1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ MINH TÂM Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh
Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam
(2005 – 2006) Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60.32.01
GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
8
1.1
Các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về
giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới
8
1.1.1
Giáo dục và đào tạo nhằm phát triển toàn diện con
người
9
1.1.2
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
10
1.1.3
Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng,
của Nhà nước và của toàn dân
11
1.1.4
Phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu
phát triển kinh tế- xã hội
13
1.1.5
Xã hội hoá giáo dục đào tạo, thực hiện công bằng
xã hội trong giáo dục và đào tạo
1.3.4
Khơi dậy phong trào học tập trong nhân dân, xây
dựng một xã hội học tập
26 CHƢƠNG II:
CHƢƠNG TRÌNH PHÁT THANH GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO TRÊN SÓNG ĐÀI TIẾNG NÓI
VIỆT NAM (2005 – 2006)
29
2.1
Giới thiệu về chương trình phát thanh Giáo dục và
đào tạo (Đài Tiếng nói Việt Nam)
29
2.2
Nội dung chương trình
31
2.2.1
Tần số tuyên truyền về các ngành học, bậc học
32
2.2.2
Những đề tài cụ thể
34
Những ưu điểm và hạn chế của chương trình
47
2.4.1
Về nội dung
47
4
2.4.2
Về hình thức
53 CHƢƠNG III:
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG CHƢƠNG TRÌNH
60
3.1
Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới
60
3.1.1
Về chất lượng đào tạo
60
3.1.2
Về chất lượng nguồn nhân lực
62
Tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, trang
thiết bị kỹ thuật
81 KẾT LUẬN
86 Danh mục Tài liệu tham khảo
PHỤ LỤC
5
PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức coi trọng vai trò, vị trí của
giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp cách mạng, trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau khi khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.
Do đó, cùng với các mặt trận diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm, thì giáo dục
phải là mặt trận diệt giặc dốt, góp phần nâng cao dân trí
Điều này đã cho thấy, báo chí (trong đó có phát thanh) đóng một vai
trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo nước nhà
nói riêng, cũng như trong quá trình phát triển đất nước nói chung. Do đó,
việc tổng kết những mặt tích cực, hạn chế cũng như tìm kiếm những giải
pháp để nhằm nâng cao chất lượng chương trình Phát thanh Giáo dục và đào
tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam tại thời điểm này là rất cần thiết.
Đây cũng chính là lý do khiến tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao
chất lượng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài
Tiếng nói Việt Nam” để làm Luận văn Thạc sỹ (chuyên ngành Báo chí) của
mình.
2/ Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết
kinh nghiệm về tuyên truyền phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam,
song đề tài nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm về phát triển giáo dục và đào
tạo trên sóng phát thanh thì hầu như chưa có. (Mới chỉ có 01 đề tài khoa
7
học cấp Đài mang tên: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng
chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo”, do nhóm phóng viên Ban
Văn hoá- xã hội Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện năm 2003). Ở đề tài này,
người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu về thực trạng giáo dục Việt Nam
qua các giai đoạn: thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, giai đoạn 1975- 1995, và
giai đoạn 1996- 2003 (năm 1996 là năm thành lập chương trình phát thanh
Giáo dục và đào tạo- Đài Tiếng nói Việt Nam), trên cơ sở đó nêu lên một số
đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chương trình Phát thanh cho
phù hợp với sự phát triển chung của sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà
trong thời kỳ mới.
Từ đề tài khoa học này, các phóng viên, biên tập viên của Ban Văn
là phát thanh) đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung.
- Khảo sát thực trạng chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo
(Đài Tiếng nói Việt Nam) trong khoảng thời gian 2 năm (2005- 2006).
- Phân tích những nguyên nhân ưu điểm và hạn chế của chương trình.
- Trên cơ sở những nguyên nhân đã được phân tích đó tìm kiếm giải
pháp để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng cũng như hiệu quả tác động
của chương trình.
4/ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng nghiên cứu:
Khảo sát các chương trình, các bài viết đã được phát sóng trên Đài
Tiếng nói Việt Nam và nhóm công chúng của chương trình này.
* Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này nhằm vào các chương trình phát
thanh Giáo dục và đào tạo của Đài Tiếng nói Việt Nam (đã được phát sóng
trong 2 năm 2005- 2006).
9
Cụ thể: Chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo, phát từ 19h45
đến 20h00 hàng ngày (phát lại từ 7h15 đến 7h30 sáng hôm sau) trên Hệ
VOV2 (Hệ Văn hoá và đời sống xã hội).
