CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 2 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thí
nhu cầu được nghỉ ngơi thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng cũng
ngày càng lớn. Nắm bắt được nhu cầu cấp thiết đó của người dân, nghành du
lịch thế giới đã không ngừng hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng. Ở nước ta, kinh doanh du lịch còn khá mới mẻ. Cùng với sự đổi mới
của đất nước vào cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, nghành du lịch có những
thành công đáng kể. Trong các văn kiện đại hội Đảng VI, VII, VIII đã khẳng
định vai trò của ngành du lịch là “ ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của đất nước”; Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ 9
đã xác định “phát triển du lịch thực sự trở thành nền kinh tế mũi nhọn”.
Việc Việt Nam gia nhập vào Tố chức thương mại thế giới – WTO đã
tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp bao gồm cả các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Môi trường cạnh tranh trở nên vô cùng gay
gắt, giá và chất lượng trở thành vũ khí để cạnh tranh có hiệu quả nhất. Đối với
các doanh nghiệp lữ hành thì hiện nay mức giá của các chương trình du lịch
của các công ty lữ hành gần như không chênh lệch nhau, vì vậy mà chất
lượng chính là vữ khí duy nhất để cạnh tranh. Chất lượng chương trình du lịch
chính là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh của doanh
nghiệp lữ hành.
Xác định được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng chương
trình du lịch nên trong thời gian thực tập tại Công ty cổ phần du lịch thanh
niên thành phố Hồ Chí Minh tôi đã tìm hiểu về các yếu tố làm ảnh hưởng đến
chất lượng chương trình du lịch của công ty và nhận thấy vấn đề nổi trội lên
nhất chính là do đội ngũ hướng dẫn viên. Việc thực hiện của hướng dẫn viên
ảnh hưởng đến gần 70% chất lượng của chương trình du lịch. Do khả năng
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 3 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
còn nhiều hạn chế nên tôi chỉ nghiên cứu về sự ảnh hưởng của công tác tổ
chức quản lý đối với hướng dẫn viên đến chất lượng chương trình du lịch.
1.1 Khái niệm về du lịch:
Hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển
rất nhanh nhưng đến nay khái niệm về du lịch vẫn chưa được thống nhất và
được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác
nhau. Khái niệm “du lịch” có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm
thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
Năm 1811 lần đầu tiên tại Anh có định nghĩa về du lịch và nó được
hiểu như sau: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành
của cuộc hành trình với mục đích giải trí”.
Năm 1930 ông Glusman người Thuỵ Sỹ đã định nghĩa rằng: “Du lịch là
sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ
không có chỗ cư trú thường xuyên. Ông Kuns người Thuỵ Sỹ lại cho rằng:
“Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi
đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch”. Giáo
sư tiến sỹ Hunziker và giáo sư tiến sỹ Krapf đã định nghĩa như sau: “Du lịch
là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình
và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không
thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”.
Trong từ điển bách khoa quốc tế về du lịch do Viện hàn lâm khoa học
quốc tế về du lịch xuất bản thì nói rằng: “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích
cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp
liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch … Du lịch là cuộc
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 5 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước
và một bên là những công cụ làm thoả mãn các nhu cầu của họ”. Theo trường
Đại học kinh tế Praha, cộng hoà Séc thì: “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ
thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc
lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại
trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ”. Theo trường
định”.
1.2 Khái niệm về chương trình du lịch:
1.2.1 Định nghĩa về chương trình du lịch:
Theo tác giả David Wright thì “chương trình du lịch là các dịch vụ
trong lộ trình du lịch. Thông thường bao gồm dịch vụ giao thông, nơi ăn ở, di
chuyển và tham quan ở một hoặc một số quốc gia, vùng lãnh thổ hay thành
phố. Sự phục vụ này phải được đăng ký đầy đủ hoặc ký hợp đồng trước với
một doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch phải thanh toán đầy đủ trước khi
các dịch vụ được thực hiện”.
