thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**********
PHÍ CÔNG MINH THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC
CƠ SỞ Ở HÀ NỘI VỀ QUYỀN VÀ BỔN PHẬN
CỦA TRẺ EM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 5.01.09

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Hào Quang
Hà nội, tháng 4/2003

Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC


PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chƣơng I. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

I. Một số khái niệm công cụ
25
1. Khái niệm nhận thức
25
2. Khái niệm trẻ em
25
3. Khái niệm quyền trẻ em
27
4. Khái niệm bổn phận trẻ em
28
5. Mối quan hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em trong
pháp luật Việt Nam
29
II. Những quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về quyền và bổn phận
của trẻ em
34
1. Những quan điểm của Đảng CSVN về công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em
34
2. Những chính sách của Nhà nƣớc về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

6
quyền và bổn phận của trẻ em
35

1. Những nguyên nhân có tác động tích cực đến việc nâng cao nhận thức
cho học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em
94
2. Những nguyên nhân làm hạn chế đến việc nâng cao nhận thức cho
học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em
97
3. Dự báo tình hình nhận thức về quyền và bổn phận của trẻ em học sinh
các trƣờng THCS
99
IV. Vai trò của các cấp uỷ Đảng và chính quyền trong hoạt động
nâng cao nhận thức về quyền và bổn phận cho học sinh trong các
trƣờng THCS ở Hà Nội
99
1. Vai trò của cấp uỷ Đảng và chính quyền cơ sở, nhất là của Chi bộ và
Ban Giám hiệu trƣờng THCS
99
2. Vai trò của chính lãnh đạo xã phƣờng nơi có trƣờng THCS và ngƣời
nuôi dƣỡng các em học sinh

100
3. Vai trò của chính trẻ em về quyền và bổn phận của trẻ em
101
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

7
4. Vai trò của hình thức, biện pháp tuyên truyền giáo dục về quyền và
bổn phận của trẻ em từ phía xã hội

101
PHẦN THỨ 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
BV, CS & GD
4
Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng CSVN
5
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

9
LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ năm 1989 là năm Liên hợp quốc cho ra đời Công ƣớc Quốc tế về
quyền trẻ em, đến nay đã có 192 quốc gia ký phê chuẩn Công ƣớc và 150
nƣớc có chƣơng trình hành động quốc gia vì trẻ em. Việt Nam tự hào là nƣớc
thứ hai trên thế giới và là nƣớc đầu tiên ở Đông Nam Á ký phê chuẩn Công
ƣớc và đến năm 1991 Nhà nƣớc Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ, Chăm
sóc và Giáo dục trẻ em. Vấn đề trẻ em vì thế đã trở thành một trong những
lĩnh vực xã hội đƣợc ƣu tiên hàng đầu. Cũng chính từ đó đã diễn ra nhiều cuộc
Hội thảo, nhiều nghiên cứu khoa học quốc gia và quốc tế tập trung vào vấn đề
trẻ em. Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần mƣời lăm năm Công ƣớc quốc tế về
quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em đi vào cuộc sống, thực tế vẫn cho
thấy rằng việc nhận thức của các nhóm xã hội nói chung, đặc biệt là chính
nhóm trẻ em về quyền và bổn phận của mình, để bảo vệ và làm theo vẫn đang
là một vấn đề lớn cần đƣợc quan tâm. Bởi vì, trong thực tế, những vi phạm về
quyền và bổn phận của trẻ em đang ngày càng có xu hƣớng gia tăng. Điều đó
chứng tỏ rằng, ở đối tƣợng này, việc nhận thức về quyền và bổn phận của
mình đang còn nhiều hạn chế.
Do đó đề tài đƣợc lựa chọn bởi Luận văn xã hội học này tập trung vào

