật là hai tiểu thuyết mở màn cho nền văn
xuôi hiện đại Việt Nam. Nói tóm lại, trong những năm từ 1945 trở về trước thì tiểu
thuyết văn xuôi Nam Bộ chưa trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà văn viết
văn học sử.
Trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (1962) của Đại học sư phạm Hà
Nội, Nguyễn Đình Chú đã dành một chương để giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của
Hồ Biểu Chánh. Và đặc biệt, trong sự so sánh giữa hai tác giả để tìm ra gương mặt
tiêu biểu cho tiểu thuyết văn xuôi thời kỳ này, tác giả Nguyễn Đình Chú đã cho
rằng: “ cho nên nói đến tiểu thuyết lúc này, Hồ Biểu Chánh vẫn là người đáng chú
ý hơn hết” [4,131] Sau đó ba năm, ở Sài Gòn, Phạm Thế Ngũ cho ra đời tập sách
Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965). Trong tâp 3, phần văn học Việt Nam
hiện đại (1862-1945) tác giả đã dành hẳn một chương để nói về sự hình thành của
tiểu thuyết mới, trong đó khẳng định “ở một phương diện nào, thể tiểu thuyết đã đi
trước ở miền Nam.” [19,377]. Như vậy, vị trí mở đầu cho nền tiểu thuyết đã được
Phạm Thế Ngũ trả cho các nhà văn Nam Bộ nhưng thời gian mới chỉ dừng lại ở
năm 1910. Và cũng như rất nhiều nhà nghiên cứu trước và sau này, tác giả cũng đặc
biệt quan tâm đến Hồ Biểu Chánh như một trong những nhà văn đi tiên phong của
cả nước: “ và ngay trước năm 1925, khi văn gia miền Bắc còn đương dè dặt tập
tành, ông đã cho ra đời những tác phẩm tuy không đạt đến trình độ cao về nghệ
thuật mới song đã có tất cả dáng dấp của một tiểu thuyết mới.” [19,378]. Đặc biệt,
tác giả đã phác thảo lại quá trình hình thành của tiểu thuyết trong giai đoạn này như
là hệ quả sự phát triển của truyện Nôm, sự nở rộ của báo chí và phong trào dịch
thuật. Đến 1974, trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Phan Cự Đệ- một nhà nghiên

trình đầu tiên coi văn học Nam bộ hồi đầu thế kỷ XX là đối tượng nghiên cứu
chuyên sâu một cách khá trọn vẹn. Đi theo hướng nghiên cứu thể loại, các tác giả
này cũng cho rằng Truyện thầy Lazaro Phiền là cuốn tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ
đầu tiên, có tính tiên phong cả về nội dung và nghệ thuật. Tuy vậy, nhưng các tác
giả này đã lựa chọn Kim thời dị sử- Biến Ngũ Nhy, Nghĩa hiệp kỳ duyên - Nguyễn

9
Chánh Sắt, và đặc biệt là 13 tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là những tác phẩm tiêu
biểu nhất trong thời kỳ này. Đặc biệt, trong thể văn xuôi, các tác giả của công trình
này đã lưỡng phân ra hai tiểu loại nhỏ là “tiểu thuyết” và “truyện chí”. Nếu “tiểu
thuyết” là những tác phẩm viết theo lối Tây phương và còn được biết đến với các
danh xưng khác như “truyện”, “kim thời dị sử”, “kim thời tiểu thuyết” thì “truyện
chí là những tác phẩm viết theo lối thiểu thuyết chương hồi trong văn học cổ điển
Trung Quốc và Việt Nam”. Và Phan Yên ngoại sử- Trương Duy Toản cùng với
Giọt máu chung tình – Tân Dân Tử được coi là hai truyện chí xuất sắc nhất của văn
xuôi đương thời. Đến Tiến trình văn nghệ miền Nam (1900), Nguyễn Quang Thắng
đã cho thấy tiến trình phát triển của văn học vùng Nam Bộ từ các tác gia văn học
trung đại đến các tác giả của văn học giai đoạn giao thời bước sang hiện đại như
Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh. Riêng về thể loại tiểu thuyết, tác giả khẳng
định “những tiểu thuyết có mặt trên sinh hoạt văn học nghệ thuật ở miền Nam từ
năm 1856- 1887 đến năm 1954 không phải là văn học địa phương. Thật sự đây là
một bộ phận của văn nghệ dân tộc được hình thành trong một thời điểm có nhiều
biến cố trọng đại của lịch sử cận đại Việt Nam” [14, 288]. Và do đó các tác phẩm
Truyện thầy Lazarô Phiền- Nguyễn Trọng Quản, Phan Yên ngoại sử- Trương Duy
Toản….đều là những tác phẩm mở đầu của lịch sử tiểu thuyết Việt Nam” [13, 290].
Cũng trong thập niên 90 của thế kỷ XX, Bằng Giang xuất bản công trình Văn học
quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930 (1992) đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề của đời sống văn
học Nam bộ. Đặc biệt, công trình đã cho thấy diễn tiến của một “đời sống văn học”
nhiều biến động: từ chính sách giáo dục của Pháp ở Nam Kỳ, qua sự phát triển của
báo chí Quốc ngữ đến phong trào dịch thuật truyện Tàu. Bằng Giang đã tiếp tục

