ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
LÊ THỊ BÍCH HỢP
TƯ DUY THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU
QUA CÁC TẬP THƠ TỪ 1990 ĐẾN 2000 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34 Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Bá Thành
2.1 Khái niệm về biểu tượng trong tư duy thơ 46
2.2. Những biểu tượng đặc sắc trong thơ Nguyễn Quang Thiều 50
2.2.1. Biểu tượng cặp đôi 50
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
2
2.2.1.1. Cỏ và trăng 50
2.2.1.2. Cánh đồng và dòng sông 61
2.2.1.3. Bóng tối và lửa (cặp biểu tượng bao trùm) 70
2.2.2. Một số biểu tượng khác 85
2.2.2.1. “Trẻ em” - biểu tượng về sự sống, sự trong sáng 85
2.2.2.2. “Cái cây”- biểu trưng cho sự sống, sự kì vĩ 89
Chƣơng 3
NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 98
3.1. Ngôn ngữ tự nhiên 98
3.1.1. Tính tự nhiên 98
3.1.2. Tính tự do 100
3.2. Xu hướng siêu thực 109
3.2.1. Hiện thực và siêu thực 109
3.2.2. Một vài biểu hiện có tính siêu thực trong thơ
Nguyễn Quang Thiều 114
3.3. Thơ văn xuôi 123
3.3.1. Thống kê thể loại thơ Nguyễn Quang Thiều 123
3.3.2. Liên kết ý chiếm vai trò chủ đạo trong thơ
Nguyễn Quang Thiều 124
PHẦN KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
thi ca một đời sống tinh thần mới lạ.
Thơ Nguyễn Quang Thiều đem đến những phản ứng khác nhau từ phía
độc giả. Tuy nhiên đề cao quá mức hay phủ định hoàn toàn đều là những
nhìn nhận phiến diện. Nghiên cứu một hiện tượng văn học gây ra nhiều tranh
cãi là một thử thách đối với người viết luận văn.
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
4
1.3.Thơ Nguyễn Quang Thiều tiêu biểu cho sự đổi mới về tư duy, cảm xúc,
ngôn ngữ. Do đó, tiếp cận thơ Nguyễn Quang Thiều từ góc độ tư duy, chúng
tôi hy vọng sẽ có một cách nhìn tương đối hệ thống về hiện tượng này. Đồng
thời, qua đề tài này, chúng tôi cũng muốn đóng góp những ý kiến riêng về thơ
Nguyễn Quang Thiều.
2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là những tập thơ đã xuất bản
của Nguyễn Quang Thiều từ năm 1990 đến 2000, ngoài ra, chúng tôi còn
khảo sát một số bài thơ được sáng tác sau năm 2000 chưa xuất bản của tác
giả. Nguồn tài liệu này chúng tôi được tác giả cung cấp.
Thơ Nguyễn Quang Thiều cũng nằm trong tiến trình đổi mới thơ Việt
Nam hiện đại sau năm 1975 nên chúng tôi cũng tiến hành tham khảo thơ của
một số tác giả có xu hướng cách tân như: Chế Lan Viên, Hoàng Cầm, Phùng
Khắc Bắc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Bình Phương, Hoàng Hưng, Nguyễn
Quyến, Vi Thuỳ Linh,… và một số tập thơ được giải thưởng Hội Nhà văn để
so sánh với thơ Nguyễn Quang Thiều, từ đó có cái nhìn chung về sự vận động
của thơ đương đại. Phạm vi nghiên cứu là một số vấn đề về tư duy nghệ thuật
qua các tập thơ của Nguyễn Quang Thiều. Đó là cái tôi phức cảm và chiều sâu
tâm thức hiện đại, là những biểu tượng đặc sắc trong thơ Nguyễn Quang
Thiều. Chúng tôi cũng tìm hiểu một số vấn đề ngôn ngữ thể loại…
năm sau đó, là hiện tượng hiếm có trong sáng tác và cả trong nhìn nhận của
dư luận. Qua Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu châu
thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), chúng ta thấy biên độ
thẩm mỹ thơ của anh được mở rộng tối đa. Không ít người cho Thiều ảnh
hưởng thơ Mỹ hay Mỹ Latinh, cụ thể là J. Brodsky. Có sao đâu! Đây là giọng
thơ lần đầu có mặt tại Việt Nam, và nó được tiếp nhận đầy sáng tạo. Nó tác
động mạnh tới những cây bút thế hệ mới phía Bắc đến nỗi có thể vạch một
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
6
ranh giới giữa nhóm làm thơ theo Thiều với nhóm làm thơ khác Thiều” [Trần
Vũ Khang, 60].