Tần số các khu vực:
- Miền núi phía Bắc: 9875KHz và 5925KHz
- Hà Nội: 549KHz
- Quảng Bình, Huế: 729KHz
- Đà Nẵng: 702KHz
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn các nhà khoa học, các
chuyên gia, các nhà báo… những người am hiểu sâu và quan tâm đến lĩnh
vực giáo dục và đào tạo.
- Phương pháp thống kê phân loại: Được dùng trong quá trình khảo
sát chương trình…
6/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Qua luận văn này, người viết sẽ cố gắng giới thiệu, phân tích một
cách có hệ thống các quan điểm, đường lối phát triển giáo dục đào tạo của
Đảng ta (đặc biệt là những quan điểm về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ
đổi mới), từ đó nêu lên được thực trạng giáo dục hiện nay ở Việt Nam.
- Xác định rõ vai trò, vị trí của báo chí nói chung, của chương trình
phát thanh Giáo dục và đào tạo (Đài Tiếng nói Việt Nam) nói riêng đối với
sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, nêu bật những ưu điểm cũng như
những mặt còn hạn chế của chương trình trong quá trình thực hiện công tác
tuyên truyền.
- Trên cơ sở đó phân tích những nguyên nhân và tìm kiếm giải pháp
hữu hiệu cho công tác tuyên truyền
- Đề xuất, kiến nghị nhằm từng bước nâng cao chất lượng chương
trình phát thanh Giáo dục và đào tạo trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam.
11
7/ Bố cục của Luận văn:
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận
đó được Đảng ta tiếp tục khẳng định và phát triển qua các kỳ Đại hội VII,
Đại hội VIII, Đại hội IX và Đại hội X. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4
khoá VII (1/1993) “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” và
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996) “Về định hướng chiến lược
phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ” đã thể hiện những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đổi mới
giáo dục và đào tạo trong công cuộc phát triển đất nước.
Mới đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X- Đảng cộng sản Việt
Nam cũng đã xác định mục tiêu phát triển của giáo dục Việt Nam là: Nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung,
13
phương pháp dạy và học, thực hiện: “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”,
chấn hưng nền giáo dục Việt Nam. Và trong Chiến lược phát triển giáo dục
giai đoạn 2001- 2010 do Chính phủ phê duyệt cũng đã nêu rõ mục tiêu,
nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phấn đấu đưa sự nghiệp giáo dục đào tạo nước
nhà ngày một phát triển
Những định hướng, chủ trương đó của Đảng, Nhà nước đã trở thành
kim chỉ nam, hướng dẫn, chỉ đạo, động viên, khuyến khích toàn thể cán bộ,
đảng viên trong ngành và mọi lực lượng, mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội
quyết tâm đổi mới, đưa giáo dục đào tạo phát triển lên tầm cao mới:
1.1.1. Giáo dục và đào tạo nhằm phát triển toàn diện con người
Quan điểm nhất quán và cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng ta
trong công cuộc đổi mới là coi con người là vốn quý nhất, đầu tư cho con
người là đầu tư cho phát triển, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Nghị quyết
Trung ương 2 (khoá VIII) đã khẳng định: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của
giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng
1.1.2. Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, con người cũng luôn
được coi là nhân tố quan trọng nhất. Con người vừa là động lực, vừa là mục
tiêu của sự phát triển bền vững của xã hội (và ngược lại). Nghị quyết Trung
ương 2 (khoá VIII), kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) đều coi phát
triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc
đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Chính vì vậy,
Nhà nước luôn coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và thường có
những chính sách ưu tiên, phát huy tiềm lực sẵn có của ngành giáo dục và
huy động sự đóng góp của toàn xã hội.
15
Một điều đáng mừng là: yêu cầu tăng cường đầu tư cho giáo dục đúng
với vai trò quốc sách hàng đầu đã được thể hiện cụ thể trong Chiến lược
giáo dục: “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các
ngành khác ”. Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá IX còn nêu rõ: “Tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục đào tạo, bảo
đảm tốc độ tăng chi ngân sách cho giáo dục hàng năm cao hơn tốc độ tăng
chi ngân sách Nhà nước. Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục đào tạo sẽ tuỳ
thuộc vào điều kiện cụ thể mà quyết định, nhưng không được thấp hơn tỷ lệ
chi ghi trong chiến lược giáo dục ”.
Từ nhiều năm nay, Chính phủ Việt Nam đã và đang tìm mọi cách để
tăng thêm nguồn lực về tài chính đầu tư cho giáo dục. Ngân sách Nhà nước
vẫn là nguồn cung cấp chính cho quá trình phát triển và hiện đại hoá giáo
dục ở tất cả các bậc học cũng như các nhóm mục tiêu của ngành giáo dục.
Trong những năm gần đây, ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục đã tăng
lên đáng kể. Năm 2004, ngân sách cho giáo dục chiếm trên 17% tổng ngân
sách Nhà nước; và năm 2005 là 18%. (Dự kiến đến năm 2010, ngân sách
quyền lợi, là trách nhiệm của mỗi công dân”, là sự phát triển của quan
điểm: “Ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trên thực tế, tư tưởng: “Ai cũng được học hành” của Bác đã và đang
có sức sống mạnh mẽ trong thực tiễn đời sống giáo dục nước ta. Hàng năm,
Nhà nước đã tạo cơ hội học tập cho biết bao người thông qua các lớp xoá
mù chữ, bổ túc trung học và hàng trăm ngàn người theo học các lớp ngoại
ngữ, tin học, cao đẳng, đại học tại chức, học nghề Đặc biệt, năm 2000,
chúng ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học trong phạm vi cả nước và
đang thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Có thể nói, trong bất kỳ thời điểm nào- ngay cả khi mà ngân sách cho
giáo dục còn hạn hẹp, cơ sở vật chất trường, lớp còn thiếu thốn, thì sự
nghiệp giáo dục vẫn luôn được coi trọng.
17
Cùng với việc Nhà nước tăng cường đầu tư từ ngân sách cho giáo dục
và đào tạo, thì người học, người sử dụng lao động, các tổ chức kinh tế- xã
hội cũng cần hăng hái đóng góp nguồn lực cho giáo dục và đào tạo, coi đó
là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội.
Có như vậy, giáo dục đào tạo mới thực sự là sự nghiệp của toàn
Đảng, của Nhà nước và của toàn dân
1.1.4. Phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển
kinh tế- xã hội
Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 đã cụ thể hoá quan điểm
giáo dục này như sau: đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và
hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng. Thực hiện nguyên lý học đi đôi
với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực
tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
dân tộc, vùng sâu vùng xa với nền kinh tế chưa phát triển và trình độ dân
trí còn thấp.
Định hướng phát triển kinh tế- xã hội nước ta đến năm 2020 và các
năm tiếp theo dự kiến đẩy mạnh quá trình tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá
cao (từ 8 đến 10%), chuyển đổi mạnh cơ cấu kinh tế và phân công lao động
xã hội Điều đó đòi hỏi phải phát triển giáo dục với quy mô lớn, chất lượng
cao và bền vững, đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho quá trình phát triển các
ngành kinh tế.
Do đó, việc quán triệt và thực thi các quan điểm phát triển giáo dục,
phối hợp chặt chẽ giáo dục với phát triển kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng.
19
1.1.5. Xã hội hoá giáo dục đào tạo, thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục và đào tạo
Xã hội hoá giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân
dân, của các tổ chức kinh tế- xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư
vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình
độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập. Điều này cũng có nghĩa là
mọi người trong xã hội đều phải được đảm bảo quyền hưởng một mức giáo
dục tối thiểu (phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở )
phù hợp với trình độ phát triển và khả năng đáp ứng chung của xã hội.
“Gắn xây dựng xã hội học tập với phát triển kinh tế- xã hội”- đó là
nội dung chính của Đề án: “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-
2010” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hồi tháng 5/2005. Trong đó,
xác định tiêu chí cơ bản là: xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập,
tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để người dân ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ
lập năm 1999, đến nay cả nước đã có gần 6000 trung tâm học tập cộng
đồng, thu hút hàng triệu lượt người theo học mỗi năm).
Xã hội hoá giáo dục cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chính
sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của Đảng
và Nhà nước ta. Ở đây, công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo không
chỉ có nghĩa là người dân được xã hội và Nhà nước chăm lo, mà còn biểu
hiện cả về mặt đóng góp, cống hiến của người dân đối với hoạt động này
(tuỳ theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương). Và tất nhiên,
thực hiện công bằng trong chính sách xã hội nhất thiết phải có sự ưu tiên: ưu
tiên đối với người có công, trợ giúp người nghèo, vùng nghèo Những
người thuộc diện chính sách xã hội phải được miễn, giảm phần đóng góp
trong các hoạt động giáo dục 21
Công tác xã hội hoá giáo dục, thực hiện công bằng xã hội trong giáo
dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua được thể hiện trên
những mặt sau:
- Bảo đảm công bằng xã hội trong việc thực hiện phổ cập giáo dục
tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, thực hiện tốt các chính sách,
nhằm tạo cơ hội cho mọi người dân đều đạt trình độ giáo dục phổ cập. (Đã
có hình thức giáo dục và biện pháp hỗ trợ phù hợp với những vùng nông
thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người )
- Tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người có nhu cầu học tập theo chế độ
tuyển sinh. (Với những chính sách ưu tiên phù hợp trong tuyển sinh, nhằm
tạo ra sự công bằng)
- Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, phương thức đào tạo, cho phép
mở các trường, lớp ngoài công lập, hình thức đào tạo không chính quy Đó
cũng chính là cách để bảo đảm công bằng về giáo dục và đào tạo cho mọi
người
nhiều chính sách đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp phát triển đất
nước.
Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục và đào tạo không chỉ có vai trò
đáp ứng mà còn có vai trò kích thích. Người học ngoài việc nắm vững kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo và rèn luyện phẩm chất liên quan đến nghề nghiệp
còn lĩnh hội được khả năng tìm kiếm việc làm gắn với nghề nghiệp của
mình, khiến cho những sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường trở nên năng
động hơn trong thị trường lao động, nảy sinh nhiều ý tưởng sáng tạo
Cùng với sự đổi mới không ngừng về mọi mặt của đất nước, thì sự
phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại cũng đã mở ra cơ hội cho đất
nước ta tiến tới những lĩnh vực khoa học mới, công nghệ cao Điều này
phụ thuộc nhiều vào năng lực học hỏi của toàn dân, kỹ năng tinh xảo của
đội ngũ công nhân, kỹ sư, đầu óc sáng tạo và tinh thần hợp tác của các nhà
nghiên cứu
23
Đây là một thách thức to lớn đối với Việt Nam, bởi ngay cả khi đã có
một số cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ tương đối hiện đại mà thiếu
một đội ngũ nhân lực đáp ứng các yêu cầu kể trên, ta cũng không thể tiến
hành một cách hiệu quả các hoạt động nghiên cứu và triển khai trong các
lĩnh vực công nghệ cao. Vì vậy, giáo dục- đào tạo nhằm phát triển nguồn
nhân lực được coi là một trong những yếu tố quyết định trong cạnh tranh.
Sự phát triển khoa học và công nghệ đòi hỏi phải cải tiến quá trình giáo dục
và đào tạo, đổi mới nội dung và phương pháp đầu tư lớn, như vậy mới đào
tạo được đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu mới.
Tiềm lực kinh tế của Việt Nam không cho phép Nhà nước đầu tư cao
cho giáo dục- mặc dù đã nhận thức rõ được vị trí đặc biệt quan trọng của
giáo dục Giáo dục Việt Nam phải khắc phục sự mất cân đối giữa yêu cầu
phát triển nhanh về quy mô và nguồn lực còn rất hạn chế, giữa yêu cầu phát
triển nhanh về quy mô và đòi hỏi gấp rút nâng cao chất lượng Hiện nay,
về lĩnh vực giáo dục- đào tạo ở giai đoạn mới này cần hết sức tỉnh táo,
khách quan và linh hoạt. Có thể thấy trên bất kỳ một tờ báo nào, một đài
phát thanh, truyền hình nào vấn đề này cũng luôn được quan tâm, chú
trọng Nó luôn là một trong những đề tài không thể thiếu của các cơ quan
báo chí
Riêng đối với phát thanh, (mà điển hình là Đài Tiếng nói Việt Nam),
kể từ ngày thành lập cho đến nay vẫn luôn giữ một hướng chỉ đạo nhất
quán, coi quan điểm của Đảng về giáo dục- đào tạo là kim chỉ nam, là linh
hồn của các tác phẩm báo chí phát thanh.
Mặc dù mãi đến sau này (năm 1996), Đài Tiếng nói Việt Nam mới
thành lập chương trình phát thanh Giáo dục và đào tạo, song từ trước đó, nội
dung truyền thông về giáo dục- đào tạo đã luôn được Lãnh đạo Đài quan
tâm và chiếm một thời lượng khá lớn. Từ chương trình phát thanh Thời sự
cho đến các chương trình phát thanh Văn hoá- xã hội, phát thanh Thanh
niên, Thiếu niên đều thường xuyên chú trọng đến việc chuyển tải những
25
hoạt động thuộc lĩnh vực giáo dục- đào tạo cũng như các vấn đề mà sự
nghiệp giáo dục đặt ra. Một mặt, các chương trình phát thanh tiếp tục cổ vũ
cho thành tựu giáo dục đã đạt được, phân tích kỹ nguyên nhân của các thành
tựu đó đồng thời có tiếng nói khách quan, thẳng thắn phê phán những mặt
yếu kém, những biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo.
Với hướng chỉ đạo đó, nội dung tuyên truyền về giáo dục- đào tạo
trên sóng phát thanh thời gian qua luôn đảm bảo đúng định hướng tư tưởng
và đạt được tính hấp dẫn, phong phú
1.3.1. Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính
sách… của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo
Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, nội dung tuyên truyền