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chỉ trong khoảng thời gian gần mƣời lăm năm tính từ năm 1989 là năm
cho ra đời Công ƣớc quốc tế về Quyền trẻ em, (sau đây gọi tắt là Công ƣớc)
đến tháng 5 năm 2002 LHQ đã tổ chức đƣợc hai Hội nghị Thƣợng đỉnh thế
giới về Quyền trẻ em (năm 1990 tại Oslo - NaUy và năm 2002 tại NewYork -
Mỹ). Theo báo cáo của Tổng thƣ ký LHQ - Ông Cofi Annal - đến nay đã có
192 quốc gia ký phê chuẩn Công ƣớc và có 150 nƣớc có chƣơng trình hành
động quốc gia vì trẻ em, đƣa vấn đề quyền trẻ em trở thành lĩnh vực ƣu tiên
trong chƣơng trình nghị sự quốc gia và là một trong những lĩnh vực xã hội
đƣợc ƣu tiên hàng đầu.
Vấn đề trẻ em cũng luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nƣớc
và nhân dân ta. Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em chính là tạo dựng cho đất
nƣớc và dân tộc một tƣơng lai tốt đẹp hơn.
Việt Nam tự hào là nƣớc thứ hai trên thế giới và là quốc gia đầu tiên ở
Đông Nam Á ký phê chuẩn Công ƣớc (năm 1989). Đến năm 1991 Nhà nƣớc
Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (BV, CS &
GD) nhằm thể chế hoá các quyền và bổn phận cơ bản của trẻ em Việt Nam, đồng
thời xác lập các cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác BV, CS & GD trẻ em.
Công ƣớc về quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em với những quy
định cụ thể về quyền và bổn phận của trẻ em đã có những tác động tích cực vào
thực tế cuộc sống gần mƣời lăm năm nay và đã có những đóng góp tích cực
trong việc nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, trong đó có
trẻ em là học sinh các trƣờng trung học cơ sở (THCS) ở các tỉnh, thành phố
trong cả nƣớc. Đối với học sinh các trƣờng THCS, việc nhận thức đầy đủ về các
quyền và bổn phận của mình sẽ góp phần quan trọng làm thay đổi hành vi và
cách xử sự theo đúng những quy định của Công ƣớc và Luật. Đây cũng là cơ sở
thuận lợi cho việc giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân của các em sau này.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc nhận thức đầy đủ các điều khoản quy
định về quyền và bổn phận của trẻ em nói chung và học sinh trong các trƣờng

phần vào việc nghiên cứu lý luận, và đánh giá thực trạng nhận thức của chính
trẻ em về quyền và bổn phận của mình. Trên cơ sở đó đề tài khuyến nghị và
đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao nhận thức của học sinh
THCS về quyền và bổn phận của trẻ em.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

13
1. Trên thế giới việc nghiên cứu soạn thảo Công ƣớc của LHQ về quyền
trẻ em đƣợc tiến hành trong 10 năm (từ năm 1979 là năm Quốc tế thiếu nhi
đến năm 1989) và căn bản dựa vào Tuyên ngôn của LHQ về quyền trẻ em
năm 1989. Nhóm công tác của LHQ đặc trách công việc nghiên cứu soạn thảo
gồm đại diện của 43 nƣớc thành viên và 50 tổ chức phi chính phủ. Công ƣớc
đƣợc Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày 20-11-1989 và mở cho các nƣớc ký
ngày 26-1-1990. Công ƣớc có hiệu lực và là luật quốc tế kể từ ngày 2-9-1990.
Tính đến ngày 10- 5-2002, Công ƣớc đã có 192 quốc gia là thành viên. Đây là
Công ƣớc quốc tế có số nƣớc tham gia lớn hơn bất cứ Công ƣớc nào về quyền
con ngƣời trong lịch sử. Tính ra đã có tới 96% số trẻ em trên thế giới đang ở
những nƣớc đã phê chuẩn hoặc tham gia Công ƣớc. Việt Nam là nƣớc thứ hai
trên thế giới và là nƣớc đầu tiên ở Đông Nam Á ký phê chuẩn Công ƣớc.
Về nội dung, Công ƣớc đƣợc chia làm 3 phần chính:
Phần mở đầu nêu bật những nguyên tắc cơ bản cơ bản của LHQ thể
hiện trong các tuyên ngôn, tuyên bố về quyền con ngƣời. Công ƣớc khẳng
định thực tế trẻ em do dễ bị tổn thƣơng nên cần đƣợc chăm sóc và bảo vệ đặc
biệt.
Phần 1 (gồm 41 điều) quy định các quyền trẻ em và trách nhiệm của các
quốc gia thành viên trong việc thực hiện các quyền này.
Phần 2 (từ điều 41 đến điều 45) và phần 3 (từ điều 46 đến 54) là các
điều khoản nhằm thực hiện Công ƣớc.
Với 54 điều khoản, Công ƣớc về quyền trẻ em ra đời đã bổ sung một