vẫn chưa được đề cập hoặc đề cập chưa thật sự thoả đáng.
Phác thảo lịch sử nghiên cứu văn xuôi tự sự ở Nam Bộ trong giai đoạn giao
thời, người viết muốn đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về tình hình nghiên cứu giai
đoạn văn học này nói chung, trong đó không ít các công trình có tên Hồ Biểu
Chánh. Từ đó, xác định được địa vị của Hồ Biểu Chánh đối với văn xuôi tự sự quốc
ngữ ở miền Nam nói riêng và đối với tiến trình hiện đại hoá thể loại tiểu thuyết của
nền văn học Việt Nam nói chung.

11
2.2. Nghiên cứu về tiểu thuyết của tác giả Hồ Biểu Chánh
Nằm trong tình hình nghiên cứu chung của tiểu thuyết miền Nam hồi đầu thế
kỷ XX, việc nghiên cứu về tác gia Hồ Biểu Chánh nói chung và văn xuôi tự sự của
Hồ Biểu Chánh nói riêng trước đây chưa được quan tâm thoả đáng. Tuy nhiên, gần
đây càng có nhiều công trình nghiên cứu về tác gia văn học được coi là một trong
những người để lại dấu ấn đậm nét nhất trong quá trình hiện đại hoá văn học Việt
Nam này.
Thiếu Sơn trong Phê bình và Cảo luận đã có ý phân chia tiểu thuyết giai
đoạn này thành các loại như: lịch sử tiểu thuyết, bí mật tiểu thuyết, phong tục tiểu
thuyết….Trong đó, có hai tác giả tiểu thuyết được ông xếp vào mục “Phê bình nhân
vật” là Nguyễn Khắc Hiếu và Hồ Biểu Chánh. Viết Ba mươi năm văn học với mục
đích trình bày “bản thống kê văn học quốc ngữ từ 1914 đến 1941”, tác giả Mọc
Khuê đã kể ra những tên tuổi tiêu biểu cho giai đoạn văn học này với nghĩa viết
nhiều, viết khỏe là hai nhà văn đều thuộc khu vực phía Nam: Phú Đức và Hồ Biểu
Chánh.
Trong cuốn Nhà văn hiện đại (xuất bản lần đầu năm 1942) Vũ Ngọc Phan đã
có môt sự so sánh thú vị giữa tiểu thuyết của họ Hoàng (Hoàng Ngọc Phách, quyển
Tố tâm) và tiểu thuyết của họ Hồ (Hồ Biểu Chánh). Theo ông, nếu như tiểu thuyết
của họ Hoàng chuyên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ uỷ mị, cầu kỳ, không tự
nhiên thì tiểu thuyết của họ Hồ chuyên về tả việc, lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều
chỗ như lời nói thường. Theo ông, những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh mang tính