Bên cạnh đó là những ý kiến rất cực đoan, Trần Mạnh Hảo phê phán
quyết liệt, xem thơ Nguyễn Quang Thiều là “non kém về mặt nghệ thuật” [39,
82], thơ “tây giả cầy”, “thơ dịch xổi”… Trần Đăng Khoa một mặt thừa nhận:
“Nguyễn Quang Thiều đã phá bỏ lối đi quen, mở ra con đường mới chưa hề
có” [59, 171], mặt khác lại chê thơ Nguyễn Quang Thiều Tây quá “đặc sản
của thơ Thiều là cái giọng lơ lớ tây” [59,173].
Tóm lại, xung quanh giải thưởng Hội Nhà văn và các tập thơ của
Nguyễn Quang Thiều đã có một bài viết đề cập đến vấn đề tư duy thơ. Sự đổi
mới trong cảm xúc và những biểu tượng ám ảnh trong thơ anh. Tuy nhiên
trong số các bài viết này, các tác giả chưa đi vào phân tích cụ thể, chưa có
một công trình nào có cái nhìn bao quát về thơ Nguyễn Quang Thiều. Về tư
duy duy nghệ thuật thì chưa có bài nào đề cập đến một cách hệ thống. Bài
của Đông La có cái tên rất trùng hợp “Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều”
nhưng Đông La không đi từ góc độ triết học và cá tính sáng tạo mà chỉ là một
sự cảm nhận chung nhất… Song các bài viết này đã phần nào gợi mở ý tưởng
cho đề tài luận văn của chúng tôi.
Đến nay, thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn còn ngổn ngang những lời khen
chê. Chúng tôi hy vọng rằng, công trình khoa học này sẽ có những kiến giải
Phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Cái tôi phức cảm và chiều sâu tâm thức hiện đại
Chương 2: Những biểu tượng nghệ thuật đặc sắc trong thơ
Nguyễn Quang Thiều
Chương 3: Ngôn ngữ thơ Nguyễn Quang Thiều.
Cuối cùng là tài liệu tham khảo với 136 mục từ. Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
8
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CÁI TÔI PHỨC CẢM VÀ CHIỀU SÂU TÂM THỨC HIỆN ĐẠI.
1.1. Nguyễn Quang Thiều - ngƣời chủ động đổi mới tƣ duy thơ
Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 3 tháng 2 năm 1957 tại làng Chùa ven bờ
sông Đáy, thuộc địa phận tỉnh Hà Tây, nay là Hà Nội. Ngôi làng âm u chứa
đầy những câu chuyện thần tiên, ma quỷ… biểu hiện một đời sống tinh thần
phong phú, bí ẩn và mơ hồ đã ám ảnh tâm trí “cậu bé làng Chùa”. Dòng sông
Đáy hiền hoà và thơ mộng là nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tác, là điểm
tựa tinh thần để thi sĩ tìm về sau bao bươn trải gian nan.
Nguyễn Quang Thiều đã xuất bản 6 tập thơ, 5 tập tiểu thuyết và truyện
ngắn, gần 10 cuốn sách dịch và sách viết cho thiếu nhi. 6 tập thơ của Nguyễn
Quang Thiều gồm: “Ngôi nhà mười bảy tuổi” (1990); “Sự mất ngủ của lửa”
Tôi của triền sông hai mươi tám tuổi
Những dấu chân trên phù sa rong ruổi
Của hoa ngô cuối vụ khô giòn
Của hoa cải rưng rưng lòng không cầm được
Của bồn chồn mùa tu hú kêu mau…
Tôi của triền sông những năm tháng đi xa
Cỏ mật thơm một tâm tình bối rối…
Những người lính mấy khi về đúng hẹn
Để con sông thao thức đôi bờ
…
Tôi một hạt của phù sa muôn thủa
Đất bãi gọi về cho đất bãi ngàn xưa.
