Tiểu luận môn công nghệ tri thức Xây dựng hệ chuyên gia chẩn đoán, phát hiện lỗi, hỏng hóc, sự cố cho máy vi tính - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TIỂU LUẬN MÔN
Đề tài:
Knowledge
Xây dựng hệ chuyên gia chẩn đoán,
phát hiện lỗi, hỏng hóc, sự cố cho máy vi tính
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Phan Huy Khánh
Học viên thực hiện :
Võ Phi Thanh
Nguyễn Trần Sỹ
Hoàng Công Tiến
Nguyễn Thị Hà Phương
Lớp : Cao học KHMT – K24 (QB)
Quảng Bình, tháng 12 năm 2012
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
Công nghệ tri thức là một bộ môn của tin học có tính chất công nghệ, trong đó đối tượng
thông tin được xử lí là các tri thức trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó và quá trình xử lí
bằng máy tính nhằm giải quyết những bài toán phức tạp thông thường đòi hỏi một trình độ
cao về trí tuệ chuyên gia trong lĩnh vực bằng các công cụ toán học; phát triển các phương
pháp lựa chọn và thu thập tri thức, các cơ chế lập luận trên các thông tin tri thức và việc thực
hiện các phương pháp đó trên máy tính 3
Vận dụng những kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập, tìm hiểu và nghiên cứu về
môn Công nghệ tri thức, được sự phân công và hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS. Phan Huy
Khánh, chúng em đã chọn một phần nội dung kiến thức để đi sâu nghiên cứu và làm đề tài
tiểu luận cho môn học 3
Nội dung của tiểu luận được chia làm 2 phần như sau: 3

Công nghệ tri thức là một bộ môn của tin học có tính chất công nghệ, trong đó
đối tượng thông tin được xử lí là các tri thức trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó và
quá trình xử lí bằng máy tính nhằm giải quyết những bài toán phức tạp thông thường
đòi hỏi một trình độ cao về trí tuệ chuyên gia trong lĩnh vực bằng các công cụ toán
học; phát triển các phương pháp lựa chọn và thu thập tri thức, các cơ chế lập luận trên
các thông tin tri thức và việc thực hiện các phương pháp đó trên máy tính.
Vận dụng những kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập, tìm hiểu và
nghiên cứu về môn Công nghệ tri thức, được sự phân công và hướng dẫn của thầy giáo
PGS.TS. Phan Huy Khánh, chúng em đã chọn một phần nội dung kiến thức để đi sâu
nghiên cứu và làm đề tài tiểu luận cho môn học.
Nội dung của tiểu luận được chia làm 2 phần như sau:
Phần I. Lý thuyết:
Phần II. Bài tập: Xây dựng hệ chuyên gia chẩn đoán, phát hiện lỗi, hỏng hóc, sự
cố cho máy vi tính.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 3
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

PHẦN I. LÝ THUYẾT
Câu 1. />I.1. Tri thức (Knowledge)
Tri thức được định nghĩa trong từ điển Oxford là:
(i) Sự tinh thông và các kỹ năng mà con người thu được thông qua kinh nghiệm
hoặc giáo dục; sự hiểu biết lý thuyết hoặc thực tiễn của một vấn đề.
(ii) Những gì được biết đến trong một lĩnh vực cụ thể hoặc trong tổng thể; các sự
kiện và thông tin.
(iii) Nhận thức hoặc sự hiểu biết thu được bằng kinh nghiệm của một sự kiện hay
tình huống. Những cuộc tranh luận triết học rỗng rãi bắt đầu với Plato công thức của
tri thức là “justified true belief”.
Tuy nhiên, không có định nghĩa duy nhất về tri thức hiện nay, và viễn cảnh
cũng không phải một, mà ở đó có rất nhiều lý thuyết cạnh tranh. Sự thu nhận tri thức
bao gồm quá trình nhận thức phức tạp: nhận thức, học tập, giao tiếp, hội họp và lý