còn người thị dân hiếu kỳ muốn biết qua hình ảnh đời sống nông thôn”. Theo ông,
trong văn học sử hiện đại có hai người đáng tiếc, một là học giả Trần Trọng Kim
(1883-1953), một là tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh (1885-1958). Cả hai người đều
rời địa hạt văn học để lạc bước vào con đường chính trị, cả hai đều rước lấy thất bại
ít nhiều chua cay.
Cũng vào năm 1974, Nguyễn Khuê cho ra mắt Chân dung Hồ Biểu Chánh-
cuốn sách có tính chất chuyên khảo đầu tiên về nhà tiểu thuyết được nhiều người
cho là lớn nhất của giai đoạn văn học này. Khảo sát kỹ lưỡng thân thế và sự nghiệp
báo chí, văn chương của Hồ Biểu Chánh dựa trên những tư liệu quý như: Lời di

13
chúc, Đời của tôi về văn nghệ, cuốn sách thực sự trở thành một tài liệu tham khảo
có giá trị lớn cho giới nghiên cứu. Để có được những nhận định khái quát về tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh ở cả nội dung lẫn hình thức biểu hiện, Nguyễn Khuê đã lần
lượt giới thiệu và phân tích 14 tác phẩm, trong đó có 11 tác phẩm được sáng tác
trước 1930 (cả U tình lục). Về địa vị của Hồ Biểu Chánh trong văn học sử nước
nhà, tác giả khẳng định rằng: “Hồ Biểu-chánh là một trong những tiểu-thuyết gia
tiền-phong của Nam-kỳ nói riêng và của Việt Nam nói chung” [12, 307].
Đi sâu hơn vào việc nghiên cứu Hồ Biểu Chánh ở góc độ là một tiểu thuyết
gia, trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1978) Phan Cự Đệ đã quan tâm đến nội
dung tư tưởng trong những sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Trong đó, ông chỉ rõ có ba
khuynh hướng của tiểu thuyết trước 1930 là: khuynh hướng lãng mạn tiêu cực,
khuynh hướng yêu nước và khuynh hướng hiện thực phê phán mà tiêu biểu là
những sáng tác của Hồ Biểu Chánh.
Trong Từ điển văn học - Tập I, (1983) Nguyễn Huệ Chi cũng đã khẳng định
vai trò của Hồ Biểu Chánh. Bước vào văn đàn giữa lúc truyện ngắn, truyện dài bằng
Tiếng Việt hết sức vắng vẻ, nhưng bằng năng khiếu sáng tác nhạy cảm, Hồ Biểu
Chánh đã sớm dành được địa vị đáng kể trong số những cây bút tiểu thuyết ít ỏi ở
miền Nam thuở bấy giờ.
Cũng nằm trong hướng khẳng định tầm quan trọng của tiểu thuyết gia Hồ

Đến đây, có thể khẳng định, tên tuổi Hồ Biểu Chánh xuất hiện trong nhiều
công trình nghiẻn cứu của nhiều tác giả. Không chỉ có vậy, đã có một hội thảo khoa
học về nhà văn Hồ Biểu Chánh được tổ chức lần đầu tiên tại Tiền Giang vào hai
ngày 17 và 18-11-1988. Trong đó, các ý kiến đã đi đến thống nhất, chính do chú ý
mô tả những biểu hiện bề ngoài nhiều hơn những chuyển biến bên trong tâm hồn
nhân vật mà nhân vật của tác giả còn là người Nam bộ và rõ là người Nam bộ. Tiếp
thu có chọn lọc những tinh hoa của văn học phương Tây, Hồ Biểu Chánh đã góp
phần khai sáng nền văn học hiện đại và cách tân thể loại tiểu thuyết. Đáng chú ý là
ý kiến của giáo sư Trần Văn Giàu: Sách Hồ Biểu Chánh được nhân dân tán thưởng
và hay là ở chỗ nói lại những tiếng nói của dân, cái tấm lòng của dân, còn hay ở
chỗ đạo đức, luân lý.