(Trở về bờ bãi)
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
10
Nếu tiếp tục đi theo con đường “Ngôi nhà mười bảy tuổi” có lẽ Nguyễn
Quang Thiều sẽ có một vị trí yên ổn trên thi đàn. Nhưng anh đã dũng cảm
bước “lạc nhịp” ra khỏi “dàn đồng ca”, mạo hiểm tìm một lối đi mới. Khi
“Ngôi nhà mười bảy tuổi” lọt vào vòng cuối cùng với 4 tác phẩm thơ ứng cử
giải thưởng của Hội Nhà văn năm 1991, Nguyễn Quang Thiều đã nhận ra, đó
chưa phải là hướng đi của anh: “Tôi không muốn tập thơ đó được giải vì tôi
biết những gì đích thực của tôi đang xuất hiện”.
“Sự mất ngủ của lửa” ra đời năm 1992 được giải thưởng Hội Nhà văn
năm 1993 - là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Quang
Thiều, đánh dấu bước ngoặt đổi mới trong tư duy thơ.
Sóng gió đã nổi lên trên diễn đàn ngày từ khi tập thơ được trao giải,
được công nhận là một hướng đi mới. “Sự mất ngủ của lửa” đã gây “sốc” cho
nhiều người. Người nhạy cảm với cái mới đã nhìn thấy triển vọng của một
chiều nắng trong mưa…” mà thay vào đó một thế giới rộng lớn, bụi bặm, hỗn
tạp và trần trụi hơn, là “Tiếng chó khuya sủa chớp phía chân trời; như dao
sắc phất vào tôi tứa máu/ Tôi nấc lên câu hỏi như người sặc khói…”
Thể thơ lục bát biến mất hoàn toàn, thay vào đó là những câu thơ tự do,
thơ văn xuôi trúc trắc hơn với tất cả hình trạng của đời sống: tiếng chó sủa
chớp, chùm chân dán, đàn kiến, nọc độc rắn, mùi cá khô, chuồng gà, cô gái
buôn, những người đàn bà goá bụa,… ám ảnh và gai gợn hơn.
Khi Phạm Xuân Nguyên gọi “thơ Thiều là tiếng hú gào” thì ngay lập
tức người ta liên tưởng đến tác phẩm Howl (Hú) của Ginsberg - chủ soái
trường phái nổi loạn Beat. Và nhiều người cho rằng, Nguyễn Quang Thiều
ảnh hưởng trường phái thơ Beat của Mỹ.
Nguyễn Quang Thiều dịch khá nhiều thơ hiện đại Mỹ, song nguồn ảnh
hưởng thực sự đến nhãn quan đổi mới thơ của anh là: bản dịch nghĩa của thơ
Đường, thơ J.Brodsky và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phương Tây.
Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến J.Brodsky. Nhà thơ Nga được
giải Nobel văn chương năm 1987. Ông là người có ảnh hưởng rộng rãi đến
các nhà thơ trên thế giới. J.Brodsky từng phát biểu ông luôn cảm thấy tuyệt
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
12
vọng như sống trong địa ngục khi không sáng tác. Vì vậy, để lấp đầy khoảng
trống tinh thần mà hình ảnh đời sống luôn chảy vào thơ ông ào ạt, mãnh liệt,
lớp lớp chồng lên nhau.
Nguyễn Quang Thiều luôn coi nhà thơ Nga vĩ đại này là người thầy
tinh thần của mình. Ở Việt Nam, Nguyễn Quang Thiều là người chịu ảnh
hưởng J.Brodsky sâu đậm nhất.
Dịch giả Hoàng Ngọc Biên đã dịch thơ Josheph Brodsky “Tĩnh vật và
những bài thơ khác” xuất bản tại Huế năm 1991. Ông tâm sự rằng, mỗi khi
dịch thơ J.Brodsky ông lại nghĩ đến thơ Nguyễn Quang Thiều.
Từ “Ngôi nhà mười bảy tuổi” đến “Bài ca những con chim đêm” là một
con người, của cá tính con người, có quan hệ tích cực đối với thế giới và với
chính bản thân mình. Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của
mình và có khả năng tái hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình.
Cái tôi có thể xem là cấu trúc phần tự giác.
Tóm lại, nhìn từ góc độ triết học, khái niệm cái tôi vừa mang tính xã hội,
lịch sử vừa phân biệt sự độc đáo và khẳng định tính tích cực của nhân cách.
Sáng tác thơ ca là một nhu cầu tự thể hiện, là sự thôi thúc bên trong tâm
hồn con người có khi mãnh liệt, dồn dập do tác động của đời sống gây nên.
