LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thí nhu
cầu được nghỉ ngơi thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng cũng ngày
càng lớn. Nắm bắt được nhu cầu cấp thiết đó của người dân, nghành du lịch
thế giới đã không ngừng hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Ở nước ta, kinh doanh du lịch còn khá mới mẻ. Cùng với sự đổi mới của đất
nước vào cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, nghành du lịch có những thành
công đáng kể. Trong các văn kiện đại hội Đảng VI, VII, VIII đã khẳng định
vai trò của ngành du lịch là “ ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của đất nước”; Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ 9 đã
xác định “phát triển du lịch thực sự trở thành nền kinh tế mũi nhọn”.
Việc Việt Nam gia nhập vào Tố chức thương mại thế giới – WTO đã
tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp bao gồm cả các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Môi trường cạnh tranh trở nên vô cùng gay
gắt, giá và chất lượng trở thành vũ khí để cạnh tranh có hiệu quả nhất. Đối với
các doanh nghiệp lữ hành thì hiện nay mức giá của các chương trình du lịch
của các công ty lữ hành gần như không chênh lệch nhau, vì vậy mà chất
lượng chính là vữ khí duy nhất để cạnh tranh. Chất lượng chương trình du lịch
chính là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh của doanh
nghiệp lữ hành.
Xác định được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng chương
trình du lịch nên trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần du lịch thanh
niên thành phố Hồ Chí Minh tôi đã tìm hiểu về các yếu tố làm ảnh hưởng đến
chất lượng chương trình du lịch của công ty và nhận thấy vấn đề nổi trội lên
nhất chính là do đội ngũ hướng dẫn viên. Việc thực hiện của hướng dẫn viên
ảnh hưởng đến gần 70% chất lượng của chương trình du lịch. Do khả năng
1
còn nhiều hạn chế nên tôi chỉ nghiên cứu về sự ảnh hưởng của công tác tổ
chức quản lý đối với hướng dẫn viên đến chất lượng chương trình du lịch.
Công tác tổ chức và quản lý lao động của Công ty cổ phần du lịch thanh niên
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, một trong những
nhau. Khái niệm “du lịch” có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm
thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
Năm 1811 lần đầu tiên tại Anh có định nghĩa về du lịch và nó được
hiểu như sau: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành
của cuộc hành trình với mục đích giải trí”.
Năm 1930 ông Glusman người Thuỵ Sỹ đã định nghĩa rằng: “Du lịch là
sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ
không có chỗ cư trú thường xuyên. Ông Kuns người Thuỵ Sỹ lại cho rằng:
“Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi
đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch”. Giáo
sư tiến sỹ Hunziker và giáo sư tiến sỹ Krapf đã định nghĩa như sau: “Du lịch
là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình
và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không
thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”.
Trong từ điển bách khoa quốc tế về du lịch do Viện hàn lâm khoa học
quốc tế về du lịch xuất bản thì nói rằng: “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích
cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp
liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch … Du lịch là cuộc
hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước
và một bên là những công cụ làm thoả mãn các nhu cầu của họ”. Theo trường
3
Đại học kinh tế Praha, cộng hoà Séc thì: “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ
thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc
lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại
trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ”. Theo trường
Tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie: “Du lịch là một hiện tượng kinh
tế – xã hội được lặp đi, lặp lại đều đặn – chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ,
hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập - đó là các tổ chức, các xí
nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự đi lại, lưu
trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất
phố. Sự phục vụ này phải được đăng ký đầy đủ hoặc ký hợp đồng trước với
một doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch phải thanh toán đầy đủ trước khi
các dịch vụ được thực hiện”.
Quy định về du lịch lữ hành trọn gói của liên minh Châu Âu và Hiệp
hội các hãng lữ hành Vương quốc Anh thì “Chương trình du lịch là sự kết hợp
được sắp xếp từ trước của ít nhất hai trong số các dịch vụ: nơi ăn ở, các dịch
vụ khác sinh ra từ dịch vụ giao thông hoặc nơi ăn ở và nó được bán với mức
giá gộp và thời gian của chương trình phải nhiều hơn 24 giờ”.