15
Trong chiều hướng chung là quan tâm nghiên cứu thoả đáng đến một cây bút
vốn được coi là người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, nhóm tác giả
Trang Quang Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở đã sưu tầm tài liệu về Hồ Biểu
Chánh, nhất là các quyển tiểu thuyết của ông đã được xuất bản và cho phổ biến trên
mạng Internet với địa chỉ trang web là www.hobieuchanh.com. Đây là một công
trình thực sự có ý nghĩa trong việc cung cấp thêm cho bạn đọc một địa chỉ văn học
lành mạnh, chuyên sâu- nhất là với độc giả Việt Nam ở hải ngoại.
Đến đây, có thể khẳng định, hầu như không có công trình nghiên cứu về tiểu
thuyết Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX lại không nhắc đến Hồ Biểu Chánh. Ông
là một trong những cây bút tiểu thuyết thể hiện rõ nhất tính chất giao thời của văn
học giai đoạn kể trên. Ở những tác phẩm của ông, có sự xuất hiện của màu sắc
phương Tây bên cạnh sắc màu truyền thống. Có một số công trình nghiên cứu của
các tác giả, nhất là các tác giả giai đoạn gần đây đã chỉ ra hiện tượng này trong cái
nhìn so sánh. Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào nhìn nhận vấn
đề này một cách thấu đáo, toàn diện, có hệ thống.
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu
Từ việc khảo sát một số tiểu thuyết tiêu biểu của Hồ Biểu Chánh trong số

17
CHƯƠNG 1: HỒ BIỂU CHÁNH TRONG DÒNG VĂN CHƯƠNG QUỐC
NGỮ NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1. Bối cảnh xã hội và văn học Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỷ XX.
1.1.1. Đời sống xã hội - lịch sử Nam Bộ đầu thế kỷ XX
Nam Bộ là vùng đất mới của tổ quốc, ra đời do kết quả của một cuộc khẩn
hoang quy mô lớn chính thức vào khoảng thế kỷ XVI, mà nhân vật chính là Nguyễn
Hoàng- trấn thủ Thuận Hoá kiêm lãnh xứ Quảng Nam. Từ khi nhà Nguyễn ở Đàng
Trong được lập nên cho đến khi “cả một miền bao la từ rừng rậm Đồng Nai kéo dài
đến bờ biển Cà Mau, từ Hà Tiên qua rừng núi Thất Sơn (Châu Đốc) vào đầu thế kỷ
XVIII đều hoàn toàn thống thuộc đất nước Đại Việt” [16, 21]. Đến năm 1862, để
thuận lợi cho công cuộc cai trị, thực dân Pháp đã chia nước ta làm ba kỳ: Bắc,
Trung, Nam- ba đơn vị hành chính tương đối độc lập, tương đương với hai “tiểu
quốc gia” láng giềng Lào và Campuchia. Và kết quả là Nam kỳ trở thành xứ thuộc
địa, Bắc Kỳ và Trung kỳ là xứ “bảo hộ” nhưng thực chất là những thuộc địa trá hình
bởi triều đình nhà Nguyễn và bộ máy quan lại chỉ tồn tại với thân phận bù nhìn,
dưới quyền điều khiển của chính quyền thực dân. Để duy trì tình hình chính trị ấy,
toàn quyền Paul Doumer còn thi hành hàng loạt chính sách về tổ chức quân lực,
cảnh sát, toà án, nhà tù…Những chính sách về văn hoá, giáo dục của thực dân trong
giai đoạn này đều hướng tới đồng hoá dân tộc Việt Nam, duy trì vĩnh viễn ách
thống trị của Pháp ở Việt Nam, trong đó, trước hết là miền Nam Việt Nam.

vùng đất phát triển mạnh mẽ của cả nước theo hướng hiện đại hoá nhưng trước đó,
từ thế kỷ XVIII, ở Nam Bộ đã xuất hiện những đô thị phong kiến lớn- những trung
tâm thương mại, buôn bán sầm uất và giao thương với nước ngoài như: thương cảng
Sài Gòn, thương cảng Hà Tiên, phố chợ Mỹ Tho và các chợ Bến Nghé, Đồng Nai,
Bà Rịa, Phố Thành…Từ khi Pháp xâm lược và du nhập một nền sản xuất mới theo
lối tư bản chủ nghĩa, bộ mặt của các đô thị miền Nam đã thay đổi hẳn về chất. Cuộc
sống của đô thị tư bản ở một nước thuộc địa làm nảy sinh nhiều nhu cầu mới, nhiều
ngành nghề mới. Kiểu sinh hoạt và nhu cầu của cư dân thành thị cũng khác hẳn so