Ngược lại với cách tiếp cận này, Wittgenstein theo dõi các nghịch
lý Moore , Mà ta có thể nói "Ông tin rằng nó, nhưng nó không phải là như vậy", nhưng
không phải "Anh ta biết nó, nhưng nó không phải là như vậy". Ông đi vào để lập luận
rằng đây không tương ứng với các trạng thái khác biệt về tinh thần, mà đúng hơn là
những cách nói khác về niềm tin. Điều gì là khác nhau ở đây, không phải là trạng thái
tinh thần của người nói, nhưng hoạt động này họ được tham gia. Ví dụ, vì để biết rằng
ấm đun nước là sôi không phải là để được ở trong trạng thái đặc biệt của tâm, nhưng
để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể với các phát biểu rằng ấm đun nước được đun sôi.
Wittgenstein đã tìm cách để vượt qua những khó khăn của các định nghĩa bằng cách
tìm đến một cách là "tri thức" được sử dụng trong ngôn ngữ tự nhiên. Ông thấy tri thức
như là một trường hợp một gia đình giống. Sau ý tưởng này, "tri thức " đã được tái tạo
như là một khái niệm cụm(cluster) chỉ ra rằng các tính năng có liên quan, nhưng đó
không phải là mô tả đầy đủ bởi bất kì định nghĩa nào.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 5
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

Tri thức hay kiến thức có nhiều ý nghĩa tùy theo văn cảnh, nhưng lúc nào
cũng có liên quan với những khái niệm như hiểu biết, ý nghĩa, thông tin, giảng dạy,
giáo dục, giao tiếp, diễn tả, học hỏi và kích thích trí óc. Môn học về tri thức được gọi
nhận thức luận. Trong nhận thức luận, một định nghĩa phổ biến của tri thức là nó bao
gồm ba tiêu chí khả tín, xác thực, và chứng minh được.
Tri thức là:
• Các thông tin, các tài liệu, các cơ sở lý luận, các kỹ năng khác nhau, đạt được
bởi một tổ chức hay một cá nhân thông qua các trải nghiệm thực tế hay thông
qua sự giáo dục đào tạo; các hiểu biết về lý thuyết hay thực tế về một đối tượng,
một vấn đề, có thể lý giải được về nó;
• Là những gì đã biết, đã được hiểu biết trong một lĩnh vực cụ thể hay toàn bộ,
trong tổng thể;
• Các cơ sở, các thông tin, tài liệu, các hiểu biết hoặc những thứ tương tự có được
bằng kinh nghiệm thực tế hoặc do những tình huống, hoàn cảnh cụ thể. Những

quan trọng nhất cho việc chuyển tải các kiến thức là bằng văn bản (trong nhiều loại),
lý lẽ trên tính hữu dụng của từ văn bản tồn tại tuy nhiên, với một số học giả hoài nghi
về tác động của nó trên xã hội. Trong bộ sưu tập các bài luận của mình Technopoly
Neil Postman minh chứng cho luận cứ chống lại việc sử dụng các văn bản thông qua
một đoạn trích từ tác phẩm của Plato Phaedrus (Postman, Neil (1992) Technopoly,
Vintage, New York, trang 73). Trong đoạn trích này học giả Socrates kể lại câu
chuyện của Thamus, vị vua Ai Cập và Theuth người phát minh ra chữ viết. Trong câu
chuyện này, Theuth trình bày phát minh mới của mình "viết" để vua Thamus, nói với
Thamus rằng phát minh mới của mình "sẽ cải thiện cả trí tuệ và bộ nhớ của người Ai
Cập" (Postman, Neil (1992) Technopoly, Vintage, New York, trang 74 ). Vua Thamus
hoài nghi về phát minh mới này và bác bỏ nó như một công cụ của hồi ức hơn là kiến
thức được giữ lại. Ông lập luận rằng chữ viết sẽ lây nhiễm sang người Ai Cập với
những kiến thức giả, vì họ sẽ có thể đạt được sự thật và những câu chuyện từ một
nguồn bên ngoài và sẽ không còn bị buộc phải giữ lại một lượng lớn tinh thần của kiến
thức bản thân (Postman, Neil (1992) Technopoly, Vintage, New York, trang 74).
Andrew Robinson cũng nhấn mạnh, trong công việc của mình “Các Nguồn gốc
của Viết”, khả năng cho các văn bản sẽ được sử dụng để truyền bá thông tin sai lệch
và có cho khả năng của từ bằng văn bản để giảm kiến thức xã hội (Robinson, Andrew
(2003) The Origins of Writing in Crowley and Heyer (eds) Communication in History:
Technology, Culture, Society, Boston pp 34). Con người thường chủ quan hóa thông
tin mới mà họ nhận thức thành kiến thức, nhưng trên thực tế đã in vào tâm trí của họ
với những kiến thức sai lầm.
Dựa vào sự phân loại tri thức, có thể chia các hình thức chia sẻ tri thức thành bốn dạng
chính:
• Ẩn - Ẩn: Khi người chia sẻ và người tiếp nhận giao tiếp trực tiếp với nhau (ví
dụ: học nghề, giao tiêp, giảng bài ) thì việc tiếp nhận này là từ tri thức ẩn
thành tri thức ẩn. Tri thức từ người này không qua trung gian mà chuyển ngay
thành tri thức của người kia.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 7
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

bằng cách tận dụng sự hiểu biết một phần của bối cảnh vấn đề và dữ liệu của vấn đề.
Điều đó là rất khác nhau từ các phép toán đơn giản thông thường có thể giải quyết một
vấn đề ở trường, nơi mà tất cả dữ liệu được cho và có sự hiểu biết hoàn hảo của công
thức cần thiết để giải quyết chúng. Ý tưởng này cũng có mặt trong các khái niệm
“phạm vi hợp li” mà giả rằng trong thực tế đời sống người dân các tình huống thường
có một số tiền giới hạn của thông tin và đưa ra quyết định phù hợp.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 8
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

I.5. Kiến thức khoa học
Sự phát triển của các phương pháp khoa học đã góp phần đáng kể cho sự hiểu
biết của chúng ta về kiến thức. Để được gọi là khoa học, một phương pháp của thẩm
vấn phải dựa trên tập hợp quan sát, thực nghiệm và đo bằng chứng tuân theo các
nguyên tắc cụ thể của lý luận.
[5]
Các phương pháp khoa học bao gồm các bộ sưu tập
của dữ liệu qua quan sát và thử nghiệm, và công tác xây dựng, thử nghiệm giả thuyết.
Khoa học, và tính chất của kiến thức khoa học cũng đã trở thành chủ đề của Triết học.
Như khoa học tự nó đã phát triển, những kiến thức đã phát triển một cách sử dụng
rộng hơn đã được phát triển trong sinh học / tâm lý-thảo luận ở nơi khác như meta-
epistemology, Hoặc di truyền epistemology, Và đến một mức độ nào liên quan tới "Lý
thuyết phát triển nhận thức".
Sir Francis Bacon, "Knowledge is Power"
Lưu ý rằng "epistemology" là nghiên cứu các kiến thức và cách nó được thu
được. Khoa học là" quá trình sử dụng hàng ngày để hoàn thành những suy nghĩ logic
thông qua các suy luận của sự kiện được xác định bởi các thí nghiệm tính toán. Sir
Francis Bacon, quan trọng trong lịch sử phát triển của các phương pháp khoa học, tác
phẩm của ông thành lập và phổ biến rộng rãi một phương pháp quy nạp cho yêu cầu
thông tin khoa học. Tác phẩm nổi tiếng của ông, "Kiến thức là sức mạnh", được tìm
thấy trong Meditations Sacrae (1597).