Quy định về du lịch lữ hành trọn gói của liên minh Châu Âu và Hiệp
hội các hãng lữ hành Vương quốc Anh thì “Chương trình du lịch là sự kết hợp
được sắp xếp từ trước của ít nhất hai trong số các dịch vụ: nơi ăn ở, các dịch
vụ khác sinh ra từ dịch vụ giao thông hoặc nơi ăn ở và nó được bán với mức
giá gộp và thời gian của chương trình phải nhiều hơn 24 giờ”.
Theo Gagnon và Ociepka thì “ Chương trình du lịch là một sản phẩm
lữ hành được xác định mức giá trước, khách có thể mua riêng lẻ hoặc mua
theo nhóm và có thể tiêu dùng riêng lẻ hoặc tiêu dùng chung với nhau. Một
chương trình du lịch có thể bao gồm và theo các mức độ chất lượng khác
nhau của bất kỳ hoặc tất cả các dịch vụ vận chuyển, hàng không, đường bộ,
đường sắt, đường thuỷ, nơi ăn ở, tham quan và vui chơi giải trí”.
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 7 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
Còn theo Charles J.Wetelka thì “Chương trình du lịch là bất kỳ chuyến
đi chơi nào có sắp xếp trước (thường được trả tiền trước) đến một hoặc nhiều
địa điểm và trở về nơi xuất phát. Thông thường bao gồm sự đi lại, ở, ăn, ngắm
cảnh và những thành tố khác”.
Robert T. Reilly thì đưa ra hai định nghĩa về chương trình du lịch. Định
nghĩa thứ nhất nói rằng: “Chương trình du lịch là sự kết hợp của ít nhất hai
thành phần giao thông và nơi ăn ở mà nó bảo đảm cung cấp dịch vụ giao
thông mặt đất, dịch vụ khách sạn, bữa ăn và dịch vụ giải trí”. Còn trong định
- Tính dễ bị bắt chước và sao chép: vì việc kinh doanh chương trình
du lịch không đòi hỏi những kỹ thuật tinh vi, khoa học tiên tiến hiện đại,
lượng vốn đầu tư ban đầu thấp.
- Tính thời vụ cao và luôn biến động: vì trong dịch vụ du lịch thì thời
gian, không gian sản xuất và tiêu dùng luôn trùng nhau, mà sản xuất du lịch
phụ thuộc rất nhiều và rất nhạy cảm với những thay đổi của các yếu tố trong
môi trường vĩ mô.
- Tính khó bán: nguyên nhân là do các tính chất đã nói trên của
chương trình du lịch đồng thời còn do cảm nhận rủi ro của khách khi mua
chương trình du lịch.
1.2.3 Phân loại chương trình du lịch:
Việc phân loại các chương trình du lịch là công việc không thể thiếu
của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành bởi vì phân loại chương trình du
lịch sec giúp hoàn thiện nội dung chính sách sản phẩm của doanh nghiệp, lựa
chọn được các đoạn thị trường mục tiêu phù hợp, có các chính sách đầu tư
thích hợp cho từng loại chương trình, tạo ra được tíh hấp dẫn của sản phẩm lữ
hành ,…. Có nhiều tiêu thức để phân loại các chương trình du lịch:
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 9 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh:
+ Chương trình du lịch chủ động: là loại chương trình mà doanh nghiệp
lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình du lịch,
ấn định các ngày thực hiện, sau đó mới tổ chức bán và thực hiện các chương
trình.
+ Chương trình du lịch bị động: là loại chương trình mà khách tự tìm
đến với doanh nghiệp lữ hành, đề ra các yêu cầu và nguyện vọng của họ. Trên
cơ sở đó doanh nghiệp lữ hành xây dựng chương trình. Hai bên tiến hành thoả
thuận và thực hiện sau khi đã đạt được sự nhất trí của đôi bên.
+ Chương trình du lịch kết hợp: là sự kết hợp của hai loại trên, cụ thể là
doanh ngiệp lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng chương trình
sân bay đến khách sạn và ngược lại.
- Không đi theo đoàn có tổ chức, không có hướng dẫn
+ Chương trình du lịch tham quan:
- Phục vụ cho một chuyến tham quan ngắn ở một điểm hay khu du lịch
nào đó
- Độ dài của chương trình có thể là từ vài giờ đến vài ngày trong phạm
vi hẹp.
- Giá của chương trình là giá trọn gói của các dịch vụ phục vụ cho quá
trình tham quan
- Chương trình có thể được bán tách rời và có thể bán kèm theo với các
sản phẩm của hãng vận chuyển hoặc là các cơ sỏ kinh doanh lưu trú.
+ Chương trình du lịch chỉ có hướng dẫn viên tại các điểm đến
Căn cứ vào mức giá:
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 11 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
+ Chương trình du lịch theo mức giá trọn gói: bao gồm hầu hết các
dịch vụ, hàng hoá phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch và
giá của chương trình là giá trọn gói.
+ Chương trình du lịch theo mức giá tuỳ chọn: Khách có thể tuỳ ý lựa
chọn các cấp độ chất lượng phục vụ khác nhau với các mức giá khác nhau.
+ Chương trình du lịch theo mức giá cơ bản: chỉ bao gồm một số dịch
vụ chủ yếu của chương trình du lịch với nộ dung đơn giản.
Căn cứ vào mục đích chuyến đi và loại hình du lịch:
+ Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh
+ Chương trình du lịch theo chuyên đề
+ Chương trình du lịch công vụ MICE
+ Chương trình du lịch tàu thuỷ
+ Chương trình du lịch tôn giáo, tín ngưỡng
+ Chương trình du lịch sinh thái
+ Chương trình du lịch thể thao, khám phá và mạo hiểm
Khi S = 0: chương trình đạt chất lượng
Khi S < 0: chương trình không đạt chất lượng tức là chất lượng chương
trình kém, không chấp nhận được.
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chương trình du lịch:
Các yếu tố bên trong:
Nhóm các yếu tố bên trong bao gồm: đội ngũ nhân viên thực hiện, các
trang thiết bị phục vụ kinh doanh, quy trình công nghệ, phương thức quản lý,
cán bộ quản lý, …Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng chương
trình du lịch , đặc biệt là yếu tố quản lý ảnh hưởng đến gần 85% chất lượng
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 13 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
chương trình tuy nhiên các nhân viên và đặc biệt là hướng dẫn viên cũng có
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của chương trình du lịch.
Để cải tiến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành thì cần phải
thu hẹp những sai số từ khi hình thành sản phẩm cho đến khi khách du lịch
kết thúc chuyến đi. Những khoảng cách, sai số này bao gồm:
- Sai số giữa sự trông đợi và kỳ vọng của khách với sản phẩm được
thiết kế
- Sai số xuất phát từ sự hiểu biết về sản phẩm của đội ngũ nhân viên
- Sai số trong hoạt động quản lý, điều hành
- Sai số do nhận thức của các thành phần về sản phẩm thiết kế
- Sai số tương ứng trong quá trình thực hiện
- Sai số do các yếu tố ngoại cảnh: tự nhiên, xã hội
Các yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài bao gồm: Khách du lịch, các nhà cung cấp, các
đại lý du lịch và môi trường tự nhiên xã hội.
1.4 Khái niệm về hướng dẫn viên du lịch:
1.4.1 Định nghĩa về hướng dẫn viên du lịch:
Định nghĩa của trường đại học British Columbia (Canada):
“Hướng dẫn viên du lịch là các cá nhân làm việc trên các tuyến du lịch,
phục vụ cả trong thời gian khách lưu trú tại khách sạn khi khách có yêu cầu.
Ngoài ra do tính chất thời vụ của một số loại hình du lịch mà thời gian làm
việc của hướng dẫn viên phân bố không đều.
+ Khối lượng công việc: khối lượng công việc của hướng dẫn viên
thường lớn và phức tạp, tuỳ theo nội dung và tính chất của chương trình du
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 15 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
lịch mà có nhiều loại công việc khác nhau. Hướng dẫn viên phải là người có
thể làm thành thạo nhiều công việc khác nhau.
+ Cường độ lao động: khá cao và căng thẳng. Với khối lượng công việc
lớn và thời gian không định mức nên trong suốt quá trình thực hiện chương
trình hướng dẫn viên phải luôn ở trong trạng thái sẵn sàng phục vụ.
+ Tính chất công việc: hướng dẫn viên phải thường xuyên tiếp xúc trực
tiếp với nhiều loại khách khác nhau, tiếp xúc và phối hợp với nhiều đối tượng
của các cơ sở phục vụ, thường xuyên phải xa nhà, công việc mang tính đơn
điệu đặc biệt là đối với hướng dẫn viên chuyên tuyến, …
1.4.4 Một số yêu cầu đối với hướng dẫn viên:
+ Phẩm chất chính trị: phải nắm được đường lối chủ trương của Đảng,
Nhà nước, Hiến pháp và pháp luật và phải biết cách bảo vệ, tuyên truyền cho
khách du lịch hiểu.
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: để đánh giá trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của một hướng dẫn viên thì thường căn cứ vào các tiêu thức sau:
kiến thức về khoa học cần thiết, phương pháp và nghệ thuật hướng dẫn, trình
độ ngôn ngữ.
+ Đạo đức nghề nghiệp: cũng như các nghề khác đòi hỏi phải có lòng
yêu nghề thì mới có thể có nhiệt huyết và truyền đạt được cảm xúc cho khách
du lịch. Ngoài ra do tính chất phức tạp nhưng tế nhị của công việc nên đòi hỏi
hướng dẫn viên phải kiên nhẫn, tận tụy, trung thực
+ Sức khoẻ: là yếu tố đòi hỏi hàng đầu đối với hướng dẫn viên vì
hướng dẫn viên phải phục vụ khách du lịch trong suốt cuộc hành trình, gánh
Không một hoạt động nào của tổ chức có thể hoạt động có hiệu quả nếu
thiếu công tác quản tổ chức và quản lý lao động, nó là bộ phận cấu thành và
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 17 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
không thể thiếu của quản trị kinh doanh và nó chính là yếu tố quyết định đến
sự thành công hay thất bại trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ
chức. Vai trò của công tác tổ chức và quản lý hướng dẫn viên càng được thể
hiện rõ hơn trong thời đại ngày nay khi mà sự cạnh tranh trên thị trường ngày
càng gay gắt, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển của nền
kinh tế buộc các nhà quản trị phải biết thích ứng, vì vậy việc tìm đúng người,
giao đúng việc, đúng vị trí là vấn đề phải được quan tâm hàng đầu. Có thể
phân chia các hoạt động chủ yếu của công tác tổ chức và quản lý hướng dẫn
viên theo 3 nhóm chức năng chủ yếu sau:
1.5.1 Nhóm chức năng thu hút ( hình thành) nguồn nhân lực:
Trong nhóm chức năng này thì công tác tổ chức và quản lý hướng dẫn
viên bao gồm các hoạt động đảm bảo cho tổ chức có đủ nhân viên về số lượng
cũng như chất lượng, tổ chức phải tiến hành kế hoạch hoá nguồn nhân lực;
phân tích và thiết kế công việc; biên chế nhân lực và thôi việc; tuyển mộ,
tuyển chọn.
1.5.1.1 Lập kế hoạch nguồn nhân lực:
Lập kế hoạch nguồn nhân lực là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu
về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của tổ chức và xây dựng
các kế hoạch để đáp ứng nhu cầu đó. Lập kế hoạch nguồn nhân lực chính là
cơ sở cho các hoạt động biên chế nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực; nó giữ vai trò trung tâm trong quản lý chiến lược nguồn nhân lực vì
vậy ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của tổ chức.
Việc lập kế hoạch nguồn nhân lực gồm: việc ước tính các nhu cầu về
nhân lực của các tổ chức trong bộ máy doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch, ước
tính có bao nhiêu người sẽ làm việc cho tổ chức từ đó triển khai các biện pháp
để cân đối cung cầu nhân lực của tổ chức trong kỳ kế hoạch. Quá trình lập kế
động bên ngoài
Cầu lao động Cung lao động
Những điều kiện và các giải pháp lựa chọn
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 19 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
hướng dẫn viên trong tổ chức; kế hoạch hoá kế cận và phát triển quản lý;
tuyển mộ hướng dẫn viên mới từ ngoài tổ chức; ký hợp đồng phụ với các
công ty khác để tăng thêm gia công sản phẩm; ...
- Cung nhân lực lớn hơn cầu nhân lực (thừc lao động): trong trường
hợp này doanh nghiệp nên thực hiện các biện pháp để giảm biên chế nhân lực
như: thuyên chuyển nhân lực đến bộ phận đang thiếu; giảm giờ lao động; chia
sẻ công việc; nghỉ luân phiên, nghỉ không lương tạm thời; cho các tổ chức
khác thuê nhân lực; …
- Cung nhân lực bằng cầu nhân lực (cân đối): đối với trường hợp này
thì doanh nghiệp nên áp dụng các biện pháp như: bố trí sắp xếp lại nhân lực
trong nội bộ tổ chức; thực hiện kế hoạch hoá kế cận; đề bạt thăng chức cho
nhân viên; tuyển mộ từ bên ngoài để thay thế cho những nhân viên về hưu,
chuyển công tác, …
Bước 3: Thực hiện kế hoạch:
Sau khi đề ra các chính sách và kế hoạch thì doanh nghiệp cần tính toán
về khả năng tài chính cũng như các mặt khác để chọn ra biện pháp thích hợp
nhất để thực hiện
Bước 4: Kiểm tra và đánh giá
Đây là khâu không thể thiếu trong quản trị nhân lực, việc kiểm tra đánh
giá nhằm xem có phù hợp với mục tiêu kế hoạch đề ra hay không để có những
điều chỉnh kịp thời.
1.5.1.2 Phân tích và thiết kế công việc:
Phân tích công việc: là quá trình thu thập các tư liệu và đánh giá một
cách có hệ thống các thông tin quan trọng có liên quan đến các công việc cụ
thể trong tổ chức nhằm làm rõ bản chất của từng công việc. Nguyên tắc của
việc phân tích công việc phải tính đến sự chênh lệch của 5 thành phần sau: kỳ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 21 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
Các thông tin thu thập được được xử lý tuỳ theo mục đích của việc
phân tích công việc, tuy nhiên chúng thường được trình bày dưới dạng bản
mô tả công việc, bản yêu cầu của công việc đối với người thực hiện và bản
tiêu chuẩn thực hiện công việc
+) Bản mô tả công việc: là một văn bản viết giải thích về những nhiệm
vụ, trách nhiệm, điều kiện làm việc và những vấn đề có liên quan đến một
công việc cụ thể. Nó thường gốm 3 nội dung:
- Phần xác định công việc: chức danh công việc, mã số công việc, bộ
phận, mức lương, người lãnh đạo trực tiếp, …
- Phần tóm tắt về các nhiệm vụ và trách nhiệm thuộc công việc: phần
này bao gồm các câu mô tả chính xác, nêu rõ người lao động phải làm gì, thực
hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm như thế nào, tại sao phải thực hiện nhiệm
vụ đó
- Các điều kiện làm việc: điều kiện về môi trường vật chất, thời gian
làm việc, điều kiện về vệ sinh, an toàn lao động, các phương tiện đi lại để
phục vụ công việc và các điều kiện khác có liên quan.
+) Bản yêu cầu của công việc với người thực hiện: là bản liệt kê các
đòi hỏi của công việc đối với người thực hiện về các kiến thức, kỹ năng, kinh
nghiệm cần phải có; trình độ giáo dục và đào tạo cần thiết; các đặc trưng về
tinh thần và thể lực và các yêu cầu cụ thể khác.
+) Bản tiêu chuẩn thực hiện công việc: là các thước đo dựa trên cơ sở
những kỳ vọng về kết quả thực hiện một công việc cụ thể. Kết quả công việc
được đánh giá ở ba khía cạnh: chất lượng, số lượng hoặc năng suất lao động,
thời hạn. Tiêu chuẩn thực hiện công việc bao gồm các yêu cầu, định mức đối
với từng công việc được thực hiện
Thiết kế công việc: là quá trình xác định các nhiệm vụ, các trách
nhiệm cụ thể được thực hiện bởi từng hướng dẫn trong tổ chức cũng như các
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 22 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
- Luân chuyển công việc: là phương pháp mà người lao động thực hiện
một số công việc khác nhau nhưng tương tự như nhau.
- Làm giàu công việc: là phương pháp thiết kế công việc dựa trên sự
làm giàu thêm nội dung công việc bằng cách tăng thêm các yếu tố hấp dẫn và
thoã mãn bên trong công việc.
1.5.1.3 Tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực:
Tuyển mộ nhân lực:
Tuyển mộ nhân lực là quá trình thu hút những người xin việc từ lực
lượng lao động bên ngoài và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Công tác
tuyển mộ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hướng dẫn viên trong tổ chức.
Khi có nhu cầu tổ chức có thể tuyển mộ từ lực lượng lao động ở bên ngoài
cũng như bên trong tổ chức.
+ Đối với nguồn tuyển mộ từ bên trong tổ chức thì có thể sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp thu hút thông qua bản thông báo tuyển mộ
- Phương pháp thu hút thông qua sự giới thiệu của cán bộ, công nhân
viên trong tổ chức.
- Phương pháp thu hút căn cứ vào các thông tin trong danh mục các kỹ
năng của nhân viên mà doanh nghiệp lưu trữ trong phần mềm nhân sự của các
tổ chức.
+ Đối với nguồn tuyển mộ từ bên ngoài thì có thể áp dụng các phương
pháp sau:
- Phương pháp thu hút thông qua sự giới thiệu của cán bộ, công nhân
viên trong tổ chức.
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 24 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
- Phương pháp thu hút nguồn tuyển mộ qua quảng cáo trên các phương
tiện truyền thông
- Phương pháp thu hút thông qua các trung tâm môi giới và giới thiệu
việc làm
- Tiền thưởng, các phúc lợi và dịch vụ
- Các nội quy, quy định về kỷ luật lao động, an toàn lao động
- Các phương tiện phục vụ sinh hoạt, thông tin và y tế
- Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
- Mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, các sản phẩm và dịch vụ của
doanh nghiệp, quá trình sản xuất các sản phẩm và dịch vụ đó.
- Lịch sử và truyền thống của doanh nghiệp
- Các giá trị cơ bản của doanh nghiệp
+ Biên chế nội bộ: là quá trình bố trí lại hướng dẫn viên trong nội bộ
doanh nghiệp để nhằm đưa đứng người vào đúng việc. Biên chế nội bộ bao
gồm:
- Thuyên chuyển: là việc chuyển hướng dẫn viên từ công việc (địa
điểm) này sang công việc (địa điểm) khác
- Đề bạt: là việc đưa hướng dẫn viên vào một vị trí việc làm có tiền
lương cao hơn, có uy tín và trách nhiệm lớn hơn, có các điều kiện làm việc tốt
hơn và các cơ hội phát triển nhiều hơn.
- Xuống chức: là việc đưa hướng dẫn viên đến một vị trí việc làm có
cương vị và tiền lương thấp hơn, có các trách nhiệm và cơ hội ít hơn.
Thôi việc:
Thôi việc là một quyết định chấm dứt quan hệ lao động giữa cá nhân
hướng dẫn viên và tổ chức. Thường có bốn dạng thôi việc sau:
PHAN NGUYỄN MINH HẰNG LỚP: DU LỊCH 45B
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 26 KHOA DU LỊCH & KHÁCH SẠN
- Giãn thợ: là sự chấm dứt quan hệ lao động giữa hướng dẫn viên và
doanh nghiệp do lý do sản xuất kinh doanh như: giảm quy mô sản xuất, thừa
biên chế do sáp nhập, tổ chức lại sản xuất, do tính chất của sản xuất.
- Sa thải: hướng dẫn viên bị đuổi việc vì lý do kỷ luật lao động hoặc vì
lý do sức khoẻ mà pháp luật không cho phép làm việc tiếp.
- Tự thôi việc: là dạng thôi việc do nguyên nhân từ phía hướng dẫn
viên