19
với cuộc sống của con người trong môi trường cung đình, làng xã trước đây. Đời
sống vật chất của người thành thị nhìn chung khá giả hơn. Những công chức, công
nhân, thầy giáo, học trò làm việc theo giờ, ngoài giờ làm việc có thời gian nghỉ
ngơi. Tầng lớp tiểu thương và tiểu chủ, những người làm các nghề tự do khác cũng
có nhiều thời gian rảnh rỗi. Giải trí trở thành một nhu cầu khá phổ biến. Nhưng
những phương tiện giải trí cho người dân lại quá ít ỏi. Một vài rạp hát, rạp chiếu
bóng được xây dựng ở những nơi trung tâm thành phố vào đầu thế kỷ chủ yếu dành
cho người Pháp ở thuộc địa hoặc những người An Nam có tiền. Do vậy, phần lớn
thị dân giải trí bằng việc đọc sách báo. Người ta thích tìm đến những câu chuyện có
tình huống, có kịch tính, gần gũi với đời sống họ đang sống. Chính nhu cầu ấy trong
đời sống của thị dân đã kích thích tiểu thuyết ra đời và phát triển.
Trong các đô thị miền Nam, còn phải kể đến một số lượng lớn người Hoa
sinh sống. Đó là kết quả của quá trình di dân trong chiến tranh. Mặt khác, trong
chính sách thương mại của thực dân Pháp, tư bản Hoa kiều được sử dụng để mua
hàng hoá của thực dân Pháp bán lại cho người Việt. Về mặt xã hội, lực lượng người
Hoa đông đảo đó có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của cộng đồng người Việt
trong các đô thị. Chính họ đã làm cho nhu cầu dịch truyện Trung Quốc tăng mạnh.
Không chỉ vậy, nhưng đặc điểm riêng về con người và tiếng nói người Hoa đã để lại
dấu ấn rõ nét trong các tiểu thuyết giai đoạn này.
Đô thị cũng là nơi tiếp xúc đầu tiên với văn hoá phương Tây mà trước hết là

quốc ngữ La-tinh lại đồng dạng với chữ Pháp, do vậy dễ đưa người dân An Nam
hướng theo văn hoá Pháp, xoá bỏ truyền thống văn hoá của dân tộc. Để chữ quốc
ngữ được phổ biến rộng rãi ở Nam Kỳ, thực dân Pháp đã đưa ra rất nhiều nghị định,
mở các trường dạy chữ quốc ngữ với nhiều chính sách ưu đãi cho giáo viên, học
sinh; chính sách khuyến khích đội ngũ giúp việc đọc chữ quốc ngữ…Việc phổ biến
chữ quốc ngữ gắn liền với việc tuyên truyền tư tưởng mới, với một nền văn hoá
mới. So với chữ Hán và chữ Nôm, chữ quốc ngữ dễ đọc hơn, dễ viết hơn. Bởi vậy,
việc dùng chữ quốc ngữ trong đời sống văn hoá tinh thần đã thực sự tạo nên một
cuộc cách mạng- nền văn hoá dân chủ đang dần thay thế nền văn hoá bác học. Việc