Lê Quý Đôn cho rằng “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”, Ngô Thì Nhậm
thì nhận xét “Mây gió, cỏ hoa xinh tươi kỳ diệu đến đâu cũng đều từ trong
lòng mà ra … hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”.
Trong thơ, vấn đề chủ thể, cái tôi trữ tình có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng. Vị trí của cái tôi trữ tình trong thơ, mối liên hệ giữa khách thể và chủ
thể luôn đặt ra trong thơ.
“Thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình.
Trong đó, cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhận vật trữ tình trước các
hiện tượng đời sống được thực hiện một cách gián tiếp. Tính chất cá thể hoá
của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hoá của sự thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu
của thơ trữ tình. Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng biểu hiện phức
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
14
tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới chính kiến, những tư
tưởng triết học” [38, 31].
Trong tác phẩm Mỹ học của G.V. Hêghen, khi đề cập đến nội dung của
thơ trữ tình, tác giả cho rằng: “Nguồn gốc và điểm tựa của nó là ở chủ thể, và
chủ thể là người duy nhất, độc nhất mang nội dung. Chính vì vậy cho nên cá
nhân phải có được một bản tính thi sĩ, phải có một trí tưởng tượng phong phú,
phải có một cảm xúc dồi dào và có thể lĩnh hội được những ý niệm sâu sắc và
đồ sộ” [Theo 30, 295].
người nhà thơ trong cuộc đời thực (ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ, hành động,
nghề nghiệp, những mối quan hệ gia đình và xã hội…). Còn cái tôi trữ tình
chỉ là sự hiện diện bộ mặt tinh thần của nhà thơ trong tác phẩm thơ ca. Cái tôi
nhà thơ được nghệ thuật hoá theo quy luật sáng tạo nghệ thuật, cái tôi trữ tình
trình bày với những sắc thái thẩm mỹ phong phú hơn, nhưng chủ yếu vẫn là
hình bóng, là sự vang vọng của tâm hồn và cuộc đời nhà thơ.
Cái tôi có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để bộc
lộ tất cả những suy nghĩ, tình cảm bằng một giọng điệu riêng, nhờ vậy làm
nên cái tôi độc đáo không lẫn giữa nhà thơ của tác giả này với nhà thơ của tác
giả khác. Dù ở dạng nào, ở tư thế khẳng định trực tiếp (tôi, ta, chúng tôi,
chúng ta,…) hay cách ẩn mình (vô nhân xưng) thì người đọc bao giờ cũng
nhận ra cái tôi đang đối thoại hay độc thoại với cuộc đời, vẫn mang dấu ấn
của chủ thể sáng tạo.
1.3. Nội dung cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Thơ Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt là sau năm 1986, có một sự
chuyển động rất phong phú. “Cái tôi” như bừng tỉnh, “cái tôi” ý thức về mình,
về những vấn đề phong phú của cuộc đời. Con người trở nên phức tạp và
được soi sáng trên nhiều bình diện.
Sau năm 1975, bên cạnh những gương mặt thơ xuất hiện từ trước cách
mạng, trải qua hai cuộc kháng chiến như: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận,
Tế Hanh, những nhà thơ của thế hệ chống Pháp và chống Mỹ, trưởng thành
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
16
trong lửa đạn chiến tranh như Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Bằng Việt,
Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh,
Nguyễn Duy, Ý Nhi, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Thanh Thảo,…
Sau đó là một loạt cây bút mới thuộc thế hệ đầu tiên của thời bình: Nguyễn
Nhật Ánh, Lê Thị Kim, Bùi Chí Vinh, Trương Nam Hương, Phùng Khắc
phong tìm kiếm một tiếng nói riêng. Trong bài “Song thoại với cái mới của
thơ hôm nay”, Trần Vũ Khang cho rằng: “Nguyễn Quang Thiều phải được
xem như cái đỉnh bất ngờ nhô lên giữa ngọn đồi… đây là giọng thơ lần đầu có
mặt tại Việt Nam, và nó được tiếp nhận đầy sáng tạo. Nó tác động mạnh tới
những cây bút thế hệ mới phía Bắc đến nỗi có thể vạch ra ranh giới nhóm làm
thơ theo Thiều và nhóm làm thơ khác Thiều”[60].
1.3.1. Cái tôi khát vọng tìm kiếm
Hành trình thơ Nguyễn Quang Thiều là một sự nỗ lực xác lập cái tôi.