Theo Gagnon và Ociepka thì “ Chương trình du lịch là một sản phẩm
lữ hành được xác định mức giá trước, khách có thể mua riêng lẻ hoặc mua
theo nhóm và có thể tiêu dùng riêng lẻ hoặc tiêu dùng chung với nhau. Một
chương trình du lịch có thể bao gồm và theo các mức độ chất lượng khác
nhau của bất kỳ hoặc tất cả các dịch vụ vận chuyển, hàng không, đường bộ,
đường sắt, đường thuỷ, nơi ăn ở, tham quan và vui chơi giải trí”.
5
Còn theo Charles J.Wetelka thì “Chương trình du lịch là bất kỳ chuyến
đi chơi nào có sắp xếp trước (thường được trả tiền trước) đến một hoặc nhiều
địa điểm và trở về nơi xuất phát. Thông thường bao gồm sự đi lại, ở, ăn, ngắm
cảnh và những thành tố khác”.
Robert T. Reilly thì đưa ra hai định nghĩa về chương trình du lịch. Định
nghĩa thứ nhất nói rằng: “Chương trình du lịch là sự kết hợp của ít nhất hai
thành phần giao thông và nơi ăn ở mà nó bảo đảm cung cấp dịch vụ giao
thông mặt đất, dịch vụ khách sạn, bữa ăn và dịch vụ giải trí”. Còn trong định
nghĩa thứ hai thì ông cho rằng: “Chương trình du lịch là tất cả các dịch vụ để
thực hiện chuyến đi đã được trả tiền trước loại trừ các dịch vụ tiêu dùng đơn
lẻ của khách”.
Tại mục 13, điều 4, Luật du lịch Việt Nam đã định nghĩa rằng:
“Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được
định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc
chuyến đi”.
chương trình du lịch đồng thời còn do cảm nhận rủi ro của khách khi mua
chương trình du lịch.
1.2.3 Phân loại chương trình du lịch:
Việc phân loại các chương trình du lịch là công việc không thể thiếu
của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành bởi vì phân loại chương trình du
lịch sec giúp hoàn thiện nội dung chính sách sản phẩm của doanh nghiệp, lựa
chọn được các đoạn thị trường mục tiêu phù hợp, có các chính sách đầu tư
thích hợp cho từng loại chương trình, tạo ra được tíh hấp dẫn của sản phẩm lữ
hành ,…. Có nhiều tiêu thức để phân loại các chương trình du lịch:
7
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh:
+ Chương trình du lịch chủ động: là loại chương trình mà doanh nghiệp
lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình du lịch,
ấn định các ngày thực hiện, sau đó mới tổ chức bán và thực hiện các chương
trình.
+ Chương trình du lịch bị động: là loại chương trình mà khách tự tìm
đến với doanh nghiệp lữ hành, đề ra các yêu cầu và nguyện vọng của họ. Trên
cơ sở đó doanh nghiệp lữ hành xây dựng chương trình. Hai bên tiến hành thoả
thuận và thực hiện sau khi đã đạt được sự nhất trí của đôi bên.
+ Chương trình du lịch kết hợp: là sự kết hợp của hai loại trên, cụ thể là
doanh ngiệp lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng chương trình
du lịch nhưng không ấn định ngày thực hiện. Thông qua các hoạt động tuyên
truyền quảng cáo, khách du lịch sẽ tìm đến với doanh nghiệp lữ hành. Trên cơ
sở chương trình sẵn có, hai bên tiến hành thoả thuận và sau đó thực hiện
chương trình.
Căn cứ vào dịch vụ cấu thành và mức độ phụ thuộc trong tiêu
ding:
+ Chương trình du lịch trọn gói có người tháp tùng: loại chương trình
này có những đặc điểm sau:
• Bao gồm hầu hết các thành phần dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn
• Chương trình có thể được bán tách rời và có thể bán kèm theo
với các sản phẩm của hãng vận chuyển hoặc là các cơ sỏ kinh doanh lưu trú.
+ Chương trình du lịch chỉ có hướng dẫn viên tại các điểm đến
9
Căn cứ vào mức giá:
+ Chương trình du lịch theo mức giá trọn gói: bao gồm hầu hết các
dịch vụ, hàng hoá phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch và
giá của chương trình là giá trọn gói.
+ Chương trình du lịch theo mức giá tuỳ chọn: Khách có thể tuỳ ý lựa
chọn các cấp độ chất lượng phục vụ khác nhau với các mức giá khác nhau.
+ Chương trình du lịch theo mức giá cơ bản: chỉ bao gồm một số dịch
vụ chủ yếu của chương trình du lịch với nộ dung đơn giản.
Căn cứ vào mục đích chuyến đi và loại hình du lịch:
+ Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh
+ Chương trình du lịch theo chuyên đề
+ Chương trình du lịch công vụ MICE
+ Chương trình du lịch tàu thuỷ
+ Chương trình du lịch tôn giáo, tín ngưỡng
+ Chương trình du lịch sinh thái
+ Chương trình du lịch thể thao, khám phá và mạo hiểm
+ Chương trình du lịch đặc biệt
+ Chương trình du lịch tổng hợp
Ngoài những tiêu thửc trên người ta có thể phân loại theo những tiêu
thức khác như: theo hình thức tổ chức tiêu dùng; theo độ dài thời gian của
chương trình; … Sự phân loại chỉ mang tính chất tương đối và thường có sự
kết hợp giữa các sản phẩm của các loại hình du lịch để xây dựng chương trình
du lịch sao cho phù hợp với mục đích và động cơ chuyến đi của khách.
1.3 Khái niệm về chất lượng chương trình du lịch:
1.3.1 Định nghĩa về chất lượng chương trình du lịch:
Đứng trên các góc độ khác nhau thì có nhứng quan điểm khác nhau về
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chương trình du lịch.
Để cải tiến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành thì cần phải
thu hẹp những sai số từ khi hình thành sản phẩm cho đến khi khách du lịch
kết thúc chuyến đi. Những khoảng cách, sai số này bao gồm:
- Sai số giữa sự trông đợi và kỳ vọng của khách với sản phẩm được
thiết kế
- Sai số xuất phát từ sự hiểu biết về sản phẩm của đội ngũ nhân viên
- Sai số trong hoạt động quản lý, điều hành
- Sai số do nhận thức của các thành phần về sản phẩm thiết kế
- Sai số tương ứng trong quá trình thực hiện
- Sai số do các yếu tố ngoại cảnh: tự nhiên, xã hội
Các yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Khách du lịch, các nhà cung cấp, các
đại lý du lịch và môi trường tự nhiên xã hội.
1.4 Khái niệm về hướng dẫn viên du lịch:
1.4.1 Định nghĩa về hướng dẫn viên du lịch:
Định nghĩa của trường đại học British Columbia (Canada):
“Hướng dẫn viên du lịch là các cá nhân làm việc tren các tuyến du lịch,
trực tiếp đi kèm hoặc do chuyển cùng với các cá nhân hoặc các đoàn khách
theo một chương trình du lịch, nhằm đảm bảo việc thực hiện lịch trình theo
đúng kế hoạch, cung cấp các lời thuyết minh về các điểm du lịch và tạo ra
những ấn tượng tích cực cho khách du lịch”
Định nghĩa của Tổng cục Du lịch Việt Nam:
“Hướng dẫn vien du lịch là cán bộ chuyên môn, làm việc cho các
doanh nghiệp lữ hành (bao gồm cả các doanh nghiệp du lịch khác có chức
12
năng kinh doanh lữ hành), thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn du khách tham quan
theo chương trình du lịch đã được ký kết”.
1.4.2 Phân loại hướng dẫn viên du lịch:
Tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức lao động của bộ phận hướng dẫn trong
của các cơ sở phục vụ, thường xuyên phải xa nhà, công việc mang tính đơn
điệu đặc biệt là đối với hướng dẫn viên chuyên tuyến, …
1.4.4 Một số yêu cầu đối với hướng dẫn viên:
+ Phẩm chất chính trị: phải nắm được đường lối chủ trương của Đảng,
Nhà nước, Hiến pháp và pháp luật và phải biết cách bảo vệ, tuyên truyền cho
khách du lịch hiểu.
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: để đánh giá trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của một hướng dẫn viên thì thường căn cứ vào các tiêu thức sau:
kiến thức về khoa học cần thiết, phương pháp và nghệ thuật hướng dẫn, trình
độ ngôn ngữ.
+ Đạo đức nghề nghiệp: cũng như các nghề khác đòi hỏi phải có lòng
yêu nghề thì mới có thể có nhiệt huyết và truyền đạt được cảm xúc cho khách
du lịch. Ngoài ra do tính chất phức tạp nhưng tế nhị của công việc nên đòi hỏi
hướng dẫn viên phải kiên nhẫn, tận tụy, trung thực
+ Sức khoẻ: là yếu tố đòi hỏi hàng đầu đối với hướng dẫn viên vì
hướng dẫn viên phải phục vụ khách du lịch trong suốt cuộc hành trình, gánh
vác những trọng trách rất nặng nề. Ngoài ra hướng dẫn viên cần có ngoại hình
tương đối dễ nhìn, không có dị tật.
14
1.5 Khái niệm về công tác tổ chức và quản lý lao động:
Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quản trị thì
công tác tổ chức và quản lý lao động bao gồm việc hoạch định, tổ chức, chỉ
huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con
người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức. Nếu đi sâu vào nghiên
cứu thì chúng ta có thể hiểu công tác tổ chức và quản lý lao động là việc
tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, sử dụng, động viên và cung cấp
tiện nghi cho nhân lực thông qua tổ chức của nó. Song dù tiếp cận ở giác
độ nào thì công tác tổ chức và quản lý lao động vẫn chính là tất cả các hoạt
động của tổ chức để xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và
gìn giữ một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức cả về mặt
trình lập kế hoạch nguồn nhân lực có thể được thể hiện thông qua hình sau:
Hình 1.1 ( nguồn: Luis R.Gomez-Mejia; David B.Balkin; Robert L.Cardy:
Managing Human Resources; Prentice Hall International, Inc, trang 65 )
Tiến trình lập kế hoạch nguồn nhân lực thường được tiến hành theo các
bước sau:
16
Thị trường lao
động bên ngoài
Thị trường lao động
bên trong
Năng suất lao
động
Cầu sản phẩm
Những điều kiện và các giải pháp lựa chọn
Cầu lao động Cung lao động
Bước 1: Đề ra nhu cầu và dự báo nhu cầu
Trong bước này, doanh nghiệp cần tính đến kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp trong ngắn hạn cũng như dài hạn; số lượng lao động sẽ nghỉ
làm tại doanh nghiệp vì những lý do như thuyên chuyển công tác, nghỉ hưu,
thai sản, …; các yêu cầu về số lượng cũng như chất lượng của lao động
Bước 2: Đề ra chính sách và kế hoạch:
Sau khi dự đoán được cầu và cung nhân lực cho thời kỳ kế hoạch của
doanh nghiệp, tiến hành cân đối, so sánh cầu với cung về nhân lực. Kết quả so
sánh sẽ xảy ra các trường hợp sau:
- Cầu nhân lực lớn hơn cung nhân lực (thiếu lao động): Trường hợp này
tổ chức cần tìm kiếm các biện pháp khai thác và huy động lực lượng lao động
từ bên trong và bên ngoài tổ chức. Doanh nghiệp có thể thực hiện chương
trình đào tạo kỹ năng và đào tạo lại những người lao động hiện có để họ có
thể đảm nhận những chỗ trống hiện có trong tổ chức; đề bạt lao động trong tổ
chức; kế hoạch hoá kế cận và phát triển quản lý; tuyển mộ người lao động
hiện những hoạt động nào, tại sao phải thực hiện và thực hiện như thế nào?
những máy móc, thiết bị, công cụ nào được sủ dụng? những mối quan hệ nào
được thực hiện? Các điều kiện làm việc cụ thể? những yêu cầu về kiến thức,
kỹ năng và các khả năng mà người lao động cần phải có để thực hiện công
việc?
Việc phân tích công việc giúp cho doanh nghiệp lập kế hoạch nguồn
nhân lực, tuyển mộ, tuyển chọn, định hướng, đánh giá thực hiện công việc, trả
thù lao, đào tạo, kỷ luật, an toàn lao động, thiết kế lại công việc, bảo vệ về
mặt pháp luật, …. Để thu thập thông tin phân tích công việc thì cán bộ phân
18
tích công việc có thể sử dụng một hoặc kết hợp và phương pháp trong số các
phương pháp sau đây:
- Quan sát
- Ghi chép các sự kiện quan trọng
- Nhật ký công việc
- Phỏng vấn
- Sử dụng phiếu điều tra
- Hội thảo chuyên gia
Quá trình phân tích công việc thường được chia làm 4 bước:
Bước 1: Xác định các công việc cần phân tích
Bước 2: Lựa chọn các phương pháp thu thập thông tin thích hợp với
mục đích của phân tích công việc
Bước 3: Tiến hành thu thập thông tin
Bước 4: Sử dụng thông tin thu thập
Các thông tin thu thập được được xử lý tuỳ theo mục đích của việc
phân tích công việc, tuy nhiên chúng thường được trình bày dưới dạng bản
mô tả công việc, bản yêu cầu của công việc đối với người thực hiện và bản
tiêu chuẩn thực hiện công việc
+) Bản mô tả công việc: là một văn bản viết giải thích về những nhiệm
vụ, trách nhiệm, điều kiện làm việc và những vấn đề có liên quan đến một
công việc như nhiệt độ, chiếu sáng, các điều kiện an toàn, …
Khi có yêu cầu cần phải thiết kế hoặc thiết kế lại công việc thì các
doanh nghiệp có thể lựa chọn để thực hiện theo những phương pháp sau:
20
- Phương pháp truyền thống: là phương pháp xác định các nhiệm vụ và
trách nhiệm thuộc công việc dựa trên các yếu tố chung hoặc giống nhau của
từng công việc được thực hiện ở các tổ chức khác nhau
- Nghiên cứu hao phí thời gian và chuyển động: là phương pháp nghiên
cứu và phân tích các chuyển động của bàn tay, cánh tay, chuyển động thân thể
của người lao động trong quá trình làm việc, trong mối quan hệ với các công
cụ làm việcvà các nguyên vật liệu để xây dựng và tiêu chuẩn hoá một công cụ
làm việc và các nguyên vật liệu để xây dựng và tiêu chuẩn hoá một chu trình
hoật động hợp lý nhằm tối đa hoá hiệu suất của quá trình lao động. Thực chất
đó chính là việc tiêu chuẩn hoá công việc và cách thức thực hiện công việc để
mọi người đều có thể thực hiện được công việcđó theo đúng yêu cầu của sản
xuất. Nó thường được áp dụng với các công việc mang tính thủ công
- Mở rộng công việc: là phương pháp thiết kế công việc bằng cách tăng
thêm số lượng các nhiệm vụ, trách nhiệm thuộc công việc. Các nhiệm vụ,
trách nhiệm được tăng thêm thường giống hoặc tương tự hoặc có quan hệ gần
gũi với nội dung công việc trước đó, không đòi hỏi phải học thêm các kỹ năng
mới.
- Luân chuyển công việc: là phương pháp mà người lao động thực hiện
một số công việc khác nhau nhưng tương tự như nhau.
- Làm giàu công việc: là phương pháp thiết kế công việc dựa trên sự
làm giàu thêm nội dung công việc bằng cách tăng thêm các yếu tố hấp dẫn và
thoã mãn bên trong công việc.
1.5.1.3 Tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực:
Tuyển mộ nhân lực:
Tuyển mộ nhân lực là quá trình thu hút những người xin việc từ lực
lượng lao động bên ngoài và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Công tác
+ Bước 1: Tuyển đón ban đầu và phỏng vấn sơ bộ
+ Bước 2: Sàng lọc qua đơn xin việc
+ Bước 3: Các trắc nghiệm nhân sự trong tuyển chọn
+ Bươc 4: Phỏng vấn tuyển chọn
+ Bước 5: Khám sức khoẻ và đánh giá thể lực của các ứng viên
+ Bước 6: Phỏng vấn bởi người lãnh đạo trực tiếp
+ Bước 7: Thẩm tra các thông tin thu được trong quá trình tuyển chọn
+ Bước 8: Tham quan công việc
+ Bước 9: Ra quyết định tuyển dụng
1.5.1.4 Bố trí nhân lực và thôi việc:
Bố trí nhân lực:
Bố trí nhân lực bao gồm các hoạt động định hướng và biên chế nội bộ
doanh nghiệp.
+ Định hướng: là một chương trình được sử dụng nhằm giúp người lao
động mới làm quen với doanh nghiệp và bắt đầu công việc một cách có hiệu
quả. Một chương trình định hướng nên bao gồm các thông tin về:
- Chế độ làm việc bình thường hàng ngày
- Các công việc hàng ngày cần phải làm và cách thực hiện công việc
- Tiền công và phương thức trả công
- Tiền thưởng, các phúc lợi và dịch vụ
- Các nội quy, quy định về kỷ luật lao động, an toàn lao động
- Các phương tiện phục vụ sinh hoạt, thông tin và y tế
- Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
- Mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, các sản phẩm và dịch vụ của
doanh nghiệp, quá trình sản xuất các sản phẩm và dịch vụ đó.
- Lịch sử và truyền thống của doanh nghiệp
- Các giá trị cơ bản của doanh nghiệp
23
+ Biên chế nội bộ: là quá trình bố trí lại người lao động trong nội bộ
doanh nghiệp để nhằm đưa đứng người vào đúng việc. Biên chế nội bộ bao
- Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc
- Đào tạo theo kiểu học nghề
- Kèm cặp và chỉ bảo
- Luân chuyển và thuyên chuyển công việc
+ Đào tạo ngoài công việc: là phương pháp đào tạo mà người học được
tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế, bao gồm các phương pháp:
- Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp
- Cử đi học ở các trường chính quy
- Các bài giảng, các hội nghị hoặc các hội thảo
- Đào tạo theo kiểu chương trình hoá, với sự trợ giúp của máy tính
- Đào tạo theo phương thức từ xa
- Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm
- Mô hình hoá hành vi
- Đào tạo kỹ năng xử lý công văn, giấy tờ
1.5.3 Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực:
Nhóm chức năng này bao gồm 3 hoạt động sau:
1.5.3.1 Đánh giá thực hiện công việc
Đánh giá thực hiện công việc được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và
chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so
sánh với cáo tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với
người lao động. Đánh giá thực hiện công việc là một hoạt động quản lý nguồn
nhân lực quan trọng và luôn tồn tại trong tất cả các tổ chức. Để đánh giá thực
hiện công việc thì cần có một hệ thống đánh giá với các yếu tố cơ bản sau: các
25