21
sử dụng chữ quốc ngữ trong sáng tác văn học mà trước hết là sáng tác tiểu thuyết
đã tạo điều kiện để tiểu thuyết đến với đông đảo quần chúng hơn. Như vậy, từ
những năm cuối thế kỷ XIX, chữ quốc ngữ dưới sự bảo trợ của thực dân Pháp, đã
có điều kiện phát triển nhanh hơn trước, mặc dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của
các sĩ phu nho học. Đến đầu thế kỷ XX, nhờ sự kích thích của phong trào Đông
Kinh Nghĩa Thục (1908) cổ xuý cho sự phát triển rộng rãi của chữ quốc ngữ mà
nhiều người dân Nam Bộ đã thấy đựơc tiện ích của thứ chữ này. Chữ quốc ngữ
nhanh chóng phát triển, trở thành thứ chữ của báo chí, văn học đáp ứng yêu cầu của
một bộ phận công chúng mới- công chúng thị dân ở Nam Bộ.
Dưới chính sách cai trị của thực dân Pháp, một nền giáo dục mới dần được
hình thành ở miền Nam Việt Nam. Giáo dục phong kiến dần dần bị đẩy lùi và xoá
bỏ, thay vào đó là nền giáo dục mới- giáo dục Pháp- Việt đang dần trở nên ổn định.
So với nền giáo dục phong kiến nền giáo dục mới có nhiều tiến bộ đáng kể: chương
trình, nội dung học tập phong phú, toàn diện, thời gian đào tạo nhanh hơn….Đội
ngũ tri thức, sản phẩm của nền giáo dục mới không chỉ đáp ứng mục tiêu học hành
để thi cử làm quan mà còn hướng đến rất nhiều các ngành nghề khác. Một lớp trí
thức “tân học” đã xuất hiện ở đầu thế kỷ XX. Họ là con đẻ của nền giáo dục mới,
những kiến thức mà họ tiếp thu được sẽ chuẩn bị hoặc gợi ý cho họ những ứng xử
mới với thời cuộc.

Hoàng Sang, Nguyễn An Khương, Nguyễn Công Kiều…và tiểu thuyết phương Tây
với những cái tên như Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Trần Thái Nguyên…
Sự ra đời với số lượng lớn các tiểu thuyết dịch trong giai đoạn sơ khởi này có ý
nghĩa lớn với đời sống thể loại cả về phía người đọc và người sáng tác. Trong khi
người đọc dần chuyển hướng tiếp cận một thể loại đáp ứng được nhu cầu của họ cả
về mặt hình thức và nội dung thì người sáng tác có cơ hội để học tập những kinh
nghiệm làm tiểu thuyết ở hai nền văn học lớn của thế giới là Trung Quốc và Pháp.
Ảnh hưởng của phong trào này đến sự phát triển của thể loại tiểu thuyết văn xuôi
quốc ngữ ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là không thể phủ
nhận, và sẽ tiếp tục được đề cập tới trong những phần sau của luận văn.

23
Ngành in, ngành xuất bản cùng với những hoạt động mang tính chất thương
mại sách báo phát triển cũng là yếu tố có liên quan mật thiết đến sự ra đời và phát
triển của tiểu thuyết quốc ngữ. Ngoài việc được đăng nhiều kỳ trên các bài báo, rất
nhiều tiểu thuyết ra đời dưới dạng in thành sách. Do vậy, vai trò của các nhà in, nhà
xuất bản cũng rất quan trọng. Đô thị ngày càng phát triển, lực lượng công chúng
đông kéo theo nhu cầu thưởng thức văn học, nhất là tiểu thuyết ngày càng lớn. Nhà
văn kiếm sống bằng nghề viết văn, nhà xuất bản làm giàu bằng nghề in ấn.
Nam Kỳ chính là đất khởi phát của tiểu thuyết, là nơi tiểu thuyết phát
triển nhanh chóng trong ba thập niên đầu của thế kỷ XX. Ở Nam Kỳ, những yếu tố
như: đô thị hiện đại, sự phổ biến và phát triển rộng rãi của nền chữ quốc ngữ, báo
chí, dịch thuật, ngành in, hoạt động thương mại sách báo…xuất hiện sớm nhất trong
cả nước. Những yếu tố này có sự cộng hưởng qua lại với nhau chính là tiền đề cho
sự ra đời và phát triển của tiểu thuyết, của nền văn học hiện đại. Khi đi vào phân
tích các tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ của tác giả Hồ Biểu Chánh- một đại diện
xuất sắc của văn xuôi tự sự Nam Bộ lúc bấy giờ chúng ta sẽ thấy được những biểu
hiện bước đầu của quá trình hiện đại hoá một nền văn học trong một bối cảnh mới,
đồng thời, cả những biểu hiện của cái cũ vẫn chưa mất hẳn, thể hiện tính giao thời
của văn học ở giai đoạn này.