và giải pháp” do tiến sĩ Chu Xuân Việt làm chủ nhiệm (tháng 4 năm 1996). Đề
tài đã đánh giá đúng thực trạng tình hình lứa tuổi vị thành niên đồng thời kiến
nghị các giải pháp đồng bộ với Đảng, Nhà nƣớc và xã hội nhằm tăng cƣờng
giáo dục, bồi dƣỡng lứa tuổi vị thành niên thành lớp ngƣời mới theo mục tiêu
của Đảng, đáp ứng yêu cầu của đất nƣớc trong giai đoạn mới. Đề tài cũng có
đề cập tới tình hình tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên và vấn đề tội phạm vị
thành niên. Tuy nhiên vấn đề nhận thức quyền và bổn phận của trẻ em chƣa đƣợc
tác giả đề cập tới.
- Trong thời gian qua cũng có nhiều cuộc hội thảo đƣợc tiến hành nhƣ
Hội thảo “Phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em ở các tỉnh phía Bắc Việt
Nam” do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tổ chức (Hà Nội ngày 30/01/1997).
Hội thảo “Phòng chống kinh doanh tình dục trẻ em” do Trung ƣơng Hội Liên
hiệp Thanh niên Việt Nam chủ trì (TP Hồ Chí Minh ngày 14/4/1998).
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

15
- Hội nghị bàn tròn về lao động trẻ em do Chính phủ Hà Lan và ILO (tổ
chức lao động quốc tế) tổ chức tại Amxtecdam trong hai ngày 26 và 27 tháng
2 năm 1997 nhằm thảo luận tập trung vào những hình thức lao động độc hại
và bóc lột nhất với trẻ em là cƣỡng bức lao động nhƣ nô lệ, sử dụng trẻ em
trong mại dâm, buôn bán ma tuý hay bất kỳ hình thức nào khác ảnh hƣởng đến
việc học tập của trẻ em.
- Hội nghị quốc tế về lao động trẻ em do UNICEF (Quỹ nhi đồng LHQ)
và ILO tổ chức tại Na Uy ngày 27/10/1997.
Đây là hội nghị thế giới đầu tiên thảo luận về vấn đề lao động trẻ em và
đồng thời thông qua chƣơng trình hành động toàn diện về lao động trẻ em để
phấn đấu không còn tồn tại vấn đề lao động trẻ em vào thiên niên kỷ tới. Các
Hội nghị và Hội thảo trên tuy đề cập rất nhiều đến vấn đề xâm hại quyền trẻ
em về lao động và tình dục, song chƣa đề cập đến vấn đề nhận thức về quyền
và bổn phận của trẻ em, nhất là chƣa đề cập đến nhận thức của đối tƣợng trẻ

trách nhiệm của chính quyền địa phƣơng đối với việc phòng ngừa và hỗ trợ
các gia đình thực hiện tốt các quyền và bổn phận của trẻ em; vai trò của Nhà
nƣớc còn mang tính bao cấp, chƣa rõ ràng Tác giả còn đề cập đến việc thực
hiện không nghiêm Luật BV, CS & GD trẻ em ở một số nơi. Vấn đề này
không chỉ đối với Luật mà đối với các bộ luật khác có liên quan đến vấn đề
này nhằm đảm bảo quyền và bổn phận của trẻ em cũng có hiện tƣợng này.
Bàn về khía cạnh lý luận của mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của
trẻ em, TS. Hoàng Thế Liên và Ths. Hoàng Đức Thắng (Viện nghiên cứu khoa
học Pháp lý - Bộ Tƣ pháp) đã đƣa ra một số nhận định về vấn đề này nhƣ sau:
- Về mặt thuật ngữ: “bổn phận” mà Luật sử dụng có ý nhấn mạnh tính
đạo lý truyền thống hơn là tính pháp lý. Trong mối quan hệ giữa quyền và bổn
phận của trẻ em, nghĩa đạo lý rất sâu sắc. Khi thực hiện bổn phận của mình trẻ
em đã tham gia vào quan hệ mang nặng trách nhiệm đạo lý hơn là trách nhiệm
pháp lý.
- Quyền và bổn phận của trẻ em có tính tƣơng hỗ lẫn nhau.
- Mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em hiện nay thể hiện đậm
nét tính ƣu việt của chế độ XHCN và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt
Nam.
Về mặt thực tiễn, tác giả đã đƣa ra một số ý kiến liên quan đến việc điều
chỉnh pháp lý đối với mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em nhƣ;
phƣơng thức thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em, khi xem xét mối quan
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

17
hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em cần chú ý tới sự phát triển
của lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh kinh tế, vị trí địa lý. Cần quan tâm hơn nữa
tới quyền lợi vật chất và quyền lợi tinh thần của trẻ, chú ý tói môi trƣờng để
thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em trong điều kiện kinh tế - xã hội
chung
Đặc biệt, Hội thảo lần này còn có gƣơng mặt của 15 đại biểu của trẻ em

- Đặc biệt hội thảo đề nghị cần tăng cƣờng hơn nữa việc tuyên truyền
nâng cao nhận thức về các quyền của trẻ em cho các em biết để có thể tự bảo
vệ mình, trong đó nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức của trẻ em là học
sinh trong các trƣờng tiểu học và THCS.
Nói về bổn phận của trẻ em, ngƣời xƣa cũng đã biết dạy cho trẻ nhỏ biết
bổn phận và trách nhiệm đối với đất nƣớc, quê hƣơng, làng xóm, đạo ứng xử
trong các mối quan hệ giữa gia đình, nhà trƣờng; quan hệ thầy trò, bè bạn, anh
em. Những bổn phận và trách nhiệm này đƣợc xây dựng thành những nguyên
tắc chung về luân thƣờng đạo lý và lễ nghĩa đời này nối tiếp đời kia làm theo.
Thực tế hiện nay cho thấy, khi chúng ta thực hiện tốt các quyền của trẻ
em thì chúng ta cũng cần phải giáo dục thế nào để trẻ em biết và thực hiện bổn
phận của mình; tạo cho chúng có ý thức quan tâm và sớm nhận thức đƣợc
trách nhiệm dù nhỏ của mình đối với gia đình, cộng đồng và xã hội. Chúng ta
cũng cần phải thống nhất những nội dung tạo thành các quy chuẩn về bổn
phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay. Có thể thấy, trong những điều kiện
của xã hội hiện đại, rất nhiều những giá trị truyền thống vẫn còn tồn tại.
Chẳng hạn nhƣ bổn phận của trẻ em đối vói ông bà, cha mẹ, anh em, bổn phận
với làng xóm quê hƣơng, cộng đồng bổn phận phải học hành chăm chỉ, có ý
thức lao động, phụ giúp công việc gia đình. Qua trao đổi, đa số trẻ em Việt
Nam, đặc biệt là các em sống ở nông thôn, ở vùng sâu vùng xa vẫn thực hiện
tốt bổn phận của mình, nhƣng đời sống xã hội trong giai đoạn phát triển mới
của đất nƣớc cũng làm nảy sinh không ít những trẻ em không biết bổn phận
của mình đối với ông bà, cha mẹ Rất nhiều trẻ em từ khi còn nhỏ tuổi không
đƣợc dạy bảo uốn nắn kịp thời nên đến khi trƣởng thành đã trở thành những
còn ngƣời không có nhân cách, vi phạm đạo đức, gây nhức nhối cho cộng
đồng và xã hội. Đây cũng chính là điều trăn trở của các bậc cha mẹ, các thày
cô giáo và rộng hơn là những ngƣời lãnh đạo đất nƣớc. Vì vậy, chúng ta phải
quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục bổn phận cho trẻ em ngay từ khi các em
còn nhỏ tuổi để các em tự ý thức đƣợc trách nhiệm của mình trƣớc gia đình và
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

nhất (trên 70%), đặc biệt là việc học hành (90%). Về việc tham gia các phong
trào, các cuộc vận động xã hội cũng đƣợc quan tâm nhiều hơn kể từ khi có
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

20
Luật, trong đó các phong trào xã hội lại đƣợc chú ý nhiều hơn phong trào kinh
tế.
Nhận thức về quyền đƣợc phát triển của trẻ, phần lớn ngƣời trả lời đã thể
hiện là có sự hiểu biết về quyền và trách nhiệm thuộc nhóm quyền đƣợc đi học
và đi học đúng độ tuổi của trẻ em: 96,69% ý kiến của ngƣời lớn, 95,83% ý kiến
của trẻ em cho rằng lúc 6 tuổi trẻ em phải đƣợc vào học lớp 1; 92,72% ý kiến
của ngƣời lớn, 77,78% ý kiến của trẻ em cho rằng các bậc cha mẹ sẽ là những
ngƣời vi phạm pháp luật nếu trẻ ở độ tuổi 6-14 trong gia đình không đƣợc gia
đình tạo điều kiện để các em đến trƣờng khiến các em không đƣợc đi học.
Đánh giá về tổ chức quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu của trẻ em cho
thấy, vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, ban BV, CS & GD trẻ em ở cơ sở
khá cao. Ở khu vực nông thôn, vai trò này đƣợc đánh giá cao hơn so với vai
thành thị. Vai trò của Đảng vẫn đƣợc đánh giá là cao nhất. Ngƣợc lại các tổ
chức đoàn thể, tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp lại đƣợc biết đến ở thành thị
nhiều hơn ở nông thôn, trong khi các hoạt động của các chƣơng trình, dự án
trên thực tế lại ƣu tiên nhiều hơn cho khu vực nông thôn. Điều này có nghĩa là
việc tuyên truyền nói chung, tuyên truyền về kết quả, mục tiêu vì trẻ em nói
riêng chƣa đạt hiệu quả cao ở nông thôn.
Theo số liệu khảo sát xã hội học về nhận thức và dƣ luận xã hội qua 10
năm thực hiện Chƣơng trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam (TS.
Trịnh Hoà Bình), lý do trẻ em đƣợc quan tâm chăm sóc là do chủ trƣơng đúng
đắn của Đảng, Nhà nƣớc và sự chỉ đạo sát sao của Uỷ ban các cấp (69,7%), do
các gia đình đã nhận thức đƣợc rõ và sâu sắc yêu cầu của công tác trẻ em
(56,6%), do đời sống kinh tế - xã hội phát triển (55,5%), do công tác tuyên
truyền - vận động xã hội phát huy đƣợc hiệu quả tốt (48,8%).

những thành công nhất định trong việc phân tích, đánh giá tình hình trẻ em.
Song thời gian qua những nghiên cứu về quyền trẻ em cũng nhƣ nhận thức của
chính trẻ em về quyền và bổn phận của trẻ em còn chƣa nhiều, nhất là đối với
học sinh các trƣờng THCS. Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu về
đối tƣợng này trong giai đoạn hiện nay.
III. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Ý nghĩa khoa học
Nhận thức là một quá trình từ thấp đến cao, từ chƣa hoàn thiện đến
hoàn thiện. Nhận thức đúng sẽ có hành vi ứng xử đúng theo các quy định về
quyền và bổn phận của trẻ em. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ chỉ ra một cách
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

22
khoa học quá trình nhận thức của học sinh THCS về quyền và bổn phận của
trẻ em. Trên cơ sở đó sẽ đề xuất những giải pháp có tính khoa học nhằm nâng
cao nhận thức của các em về quyền và bổn phận của mình.
2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài sẽ chỉ ra thực trạng nhận thức của trẻ em học
sinh THCS về quyền và bổn phận của mình và chỉ ra những nguyên nhân cơ
bản dẫn đến thực trạng tình hình đó.
Ngoài ra, nghiên cứu này sẽ đề xuất một số nội dung và hình thức giúp
cho những ngƣời làm công tác truyền thông nói chung và truyền thông trong
nhà trƣờng nói riêng có đƣợc cơ sở thực tế để tuyên truyền đến các tầng lớp
dân cƣ, nhất là trẻ em THCS nhằm nâng cao nhận thức về quyền và bổn phận
của chính các em.
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích chính của luận văn này là nghiên cứu thực trạng nhận thức
của nhóm trẻ em học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em. Trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức để góp phần thay đổi
thái độ và định hƣớng hành vi của nhóm trẻ em này về quyền và bổn phận.

thành, khu vực ngoại thành; chọn các trƣờng có phong trào giáo dục đạt tiên
tiến và trung bình. Cụ thể khu vực nội thành chọn hai trƣờng là trƣờng THCS.
Thành Công (quận Đống Đa) và trƣờng THCS Chƣơng Dƣơng Độ (quận
Hoàn Kiếm); khu vực ngoại thành chọn hai trƣờng là THCS Cổ Nhuế và
THCS Xuân Đỉnh thuộc huyện Từ Liêm
Bước 3: Từ các trƣờng THCS lại chọn ra các lớp 7 - 8 - 9.
2.2. Các phương pháp xã hội học
2.2.1. Khảo sát bằng phiếu hỏi với 563 học sinh từ lớp 7 đến lớp 9.
2.2.2. Phỏng vấn sâu, toạ đàm với một số học sinh, cán bộ quản lý, cán
bộ Đoàn, Đội, các phụ huynh học sinh các trƣờng THCS ở Hà Nội.
2.2.3. Phƣơng pháp sƣu tầm, tổng hợp và phân tích tài liệu, tƣ liệu thứ
cấp từ các ban, ngành, cơ quan có liên quan đến công tác giáo dục, chăm sóc
và bảo vệ trẻ em ở Hà Nội.
2.2.4. Phƣơng pháp quan sát: quan sát các hoạt động của các CLB về
quyền trẻ em tại Hà Nội.
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

24
VII. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Mặc dù Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Công ƣớc quốc tế
về quyền trẻ em và các quy phạm pháp luật khác liên quan đến quyền và bổn
phận của trẻ em đã đƣợc ban hành và đi vào cuộc sống từ nhiều năm nay, song
nhận thức của học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em còn có nhiều
hạn chế và chƣa đầy đủ.
VIII. KHUNG LÝ THUYẾT
tham
gia…
Yêu
quý,
hiếu
thảo…
Chăm
chỉ học
tập,
rèn…
Tôn
trọng
pháp
luật…
Yêu
quê
hƣơng
, đất…
Không
đánh
bạc,
uống…
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

25
Phần thứ hai
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1. Khái niệm nhận thức


26
truyền thống dân tộc và khả năng nguồn lực của Nhà nƣớc mà đƣa ra khái niệm
cụ thể về quyền trẻ em và các nhóm trẻ em. Ví dụ: Tiếp cận từ truyền thống văn
hoá, từ góc độ xây dựng chính sách nguồn lực con ngƣời trong tƣơng lai, Luật
BV, CS & GD trẻ em (1991) quy định “Trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi”.
Dƣới góc độ nguồn lực lao động Bộ luật lao động (1995) quy định:
những ngƣời từ 15 tuổi trở lên có giao kết hợp đồng lao động gọi là ngƣời lao
động. Dƣới góc độ pháp lý Bộ luật dân sự (1995) quy định: Những ngƣời dƣới
18 tuổi là ngƣời chƣa thành niên. Mới đây nhất tại cuộc Hội thảo liên ngành
về “Cơ sở khoa học và thực tiễn để quy định tuổi trẻ em trong Luật BV, CS &
GD trẻ em” trong tổng số 28 ý kiến tham luận của các Giáo sƣ, Tiến sĩ, các
nhà quản lý, lãnh đạo ở các cơ quan và các ngành khoa học khác nhau thì có 6
ý kiến quan niệm trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi (chiếm tỷ lệ 21%); 16 ý kiến
quan niệm trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi (chiếm tỷ lệ 58%). Kết quả cuộc điều
tra xã hội học do phòng Nghiên cứu thiếu nhi, Viện Nghiên cứu thanh niên
tiến hành vào tháng 4 và tháng 5 năm 2002 khi hỏi ý kiến 541 em học sinh
Trung học cơ sở ở 3 tỉnh, Thành phố là: Hà Nội, Hải Dƣơng, Ninh Bình về độ
tuổi trẻ em trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế thì ý kiến trả lời
cũng rất khác nhau: Có 38,1% số em đƣợc hỏi đồng ý trẻ em là ngƣời dƣới 16
tuổi; 61,9% đồng ý dƣới 18 tuổi. Trong cuộc khảo sát gần đây nhất của đề tài
này (tháng 1 và tháng 2 năm 2003) với 563 em là học sinh các trƣờng trung
học cơ sở ở Hà Nội thì thấy: có tới 304 em (chiếm 54%) đồng ý trẻ em là
ngƣời dƣới 16 tuổi; 234 em (chiếm 41,6%) đồng ý dƣới 18 tuổi; có 25 em
(chiếm 4,4%) đề nghị trẻ em là ngƣời dƣới 15 tuổi hoặc dƣới 17 tuổi.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thống nhất sử dụng khái
niệm trẻ em trong Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991, nghĩa là
“Trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi”.
Nhƣ vậy, khái niệm trẻ em đƣợc hiểu trƣớc hết đó là một con ngƣời
đƣợc hƣởng mọi quyền lợi và mọi tự do đã đƣợc nêu ra trong Điều 1 Công

.
Nói đến quyền là nói đến những điều những việc mà pháp luật hoặc xã
hội công nhận cho đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đòi hỏi. Vậy quyền của công dân là
trẻ em là những điều, những việc mà pháp luật của Nhà nƣớc Việt Nam bảo
đảm cho mỗi trẻ em của mình đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi.
Trong phạm vi đề tài này, khái niệm quyền trẻ em có thể hiểu là những
điều những việc mà trẻ em đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật.
4. Khái niệm bổn phận của trẻ em.

(2)
Từ điển luật học - NXB KHXH - Hà Nội, 1999
Phí Công Minh LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

28
Khái niệm bổn phận của trẻ em đƣợc hiểu nhƣ là nghĩa vụ của trẻ em đối
với Nhà nƣớc, gia đình xã hội. Tuy nhiên trong Luật BV, CS & GD trẻ em
không sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ” mà sử dụng thuật ngữ “bổn phận”. Đây là
nét đặc trƣng mang tính chất nhân đạo, nhân văn của pháp luật nƣớc ta. Xét ở
một khía cạnh nào đó, “bổn phận” hàm chứa tính chất “nghĩa vụ” nhƣng không
mang tính chất bắt buộc nhƣ một nghĩa vụ pháp lý. Thuật ngữ “bổn phận” chứa
đựng tính chất đạo lý, hƣớng thiện, giáo dục những thói quen ứng xử trong các
mối quan hệ cơ bản để hình thành lối sống và nhân cách cho trẻ em.
Điều 13, Luật BV, CS & GD trẻ em quy định; trẻ em có bổn phận:
1. Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, lễ phép với ngƣời
lớn tuổi, thƣơng yêu trẻ nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ những ngƣời già
yếu, tàn tật, giúp đỡ gia đình làm nhƣng việc vừa sức với mình.
2. Chăm chỉ học tập, rèn luyện thân thể, tuân theo nội quy của nhà
trƣờng.
3. Tôn trọng pháp luật, thực hiện nếp sống văn minh, trật tự công cộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status