Giã từ “Ngôi nhà mười bảy tuổi” của những hồi ức, kỷ niệm êm ả, ngọt ngào
đậm màu cổ tích, cái tôi ký ức của nhà thơ đã thâm nhập và hoá thân vào đời
sống thực tại. Với "Sự mất ngủ của lửa", biên độ cảm xúc của Nguyễn Quang
Thiều đã được mở rộng. Thế giới không được tái tạo bằng ký ức nữa mà được
chiêm ngưỡng, khám phá chính trạng thái hiện tại của nó. Nếu “Ngôi nhà mười
bảy tuổi” là những cảm xúc mơ mộng được diễn tả bằng một bút pháp truyền
thống thì "Sự mất ngủ của lửa" là những suy tưởng mạnh mẽ, trần trụi, hừng
hực sức sống của đời sống hiện đại. Điều này đã tạo nên sự thay đổi đột ngột
trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều.
Bứt phá khỏi sự êm mượt truyền thống, Nguyễn Quang Thiều đã làm
“ngầu” lên phù sa thơ mình bằng cách nhìn mới, “lạ hoá” những đối tượng
vốn quen thuộc trong đời sống bằng những suy tưởng mới, những liên tưởng
bất ngờ tạo nên ấn tượng mạnh đập vào trực giác của người đọc.
Cái tôi trữ tình trong "Sự mất ngủ của lửa" đã thâm nhập, hoá thân vào
thực tại, nhưng cái tôi ấy nhận ra đời sống hiện đại, đời sống vật chất quá
nhiều sự xô bồ, hỗn tạp đã bóp méo những giá trị tinh thần, những vẻ đẹp tâm
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
18
hồn của con người. Vì vậy, cái tôi ấy khao khát trở lại giá trị nguyên sơ của
tâm hồn, nỗ lực tạo ra một hiện thực mới và nuôi dưỡng hiện thực đó bằng giá
trình của anh ta trở nên một gánh nặng, một sự đày đoạ đáng nguyền rủa.
Cuộc sống thực tại với những nỗi nhọc nhằn đã làm con người mất đi
sự nhạy cảm với cái đẹp. Thực chất, cái đẹp không xa lạ, không bí ẩn với
chúng ta mà do chúng ta không biết cảm nhận nó, phải làm cho nó “biểu lộ”.
Đó là một triết lý chìm ẩn mà thi sĩ muốn gửi đến người đọc.
Bài thơ “Chuyển động” cũng thể hiện quan niệm của nhà thơ về cái
đẹp. Cái đẹp được khám phá từ một khoảnh khắc kì diệu của đời sống. Bầy ốc
sên trong cách nhìn của thi sĩ hiện lên đẹp đẽ và kì vĩ. Sự chuyển động của
bầy ốc sên “trong đêm trăng chói gắt như nắng trời mùa hạ” hiện ra như một
đêm “vũ hội”:
Như thành phố vùi trong lòng đất tự xa xưa giờ thức dậy. Bầy ốc sên bò qua
vườn trong ánh trăng chói gắt như nắng trời mùa hạ. Những chóp vỏ chói
sáng như hạt kim cương đính trên vương miện nữ hoàng đêm dạ hội. Những
tấm thân mềm và ướt lướt đi trong êm ái rợn người. Đôi râu ăng ten phóng
lên bắt những âm thanh xa lạ. Ngôn ngữ bí ẩn nào đang hạnh phúc hay đau
khổ gọi bầy sên.
…
Bầy ốc sên đã giấu mình trong những gốc chuối, những bụi gai. Giờ thức dậy
dưới ánh trăng và ra đi lặng lẽ. Khu vườn này là quê hương chúng, hay là
khu vườn bên, hay còn… xa nữa. Chúng đang rời bỏ quê hương mình hay đi
tìm lại quê hương. Dù thế nào tôi vẫn muốn hát lên một bài ca. Bởi sự ra đi
của chúng đẹp làm sao, như một cơn mơ, như một đêm vũ hội.
Trong thơ Nguyễn Quang Thiều, mọi sự vật đều có linh hồn, đều được
nhìn theo chiều hướng chuyển động. Đời sống vốn thô nháp, xấu xí, những
mảnh vườn đầy lá rụng, những gốc chuối bị bỏ quên bỗng vươn mình đứng
dậy. Sự ra đi của bầy ốc sên trong cách nhìn của nhà thơ hiện lên một vẻ đẹp
kì vĩ. Chúng ra đi để tìm kiếm một cuộc sống hoàn hảo hơn. Bầy ốc sên trở
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
20
21
sống. Đó cũng chính là sự bay lên của tâm hồn con người, của những đứa trẻ
có trái tim nhân ái và tâm hồn trong sáng.