phức tạp- sự “hợp chủng” của ba tộc người Việt, Hoa, Khơ-me, cùng với điều kiện
địa lý nhiều ưu đãi và cả không gian riêng biệt- xa trung tâm đã làm nên một vùng
đất đặc biệt, đã tạo ra một “cá tính miền Nam” (chữ dùng của nhà văn Sơn Nam).
Con người ở vùng đất này rất cởi mở, phóng khoáng, cương trực, trung hậu, nhiều
sáng kiến, thành tâm và không thành kiến. Bên cạnh đó, người miền Nam có một
cái lợi lớn là tiếp nhận một nền giáo dục không khắt khe như Đàng Ngoài. Chính
những điều này đã làm cho người miền Nam dễ dàng “tiếp thu và kế thừa những
nguồn sinh hoạt văn hoá khác nhau. Do đó, tinh thần văn nghệ của họ rất cởi mở, đa
dạng về nhiều mặt.”[13, 26]. Cùng với những điều kiện đặc thù về kinh tế-chính trị
thì đặc điểm này lí giải vì sao văn học Nam Bộ lại đi đầu trong công cuộc hiện đại
hoá của văn học nước nhà.

25
Truyền thống văn học Nam Bộ, cho đến cuối thế kỷ XIX, tuy chưa có bề dày
đáng tự hào như văn học Bắc Bộ ở vào thời điểm đó nhưng cũng đã có những thành
tựu đáng ghi nhận và bước đầu thể hiện một diện mạo riêng đáng chú ý. Hai bộ
phận văn học viết và văn học dân gian cùng tồn tại song hành, thâm nhập và ảnh
hưởng lẫn nhau; trong đó văn học dân gian phát triển khá mạnh đặc biệt là các loại
hình dân ca hò, vè, các hình thức kể chuyện. Đặc biệt, người bình dân ở Nam Bộ
thường sống với truyện thơ thông qua hình thức “nói thơ”, “kể chuyện”. Văn học
viết ở Nam Bộ, cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược thì hiện tượng đáng chú
ý nhất là các sáng tác của nhóm Chiêu Anh Các và Gia Định tam gia thi xã vào
khoảng cuối thế kỷ XVIII. Đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, văn học yêu nước
Nam Bộ nở rộ với các nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi
Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt…Truyền thống văn chương kể trên, trước hết, cung
cấp chất liệu hiện thực cho tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ giai đoạn sau
này. Sau nữa, theo Tôn Thất Dụng, những đặc điểm như: truyền thống sáng tác
bằng chữ Nôm, ảnh hưởng của nghệ thuật sân khấu (đặc biệt là tuồng), nguyên lí
thẩm mĩ “vì đời”- phù hợp với thị hiếu thẩm mĩ và tâm lí thưởng ngoạn của đa số
công chúng sẽ còn tiếp thu và phát triển trong các sáng tác văn xuôi quốc ngữ ở giai

cho văn học vùng và khả năng tiếp cận đến bản chất thể loại của các tác phẩm đó.
Trong khuôn khổ của một luận văn, người viết xin đưa ra một số tổng kết về các
thời kỳ phát triển, một số đặc trưng cơ bản, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn
xuôi tự sự ở miền Nam giai đoạn này. Văn xuôi tự sự quốc ngữ ở miền Nam đã ra
đời trước văn xuôi quốc ngữ ở miền Bắc có đến ba thập kỉ nếu tính từ điểm mốc là
sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết Thầy Lazaro Phiền (1887), còn nếu tính từ tác
phẩm kí Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) thì khoảng cách này là ngót nghét
nửa thế kỷ. Đây là điều đã được đông đảo giới nghiên cứu văn học Việt Nam cận
đại thừa nhận trong những năm gần đây. Dựa trên tiêu chí đã nói ở trên, chúng tôi
mạnh dạn chia quá trình hình thành, vận động và phát triển của văn xuôi tự sự quốc
ngữ ở Nam Bộ trong bước khởi đầu làm các chặng sau:

Trích đoạn Vai trò của Hồ Biểu Chánh trong nền tiểuthuyết Việt Nam hiện đại Thời gian trần thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status