tất cả" (al-ʿ Alim) Là một trong những 99 tên phản ánh các thuộc tính khác biệt của
Tốt. Qur'an khẳng định rằng kiến thức đến từ Chúa (2:239) Và hadith khác nhau
khuyến khích việc thu được kiến thức. Muhammad được báo cáo đã cho biết: "Tìm
kiến thức từ cái nôi đến cái mộ" và "Hóa ra người đàn ông của kiến thức là những
người kế thừa của các tiên tri". Học giả Hồi giáo, nhà thần học và luật gia thường được
cho tiêu đề học giả, Nghĩa là "knowledgable"(có kiến thức)
Hindu Thánh hiện nay hai loại kiến thức, Paroksha Gnyana và Aporoksha Gnyana.
Paroksha Gnyana (cũng đánh vần Paroksha-Jnana) Là kiến thức cũ: kiến thức thu
được từ sách vở, tin giả, vv Aporoksha Gnyana (cũng đánh vần Aparoksha-Jnana) Là
những kiến thức kinh nghiệm trực tiếp, nghĩa là, kiến thức mà một trong những phát
hiện ra cho mình.
Cây Cựu Ước của các kiến thức về cái tốt và cái xấu chứa đựng những kiến thức
mà tách người đàn ông từ Chúa: "Và Chúa LORD nói ,Behold, con người trở thành
như là một trong chúng ta, để biết cái tốt và cái xấu " (Genesis 3:22)
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 10
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

Trong Gnosticism thần thánh kiến thức hoặc Gnosis được hy vọng sẽ đạt được và
thoát ra từ thế giới vật lý của demiurge. Và trong kiến thức Thelema và giao tiếp với
một thiên thần của Chúa là mục đích của cuộc sống, là tương tự như Gnosis hoặc giác
ngộ trong các tôn giáo bí ẩn khác.
I.6. Quản trị tri thức
Có nhiều cách hiểu về quản trị tri thức, dưới đây là một số định nghĩa đã được
đưa ra:
1. Quản trị tri thức là tạo ra tri thức, và việc này được nối tiếp với việc thể hiện
kiến thức, truyền bá và sử dụng kiến thức, và sự duy trì (lưu giữ, bảo tồn) và cải
biên kiến thức
[1]
.
2. Quản trị tri thức là quá trình của việc quản lý một cách cẩn trọng tri thức để đáp


chính dẫn tới việc xây dựng quản trị tri thức. Bên cạnh đó, nhu cầu tăng khả năng xử
lý của nhân viên trong các tình huống phức tạp và lưu giữ những tri thức khi các nhóm
làm việc tan rã hay tái lập cũng khiến việc xây dựng hệ thống QTTT trở nên cần thiết.
Thứ nhất, nhu cầu về việc đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ và sáng tạo trong các
nhóm hoạt động ngày càng lớn hơn. Lí do là vì các công ty đang có xu hướng kết hợp
với nhau để tăng khả năng cạnh tranh. Do đó, nhân viên trong các công ty khác nhau
thường xuyên phải làm việc với nhau. Hơn nữa, để phát triển một sản phẩm đòi hỏi
phải có sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau (thiết kế, kĩ thuật, marketing, v.v.).
Nói cách khác, thành viên của một nhóm làm việc phải từ các bộ phận khác nhau, mà
họ thường chỉ biết rõ về lĩnh vực chuyên môn của mình mà thiếu những hiểu biết cần
thiết về các lĩnh vực khác. Sự khác biệt về văn hóa cũng có thể gây khó khăn trong quá
trình làm việc nhóm. Vì vậy, việc tăng khả năng và hiệu quả làm việc nhóm, mà điển
hình là việc chia sẻ và trao đổi, của các thành viên trong nhóm là vô cùng cần thiết.
Quản trị tri thức có thể trở thành lời giải tối ưu cho bài toán này, bởi vì nó thúc đẩy
thảo luận và chia sẻ tri thức trong nhóm và tổ chức.
Lí do thứ hai là về việc các nhóm làm việc được thành lập và giải tán . Hiện
nay, các nhóm làm việc thường được thành lập để giải quyết những vấn đề, những dự
án trong thời gian ngắn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm này thường được giải
tán, thành viên trở về với công việc thường ngày hoặc tham gia các nhóm làm việc
khác, nơi mà khả năng chuyên môn của họ có giá trị hơn là tri thức thu được ở các lĩnh
vực khác trong dự án. Điều quan trọng là, những tri thức đó lại không được lưu trữ lại,
trở thành “tài sản cá nhân” của nhân viên. Khi nhân viên đó ra đi, tri thức của công ty
cũng mất đi theo. Quản trị tri thức có thể giúp công ty giải quyết vấn đề này một cách
hiệu quả, bởi vì trong đó có quá trình “nắm bắt” các tri thức ẩn – qua các quá trình trao
đổi trực tiếp và việc lưu trữ tri thức ẩn dưới dạng hiện.
Ngoài ra, trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện nay, đòi hỏi về kĩ năng
và khả năng ra quyết định của nhân viên ngày càng cao hơn. Ngày nay, thời gian chính
là yếu tố cạnh tranh quyết định giữa mọi công ty. Bạn có thể phải đối mặt với những
thay đổi, những sáng tạo bất ngờ từ phía đối thủ, sự chuyển dịch mạnh mẽ của thị

của bạn tạo ra lợi thế về thời gian giữ cho sự cạnh tranh được liên tục, tạo ra giá trị
kinh tế và giá trị thị trường không thể chối cãi được.
I.7.3. Công nghệ và nhu cầu về một hệ thống quản trị tri thức
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã thay đổi hoàn toàn công
việc. Hiện nay chúng ta có thể thu thập và lưu trữ một khối lượng lớn thông tin dễ
dàng, truyền tải chúng một cách nhanh chóng. Các công việc được hoàn thành dựa vào
công nghệ, đặc biệt là máy tính, ngày càng nhiều. Sự quan trọng của công nghệ là
không thể phủ nhận. Nhưng, công nghệ không tạo ra yếu tố cạnh tranh cho công ty của
bạn. Bạn vừa sở hữu một công nghệ hoàn toàn mới, giúp công ty bạn vượt lên trên đối
thủ của mình. Nhưng, thời gian sau đó, khi mà đối thủ tạo ra công cụ tương tự, hoặc
cũng mua công nghệ đó, thì yếu tố cạnh tranh của bạn sẽ bị mất đi. Trong thời đại
công nghệ hiện nay thời gian cho một cuộc chạy đua công nghệ như vậy ngày càng
ngắn dần, do vậy, chúng ta không thể coi công nghệ như yếu tố cạnh tranh lâu dài.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 13
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

Trong khi đó, công nghệ với hai lợi ích chính là lưu trữ và truyền tải thông tin
lại cho phép ta xây dựng một hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin hiệu quả. Công
nghệ trở thành một nhân tố giúp lưu trữ, phân phối và trao đổi tri thức hữu hiệu. Bằng
cách kết hợp công nghệ với quản trị tri thức một cách hiệu quả, công ty có thể tạo ra
các yếu tố cạnh tranh mới, nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dài của mình.
Bên cạnh đó, nhờ có công nghệ phát triển mà các công việc, các quy trình được
hoàn thành nhanh chóng và hiệu quả hơn. Vòng đời của sản phẩm, từ lúc được nghiên
cứu, sản xuất, tới khi bán ra và các dịch vụ hậu mãi cũng do đó ngắn lại. Các sản phẩm
cũng liên tục được nâng cấp và cải tiến, thị trường liên tục thay đổi. Do vậy, thời gian
cho ra sản phẩm trở thành một yếu tố sống còn đối với công ty, các quyết định ngày
càng phải được đưa ra nhanh chóng và chính xác hơn. Vậy yếu tố nào khiến cho công
ty làm được điều này? Công nghệ có thể giúp chúng ta thu thập, lưu trữ, truyền tải
thông tin một cách vô cùng hiệu quả, nhưng để biến thông tin thành tri thức, thành
quyết định, thì lại cần đến con người và kiến thức, kinh nghiệm của họ.

trước cả bạn và tôi không ai có thể nghĩ Ấn Độ lại có thể trở thành sân sau của Mĩ với
hàng loạt các “call center” nằm rải rác khắp đất nước, cung cấp dịch vụ cho khách
hàng trên toàn thế giới, đặc biệt là các khách hàng từ Châu Âu và Mĩ. Ngày nay,
Microsoft không nhất thiết phải dộng tay vào tất cả các giai đoạn tạo ra một phần
mềm. Họ có thể chuyển phần việc gia công “ ít chất xám” sang các nước khác với mức
lương chỉ bằng ½ mức phải trả cho một lập trình viên tại Redmond. Cũng lúc đó, để
sản xuất ra một chiếc máy tính xách tay, Dell có một tập hợp hơn 40 nhà cung cấp – là
những công ty, xưởng, nhà máy trên toàn thế giới chuyên sản xuất linh kiện lắp ráp.
Toàn cầu hoá jnhững công thức bí truyền, chiến lược kinh doanh, các thiết kế Đó là
lý do vì sao chúng ta cần quản trị tri thức.
Bên cạnh toàn cầu hóa, cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn khi các nước đang
dần dần dỡ bỏ các qui định, để thị trường tự điều chỉnh theo những qui luật vốn có của
nó. Giả sử, bạn đang có lợi thế về giá so với đối thủ cạnh tranh bởi vì nhà cung cấp của
bạn ở Hàn Quốc và chính phủ Hàn Quốc thì đã dỡ bỏ các hàng rào qui định khiến đầu
vào của bạn rẻ hơn. Trong khi đó, tại Ấn Độ - nơi các hàng rào thuế quan vẫn còn tồn
tại, đối thủ của bạn đang phảichật vật mua đầu vào với mức giá cao hơn. Đột nhiên,
Ấn Độ quyết định dỡ bỏ tất cả các hàng rào thuế quan. Chuyển gì xảy ra tiếp? Cả bạn
và đối thủ cạnh tranh giờ đều xuất phát từ cùng một điểm. Bạn mất đi mất lơi thế cạnh
tranh. Thứ duy nhất bạn có thể làm là cắt giảm chi phí. Bạn bắt đầu loay hoay với việc
cắt giảm biên chế, xa thải chỗ này một ít, đuổi việc chỗ kia một chút. Bạn quên mất
một điều rằng khi bạn đẩy một ai đó ra khỏi công ty bạn cũng đẩy luôn nguồn tri thức
ẩn mà anh ta mang trong đầu. Trong khi đó đối thủ của bạn lại lựa chọn một phương
thức tiếp cận khác, xây dựng một hệ thống quản trị tri thức và các kỹ năng để tránh
sáng tạo lại những gì đã có, đạt được mục tiêu cắt giảm chi phí đồng thời cả lợi thế
cạnh tranh dài hạn.
Trong môi trường cạnh tranh như vậy, bạn không thể nói “Tôi có sản phẩm tốt?
Vậy thì tại sao tôi lại cần quan tâm đến marketing cơ chứ?”. Để phát triển một sản
phẩm, dịch vụ mới đòi hỏi sự kết hợp hoàn hảo của nhiều lĩnh vực khác nhau từ
marketing, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất đến tài chính Khi có quá nhiều người từ các
lĩnh vực chuyên môn khác nhau tham gia vào một dự án rất dễ gây ra sự hiểu lầm cũng

phát hiện lỗi, hỏng hóc, sự cố cho máy vi tính”. Đây thực ra là một lĩnh vực hẹp so với
một hệ chuyên gia chẩn đoán, sữa chữa máy vi tính và các thiết bị ngoại vi.
II.2. Thu thập và phân loại tri thức
Trong quá trình tổng hợp và phân loại tri thức, chúng tôi chia các hỏng hóc thông
thường thành bốn nhóm. Các hỏng hóc thuộc cùng một nhóm thì có chung một số biểu
hiện ban đầu. Việc khoanh vùng này giúp việc mô tả các luật rõ ràng hơn. Phần này
giới thiệu các biểu hiện đặt trưng của mỗi nhóm và dấu hiệu nhận biết các lỗi chi tiết
bên trong nhóm. Hình 3.1 trang bên sẽ mô tả các tri thức đã được phân loại này.
II.2.1. Nhóm hỏng hóc từ nguồn điện
Dấu hiệu: đèn led nguồn tắt, quạt nguồn không chạy, màn hình không hiển thị.
Các thiết bị có khả năng gây ra lỗi: cáp nguồn bị lỏng, bộ nguồn bị cháy.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 17
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

Chẩn đoán:
 Kiểm tra lại cáp nguồn. Nếu như cáp nguồn của máy tính bị lỏng thì nó chính
là nguyên nhân.
 Ngược lại, nếu như cáp nguồn không bị lỏng mà máy tính vẫn không khởi
động được thì có thể có lỗi về bộ nguồn của máy tính.
II.2.2. Nhóm hỏng hóc từ màn hình
Dấu hiệu: đèn led nguồn sáng, có một tiếng bíp ngắn chứng tỏ máy tính khởi
động được, nhưng màn hình lại không hiển thị thông tin.
Các thiết bị có khả năng gây ra lỗi: do cáp tín hiệu hoặc màn hình
Chẩn đoán:
 Kiểm tra lại cáp tín hiệu màn hình, nếu lỏng thì đây chính là nguyên nhân.
 Nếu cáp tín hiệu màn hình không lỏng thì nguyên nhân có thể là chỉnh sai các
nút điều khiển trên màn hình.
 Nếu cáp tín hiệu màn hình không lỏng và các nút trên màn hình cũng không
chỉnh sai thì có thể nguyên nhân chính là do màn hình bị hỏng.
II.2.3. Nhóm hỏng hóc từ các thiết bị xử lý

− Có âm thanh đọc ổ cứng
− Hỏng màn hình
− Lỏng cáp màn hình
− Tình trạng đèn màn hình xanh hoặc chớp đỏ
− Màn hình bị tắt trong tiến trình khởi động
− Máy tính bị tắt sau khi hiển thi thông điệp trên màn hình
− Điện vào máy tính có hay không
II.3.2. Tập các luật
− R1: Nếu ((Nguồn điện “hỏng”) hoặc (cáp màn hình”lỏng”) hoặc
(Mainboard “hỏng”) hoặc (Ram “hỏng”) hoặc (ổ cứng “hỏng”)) thì không sử dụng
được máy tính
− R2: Nếu (điện vào máy là "có") và ( (âm thanh đọc ổ cứng là "không")
hoặc tình trạng đèn ổ cứng là "tắt")) thì (ổ cứng "hỏng").
− R3: Nếu (điện vào máy là "có") và (tình trạng đèn màn hình là "chớp
đỏ") thì (cáp màn hình "lỏng"). à à khắc phục: tháo ra và gắn chặt lại.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 19
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

− R4: Nếu (lỗi khi chạy phần mềm hay chơi Game) hoặc (màn hình bị
nhiễu) thì (Card màn hình lỗi). à khắc phục: tháo ra gắn chặt lại, làm vệ sinh và
upload driver mới cho Card màn hình
− R5: Nếu ((Máy hay tự động RESET) hoặc (Máy hay bị treo) hoặc (Máy
không khởi động được và có âm thanh phát ra) ) thì RAM gặp sự cố. à khắc phục:
Tháo ram ra chùi sạch và cắm lại thật chặt. Nếu có 2 RAM thì bạn chạy thử 1 cây.
Nếu vẫn treo đổi cây kia. Có thể một trong 2 cây bị lỗi. Nếu có điều kiện thay thử
RAM khác xem nó bình thường hay không. Nếu vẫn bị vấn đề cũ thì có nghĩa là
không phải do RAM.
− R6: Nếu ((Máy hay bị treo) hoặc (Máy tự động tắt nguồn) hoặc (Máy
không khởi động được) ) thì MAIN hỏng.
− R7: Nếu ((Máy không khởi động được) hoặc (không nhận HDD) hoặc

option),message(Check_power, destroy)))),
send(Check_power, append, button(khong, and(message(@prolog,
call_power),message(Check_power, destroy)))),
send(Check_power, open).
call_power:-
new(Power, dialog('Chuan doan')),
send(Power, append, text('Kiem tra dau noi cap dien,cac cau
chi')),
send(Power, append, button(thoat, message(Power, destroy))),
send(Power, open).
option:-
new(Option, dialog('Chuan doan')),
send(Option, append, text('Da co dien vao may tinh nhung:')),
send_list(Option, append,[
new(S, new(S, menu(lua_chon, cycle)))]),
send_list(S, append,
[khong_co_am_thanh_doc_o_cung,den_o_cung_tat,den_man_hinh_chop
_do,may_hay_tu_dong_reset,may_khong_khoi_dong_duoc_va_co_tieng
_bit,may_bi_tat_trong_tien_trinh_khoi_dong]),
send(Option, append, button(yes,
if(S?selection ==den_man_hinh_chop_do, and(message(@prolog,
card_video),message(Option, destroy)),
if(or(S?selection ==den_o_cung_tat, S?selection
==khong_co_am_thanh_doc_o_cung), and(message(@prolog,
hdd),message(Option, destroy)),
if(or(S?selection ==may_hay_tu_dong_reset, S?selection
==may_khong_khoi_dong_duoc_va_co_tieng_bit),
and(message(@prolog, ram),message(Option, destroy)),
if(S?selection ==may_bi_tat_trong_tien_trinh_khoi_dong,
and(message(@prolog, check_message),message(Option, destroy)))

khong?')),
send(Check_message, append, button(co, and(message(@prolog,
error_message),message(Check_message, destroy)))),
send(Check_message, append, button(khong, and(message(@prolog,
interative_system),message(Check_message, destroy)))),
send(Check_message, open).
interative_system:-
new(System, dialog('Khac Phuc')),
send(System, append, text('Do he thong qua nong hoac xung dot
giua cac thiet bi')),
send(System, append, button(thoat, message(System, destroy))),
send(System, open).
error_message:-
new(Error_message, dialog('Chuan doan')),
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 22
Tiểu luận môn công nghệ tri thức

send_list(Error_message, append,[new(T, new(T,
menu(thong_diep_nhu_sau, cycle)))]),
send_list(T, append,
[ntldr_is_missing,bad_or_missing_command_interpreter]),
send(Error_message, append, button(yes, if(T?selection
==ntldr_is_missing, and(message(@prolog,
error_ntldr),message(Error_message, destroy)),
if(T?selection ==bad_or_missing_command_interpreter,
and(message(@prolog, error_command),message(Error_message,
destroy)))
)
)),
send(Error_message, open).

- Mô tả bài toán, tổng hợp và phân loại tri thức
- Mô tả tri thức bằng logic vị từ, chuyển về ngôn ngữ Prolog
- Cài đặt bài toán bằng phần mềm Swi-Prolog
Tuy nhiên, do thời gian và khả năng tiếp cận còn hạn chế nên đề tài chỉ dừng lại ở
mức tìm hiểu những lý thuyết cơ bản, chưa mở rộng quy mô chẩn đoán cả chiều sâu
lẫn chiều rộng và chưa khai thác các chức năng của ngôn ngữ lập trình, đây cũng là
hướng phát triển của đề tài trong tương lai.
Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Phan Huy Khánh, đã tận tình giúp đỡ
chúng em hoàn thành tiểu luận này.
Xin chân thành cảm ơn ý kiến đóng góp của thầy giáo và bạn đọc quan tâm để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Nhóm 1 – Lớp KHMT K24 QB thực hiện Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status