Trong tuyển tập thơ dịch “Năm nhà thơ Hàn Quốc”, Nguyễn Quang
Thiều cũng gặp một ý tưởng sâu sắc. Các nhà thơ Hàn Quốc đã nhìn thấy
nguy cơ huỷ diệt tâm hồn con người từ đời sống vật chất hiện đại. Con người
hiện đại chỉ biết lao vào tìm kiếm nhu cầu vật chất cho mình. Và họ từ bỏ
“những ý nghĩ bay lên”. Vì vậy, thân thể của họ mọc ra những chiếc vảy
giống như những chiếc vảy của loài bò sát:
Đã từ lâu chúng ta từ bỏ ý nghĩ bay lên
Và cái đầu chúng ta trở nên trơ mòn, teo nhỏ
Trong khi những cái vảy mọc khắp thân thể chúng ta
Máu chúng ta mỗi ngày thêm nguội lạnh
Cứ thế tối tối chúng ta về nhà
Giống như loài bò sát
Trở về đầm lầy của chúng ta
Có thể nói khát vọng kiếm tìm trong thơ Nguyễn Quang Thiều là
“những ý nghĩ bay lên” để cứu dỗi sự nghèo nàn tâm hồn.
Năm 1993, khi tập thơ "Sự mất ngủ của lửa" nhận được giải thưởng
Hội Nhà văn, Nguyễn Quang Thiều cũng đã nói về chức năng của thơ khi trả
lời phỏng vấn trên báo Văn nghệ: “Giai đoạn nào thì thơ, theo tôi cũng chỉ có
một chức năng đó là việc đánh thức (dẫu chỉ mơ hồ) những điều kì diệu trong
tâm hồn con người đã bị thời gian hay cái xấu, cái ác che phủ. Và rồi từng
bước hoàn thiện con người. Quá trình hoàn thiện này có thể kéo dài một vài
thế kỷ hay cả triệu năm. Tôi chắc chắn khi người đọc cảm nhận được một bài
thơ dù ở mức độ nào thì sự cảm nhận đó luôn gián tiếp hay trực tiếp đưa họ
về thế gới của cái đẹp. Những trạng thái tình cảm ở người đọc như nỗi buồn,
sự đau đớn, ân hận hay niềm khao khát… đều là những hành động bên trong
con người đang từng giây tham gia vào việc hoàn thiện tâm hồn họ”.
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp
Tư duy thơ Nguyễn Quang Thiều qua các tập thơ từ 1990 đến 2000
23
tố, có khi là đối cực. Những tiếng hú, tiếng gào, khóc,… trong thơ anh là
những cung bậc khác nhau của một cái tôi muốn nói lên những trạng thái
xúc cảm mãnh liệt nhất. Đó là một thông điệp tinh thần muốn sẻ chia với tất
cả mọi người:
- Tôi quỳ xuống vốc cát ấp vào mặt
Tôi khóc
Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng
(Sông Đáy)
- Tôi khóc ngang triền bãi trong cơn mưa hoàng hôn ngạt thở
Tôi khóc những bà già đang rửa chân trước những ngôi nhà ẩm ướt
ven đê
(Tôi khóc những cánh đồng rau khúc)
Thực tại mạnh mẽ, trần trụi trong "Sự mất ngủ của lửa" nhanh chóng bị đổ
vỡ, biến dạng, rạn nứt trong “Những người đàn bà gánh nước sông”. Cái tôi
bị dồn nén, áp đảo bởi muôn ngàn giá trị vật chất thực dụng khác. Những triết
luận, suy tưởng về đời sống được thể hiện trong “Bài ca những con chim đêm”.
Cái tôi ấy lại khao khát tìm lại giá trị nguyên sơ của tâm hồn con người, giật
mình nhận ra một nỗi cô đơn, tuyệt vọng và khao khát tìm gặp tri âm:
Con đường
Con đường
Con đường
Dắt ta về hồ nước cũ
Phăng phắc một lá sen già
Đợi ta trên miền nước lặng
Hỡi người hái hoa kiếp trước
Kiếp này có hoá bình không
đối thoại với chính mình: