Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
CÔNG NGHỆ TRI THỨC
ĐỀ TÀI:
Lý Thuyết:
Knowledge Management
Bài tập:
Chẩn đoán, chữa trị kiểu dân gian các bệnh thường gặp ở người từ các
triệu chứng lâm sàng.
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Phan Huy Khánh
Nhóm học viên: Nguyễn Nương Quỳnh
Lê Nam Trung
Nguyễn Duy Linh
Hoàng Đình Tuyền
Lớp: Khoa học Máy tính - K24 Quảng Bình
Quảng Bình, tháng 12 năm 2012
Nhóm 3 Trang 1
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
MỤC LỤC
1
Nhóm học viên: Nguyễn Nương Quỳnh 1
Lớp: Khoa học Máy tính - K24 Quảng Bình 1
Nguyễn Nương Quỳnh 4
Nhóm 3 Trang 2
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
LỜI MỞ ĐẦU
Từ vài thập niên gần đây, với những tác động mạnh mẽ của các tiến bộ khoa học
và công nghệ, đặc biệt của công nghệ thông tin và truyền thông, thế giới đang biến
chuyển tới một nền kinh tế và xã hội mới mà thông tin và tri thức được xem là nguồn
(Quản lý tri thức). Đề tài này nói đến cách thức làm thế nào để có thể quản lý tri thức
Nhóm 3 Trang 3
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
của con người, chủ yếu là tri thức ẩn, để hỗ trợ chúng ta trong việc ra quyết định, thực
hiện công việc.
Với thời gian và việc nghiên cứu của chúng tôi còn nhiều hạn chế nên không
tránh khỏi có những sai sót. Rất mong được sự góp ý và định hướng của Thầy Lê Văn
Sơn và các anh chị cùng lớp để tôi có thể tiếp tục nghiên cứu và đạt được kết quả tốt
hơn trong thời gian tới.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Huy Khánh đã nhiệt tình giảng dạy, góp ý
để nhóm em hoàn thành tiểu luận này.
Nhóm học viên thực hiện:
Nguyễn Nương Quỳnh
Lê Nam Trung
Nguyễn Duy Linh
Hoàng Đình Tuyền
Nhóm 3 Trang 4
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
PHẦN 1 LÝ THUYẾT
KNOWLEDGE MANAGEMENT
I. Tri thức
1. Tri thức là gì?
Tri thức (knowledge) là kiến thức mà con người hiểu và biết.
Những gì mà con người cảm nhận qua thực tế khách quan là những dữ liệu dạng
thô. Qua xử lý, dữ liệu này chuyển thành thông tin. Tuy nhiên, thông tin vẫn tồn tại
độc lập với tư duy của con người. Phải sau khi con người tiếp nhận thông tin, xử lý
thông tin, nắm bắt và nghiên cứu thì thông tin mới trở thành tri thức của riêng mình.
Tri thức được hình thành thông qua các quá trình nhận thức phức tạp: quá trình
tri giác, quá trình học tập, tiếp thu, quá trình giao tiếp, quá trình tranh luận, quá trình lý
luận, hay kết hợp các quá trình này.
Tri thức ẩn
(Bí quyết, gắn liền với con người)
Đặc tính
- Dễ dàng được hệ thống hóa
- Có thể lưu trữ
- Có thể chuyển giao, truyền đạt
- Được diễn giải và chia sẻ một
cách dễ dàng
- Mang tính cá nhân
- Mang tính bối cảnh cụ thể
- Khó khăn trong việc hệ thống hóa
- Rất khó tiếp nhận, truyền đạt và
chia sẻ
Nguồn
- Các tài liệu chỉ dấn hoạt động
- Các chính sách và thủ tục của tổ
chức
- Các báo cáo và cơ sở dữ liệu
- Các quá trình kinh doanh và truyền
đạt phi chính thức
- Các kinh nghiệm cá nhân
- Sử thấu hiểu mang tính lịch sử
II. Quản lý tri thức
1. Quản lý tri thức là gì?
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý tri thức, sau đây là một vài định nghĩa
đã được đưa ra:
“Quản lý tri thức là tạo ra tri thức, và việc này được nối tiếp với việc thể hiện
kiến thức, truyền bá và sử dụng kiến thức, và sự duy trì (lưu giữ, bảo tồn) và cải biến
kiến thức”
De Jarnett, 1996
bao gồm những nỗ lực biến tri thức cá nhân thành tài sản tri thức của toàn tổ chức, mọi
người đều có thể khai thác, sử dụng phục vụ cho sự phát triển chung. Ngoài ra, nó còn
mang ý nghĩa không ngừng tiếp nhận tri thức từ bên ngoài, có thể qua đào tạo, học hỏi
từ bạn hàng, đối tác, nhà cung ứng, khách hàng, thậm chí đối thủ cạnh tranh thông qua
việc xây dựng mô hình tổ chức luôn học hỏi.
2. Quản lý tri thức ra đời khi nào?
Thuật ngữ “tri thức” xuất hiện từ thời Plato và Aristote và được nghiên cứu nhiều
bởi các học giả hiện đại như Daniell Bell (1973), Peter Drucker (1993), Alvin Toffler
(1970, 1980), Macheal Polanyi (1958, 1967) và Ikujiro Nonaka (1991, 1995). Các học
giả này đã đưa ra những vấn đề xung quanh khái niệm tri thức, nguồn vốn hay tài sản
trí tuệ của doanh nghiệp.
Các khái niệm dữ liệu, thông tin, tri thức và sự thông thái của tổ chức cũng được
hình thành và phát triển bởi các học giả trên. Tuy nhiên, khái niệm “quản lý tri thức”
lần đầu tiên được đề cập đến từ đầu những năm 80. Melissie C. Rumizen, tác giả cuốn
“The complete Idiot’s guide to Knowledge Management”, cho rằng tiến sỹ Karl-Erik
Sveiby, người Thuỵ Điển, là người đầu tiên đưa ra khái niệm tài sản tri thức doanh
nghiệp vào năm 1979 nhưng không được đón nhận.
Một báo cáo gần đây của Chính phủ Hoa Kỳ cho rằng tiến sỹ Karl M. Wiig (Viện
nghiên cứu tri thức - KRI) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về quản lý tri thức trong
một bài phát biểu tại Tổ chức lao động quốc tế của Liên Hợp Quốc (ILO) vào năm
1986. Và đến đầu những năm 90 thì quản lý tri thức mới thực sự “nở rộ” như một công
cụ mới trong quản lý. Thomas A. Stewart được xem như là người đầu tiên viết về quản
lý tri thức trên các tạp chí về doanh nghiệp với bài viết “Brainpower” trên tạp chí kinh
tế nổi tiếng “Fortune” vào năm 1991. Tiếp theo đó là cả một chuỗi các cuộc tranh luận
Nhóm 3 Trang 7
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
giữa các trường phái khác nhau về quản lý tri thức. Hàng trăm trang web về quản lý tri
thức ra đời và đến hôm nay, các quan niệm khác nhau về vấn đề này vẫn tồn tại.
3. Tại sao cần phải quản lý tri thức?
Trong suốt 50 năm qua, kinh tế thế giới đã có những bước chuyển rõ rệt từ nền
- Thúc đẩy hoạt động đổi mới
- Cải thiện hiệu quả quản lý
- Nâng cao sự thoả mãn của Khách hàng
Nhóm 3 Trang 8
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
- Thu hút và khai thác nhân tài
- Khuyến khích học hỏi, chia sẻ
4. Quản lý tri thức như thế nào?
Yếu tố quan trọng nhất trong Quản lý tri thức là sự chia sẻ tri thức. Con người
thường coi tri thức là sức mạnh. Mỗi người đều muốn giữ một cái gì đó là điểm mạnh
của riêng mình, không muốn chia sẻ với người khác. Quả đúng vậy và đó là khó khăn
trong việc áp dụng phương thức quản lý tri thức của các nhà quản lý trong một tổ
chức.
Tuy nhiên, điều đó có thể khắc phục được nếu trong tổ chức đó quyết tâm tạo ra
một môi trường thuận lợi để mọi người thoải mái chia sẻ, hiểu đó là cách tạo lợi ích
thiết thực cho tổ chức mình, cho chính mình khi cùng nhau chia sẻ và học hỏi lẫn
nhau. Để làm được điều này, vai trò của người lãnh đạo là rất quan trọng. Không chỉ
khuyến khích, ghi nhận việc chia sẻ tri thức, nhà quản lý cũng cần chủ động chia sẻ tri
thức với nhân viên của mình một cách tích cực. Do đó, có thể dần hình thành nên một
văn hóa chia sẻ trong tổ chức.
Thực tế, có những cá nhân sẵn sàng chia sẻ và đón nhận tri thức mới từ người
khác, nhưng có thể họ không biết cần chia sẻ với ai, chia sẻ như thế nào, chia sẻ lúc
nào. Bởi vậy, cần có một qui định rõ ràng để mọi người trong tổ chức có thể đăng ký
chia sẻ một cách rõ ràng và qui định này cũng cần thể hiện những ghi nhận đối với
người chia sẻ.
Dựa vào sự phân loại tri thức, có thể chia các hình thức chia sẻ tri thức thành bốn
dạng chính:
- Ẩn - Ẩn: Khi người chia sẻ và người tiếp nhận giao tiếp trực tiếp với nhau (ví
dụ: học nghề, giao tiêp, giảng bài ) thì việc tiếp nhận này là từ tri thức ẩn thành tri
thức ẩn. Tri thức từ người này không qua trung gian mà chuyển ngay thành tri thức
ra bởi các chuyên gia và biên dịch một hồ sơ chuyên gia.
Hỏi chuyên gia:
- Đặt những câu hỏi trực tiếp với các chuyên gia
- Tiết lộ quá trình suy nghĩ / mô hình về tinh thần
- Biên dịch hồ sơ chuyên gia
Phân tích nội dung tài liệu:
- Nội dung được đưa vào hệ thống, các thuật toán được sử dụng để đưa về gần
đúng nhận thức của con người
- Tích hợp nắm bắt kiến thức vào công việc hàng ngày và tóm tắt kiến thức
Trong các phương pháp tiếp cận đầu tiên, đặt câu hỏi và chuyên gia tìm cách tiết
lộ quá trình suy nghĩ và các mô hình tinh thần các chuyên gia sử dụng khi tiếp cận một
vấn đề. Thông tin này sau đó đã nhập vào một số định dạng cơ sở dữ liệu, sau đó có
thể được tìm kiếm bởi các bên liên quan để tìm kiếm kiến thức đó. Điều này có thể
được quản lý theo một trong hai cách: hoặc là có một kỹ sư tri thức đặt ra các câu hỏi
cho các chuyên gia, và sau đó tạo ra khuôn khổ để lưu trữ và phổ biến kiến thức; hoặc
bằng cách bỏ qua các kỹ sư tri thức và có bản thân các chuyên gia tạo ra khuôn khổ để
chuyển tiếp kiến thức của mình.
Trong cách tiếp cận thứ hai, công nghệ cần thiết là phức tạp hơn. Nhân viên gửi
nội dung vào hệ thống, sau đó đôi khi phải một giai đoạn phê duyệt. Thông tin này sau
đó được phân tích bằng hệ thống máy tính bằng cách sử dụng các kỹ thuật như nhận
dạng mẫu và các mạng neuron, có sử dụng các thuật toán phức tạp để gần đúng các
Nhóm 3 Trang 10
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
quá trình nhận thức của con người. Cách tiếp cận này cũng có thể làm cho quá trình
kiến thức nắm bắt ít rõ ràng hơn bằng cách tích hợp nó vào nhiệm vụ khác, chẳng hạn
như quản lý quan hệ khách hàng, hành động của nhân viên trên máy tính được nhập
vào phần mềm và phân tích cho các mục đích quản lý tri thức.
Một khi các chuyên gia được xác định và kiến thức của họ được nắm bắt và phân
tích, sau đó phải được trình bày trong một định dạng nào đó thì nó có ý nghĩa với
những người khác trong tổ chức. Các định dạng phổ biến nhất để lưu trữ và trình bày
Nhóm 3 Trang 11
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
cũng mất đi theo. Quản trị tri thức có thể giúp tổ chức giải quyết vấn đề này một cách
hiệu quả, bởi vì trong đó có quá trình “nắm bắt” các tri thức ẩn – qua các quá trình trao
đổi trực tiếp và việc lưu trữ tri thức ẩn dưới dạng hiện.
Ngoài ra, trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện nay, đòi hỏi về kĩ năng
và khả năng ra quyết định của nhân viên ngày càng cao hơn. Ngày nay, thời gian chính
là yếu tố cạnh tranh quyết định giữa mọi tổ chức. Ta có thể phải đối mặt với những
thay đổi, những sáng tạo bất ngờ từ phía đối thủ, sự chuyển dịch mạnh mẽ của thị
trường không ổn định. Tổ chức rất có thể sẽ không bắt kịp được những bước tiến của
môi trường bên ngoài. Vì vậy, việc phản ứng và ra quyết định trước một tình huống
của nhân viên cần phải không những chính xác mà còn phải càng nhanh càng tốt. Điều
này đòi hỏi trình độ tri thức của nhân viên phải cao hơn và thông tin phải được cung
cấp nhanh chóng, chính xác hơn. Nếu quản lý tri thức tốt, bạn hoàn toàn có thể giải
quyết được những vấn đề này.
2. Xuất phát từ nhu cầu kinh tế
Lý thuyết kinh tế cũ cho rằng mọi tài sản đều dễ bị giảm giá trị khi thu hồi,
nhưng điều này không đúng với tri thức. Những quy luật chi phối tri thức thì khác hẳn
những quy luật chi phối thế giới vật chất.
Ví dụ:
- Cùng một cái máy tính, khi người A đang sử dụng, những người khác không sử
dụng được nữa.
- Sau khi người A sử dụng và chuyển giao cho người khác, chất lượng máy tính
coi như bị hao mòn và giảm giá trị.
Nhưng với tri thức, khi một người đang dùng, những người khác cũng có thể sử
dụng được. Và tri thức càng sử dụng nhiều thì càng tăng giá trị. Các nhà kinh tế học
gọi đó là quy luật tăng lợi nhuận: càng sử dụng, càng cung cấp nhiều giá trị - từ đó tạo
ra một chu trình tự tăng cường. Tri thức là biến số duy nhất lý giải nguyên nhân có
một khoảng cách ngày càng lớn giữa giá trị thị trường và cơ sở tài sản của một tổ chức
thành đạt. Không như các tài nguyên có giới hạn như đất, vốn, và nhân công, tài sản tri
cũng liên tục được nâng cấp và cải tiến, thị trường liên tục thay đổi. Do vậy, thời gian
cho ra sản phẩm trở thành một yếu tố sống còn, các quyết định ngày càng phải được
đưa ra nhanh chóng và chính xác hơn. Vậy yếu tố nào làm được điều này? Công nghệ
có thể giúp chúng ta thu thập, lưu trữ, truyền tải thông tin một cách vô cùng hiệu quả,
nhưng để biến thông tin thành tri thức, thành quyết định, thì lại cần đến con người và
kiến thức, kinh nghiệm của họ.
Tri thức chứ không phải công nghệ trực tiếp giúp người sở hữu nó ra quyết định.
Quản trị tri thức, với sự hỗ trợ của công nghệ, có thể giúp làm việc hiệu quả hơn, tự
mình đưa ra những quyết định sáng suốt hơn, giảm bớt sai lầm và thoả mãn yêu cầu
đúng lúc nhất, v.v…
4. Tổ chức và nhu cầu về một hệ thống quản lý tri thức
Cũng giống như công nghệ, cơ cấu tổ chức ngày nay thay đổi quá nhanh. Chính
những thay đổi về cơ cấu tổ chức này bắt buộc có một hệ thống quản trị tri thức hữu
hiệu.
Ví dụ với một dự án lớn đột nhiên gặp phải một vấn đề nan giải, sau một thời
gian tìm kiểm giải pháp, một thành viên trong dự án nhớ ra rằng trong một dự án trước
kia, vấn đề tương tự cũng đã nảy sinh và được giải quyết khá hiệu quả. Ở đây, đặt ra
vấn đề là làm sao áp dụng tốt nhất tri thức đã có để giải quyết vấn đề này.
Nhóm 3 Trang 13
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
Ngày nay, các tổ chức làm việc theo định hướng dự án. Mỗi thành viên được
nhặt ra từ các bộ phận chức năng khác nhau để tạo ra một đội duy nhất. Các đội sau
khi hoàn thành xong dự án thường chuyển lên một dự án khác cao hơn hoặc phân tán
sang các dự án khác. Các tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng thu được trong suốt quá trình
phát triển sản phẩm , dịch vụ lại không được chuyển đến các đội dự án phụ trách việc
phát triển các phiên bản sau trong quá trình tiến hoá dịch vụ sản phẩm đó . Ngoài ra
với cơ cấu tổ chức làm việc theo đội và dự án, các kỹ năng được phát triển trong quá
trình hợp tác thường sẽ bị mất đi khi đội đó tan rã và các tri thức qui trình mà đội thu
được sẽ không có điều kiện để sử dụng lại trong tương lai. Một hệ thống quản tri tri
thức trong trường hợp này sẽ giúp nắm bắt được các tri thức dự án, cho phép sử dụng
nhân lực có tri thức, có kỹ năng ở trình độ cao, biết lao động sáng tạo chứ không phải
sức lao động cơ bắp dựa trên kinh nghiệm. Lực lượng lao động xã hội đã có sự chuyển
biến rõ rệt từ những công nhân “cổ xanh” là chủ yếu thành những công nhân “cổ
trắng” là chủ yếu. Peter Drucker (1993) - một chuyên gia hàng đầu của lý luận quản lý
- đã nhận xét rằng: “Trong thời kỳ 1880, khoảng chín phần mười số người lao động là
lao động chân tay; ngày nay, con số này giảm xuống một phần năm. Bốn phần năm lực
lượng lao động là những người lao động tri thức”.
Toàn cầu hóa đã làm cho việc tiếp cận và mở rộng các thị trường dễ dàng hơn, dễ
dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực tốt nhất và rẻ nhất cho họat động của mình
và vì thế các lợi thế so sánh truyền thống đã mất đi, hoặc ít nhất đã yếu đi. Vì thế,
Drucker (1995) kết luận: “Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức trong đó nguồn lực
kinh tế cơ bản không phải là vốn mà là và sẽ là tri thức” và “tri thức đã và đang trở
thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị - và có thể là duy
nhất - của lợi thế cạnh tranh. Những nhận xét của Drucker hoàn toàn phù hợp với
những dự báo của Alvin Tofler trong tác phầm nổi tiếng của ông về một xã hội tri
thức.”
Sự bùng nổ thông tin và tri thức với tốc độ chóng mặt hiện nay đã làm cho những
người lao động và các tổ chức khó khăn hơn trong việc giải quyết các vấn đề của
mình. Trong điều kiện bùng nổ của tri thức và thông tin, sự quá tải thông tin trở thành
một gánh nặng và vì thế để tìm được những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định
hoặc gỉải quyết vấn đề là cực kỳ khó và là một quá trình tốn kém rất nhiều thời gian và
công sức cho tất cả mọi người hiện nay. Trong một cuộc hội thảo về quản lý tri thức,
Bill Gate(1999) đã nhận xét: “Những người công nhân trí thức cần chia sẻ những hiểu
biết của họ, và cần tiếp cận những thông tin đúng (cần thiết) vào đúng thởi điểm. Và
điều này là cực kỳ khó hiện nay” (Trích từ VNU Business Media). Để giúp cho các tổ
chức và cá nhân xử lý và giải quyết tốt các vấn đề của mình cũng như để nâng cao
hiệu quả của các quyết định nói chung, với sự phát triển của công nghệ thông tin, từ
đầu những năm 1990 trở lại đây, các công ty trên thế giới và các nhà nghiên cứu đã áp
dụng và tiếp cận một xu hướng mới trong phát triển doanh nghiệp và các tổ chức đó là:
Quản lý tri thức (Knowledge Management).
cao mới có khả năng cạnh tranh và thành công được. Khi dùng thuật ngữ chỉ số thông
minh của công ty, không chỉ nói đến những người thông minh trong công ty mà là một
phương thức đo lường mức độ chia sẻ thông tin cho mọi người và cách thức mọi người
trong công ty xây dựng và phát triển ý tưởng của mình trên ý tưởng của người khác.
Chỉ số thông minh công ty bao gồm việc chia sẻ kiến thức cũ và mới. Sự đóng góp cho
chỉ số thông minh công ty là do sự học tập của các thành viên và sự phối hợp tư tưởng
của nhiều người với nhau.
Nhân viên trong công ty có chỉ số thông minh công ty cao sẽ hợp tác với nhau
chặt chẽ để các nhân vật chủ chốt trong dự án đều được thông tin đầy đủ và tiếp thêm
sinh lực. Mục đích sau cùng của công t là sử dụng một nhóm nhân viên để phát triển
các ý tưởng tốt nhất tích hợp từ kinh nghiệm và ý tưởng của các thành viên khác trong
công ty, từ đó hành động trên cơ sở thống nhất mục đích và tập trung như thể một
người duy nhất.
Nhóm 3 Trang 16
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
Các nhân viên điều hành cấp cao trong công ty cần phải có niềm tin vào việc chia
sẻ thông tin, kể cả khi có những lỗ lực lớn trong việc chia sẻ thông tin bị thất bại. Các
nhà lãnh đạo phải cho nhân viên thấy rằng họ không tự giam mình trong trong tháp
ngà, tách rời khỏi mọi người mà là sẵn sàng tham gia vào mọi công việc chia sẻ tri
thức của nhân viên. VD như Jacques Nasser, chủ tịch hãng xe hơi Ford vào mỗi ngày
thứ sáu đều gửi Mail cho 89.000 nhân viên của hãng trên toàn thế giới, thông tin cho
mọi người dù tốt hay xấu xảy ra trong công ty.
Khi tạo được một không khí động viên sự hợp tác chia sẻ tri thức, các nhà lãnh
đạo doanh nghiệp cần phải thiết lập các dự án chia sẻ tri thức trong toàn công ty để
làm cho viêc chia sẻ thông tin trở thành một phần trong công việc. Sức mạnh không
chỉ đến từ tri thức tích luỹ mà phải từ tri thức chia sẻ. Giá trị và hệ thống khen thưởng
của một công ty phải phản ánh được tư tưởng này.
Quản trị tri thức sẽ hỗ trợ cho công ty trong bốn lĩnh vực chính: hoạch định, dịch
vụ khách hàng, huấn luyện và hợp tác dự án. Nếu các nhà lãnh đạo chưa từng thực
hiện công tác quản trị tri thức tại công ty, hãy xem xét lại một trong hai lĩnh vực nào
đã được ghi chép lại và lập chỉ số để giúp truy cập và sử dụng dễ dàng. Các tổ chức
phải sẵn sàng bỏ đi những tri thức đã lạc hậu.
Việc quản lý công tác thư viện và hồ sơ, hoặc quản lý thông tin có quan hệ chủ
yếu với những biểu hiện vật chất của tri thức ở dưới dạng tài liệu, cơ sở dữ liệu
(CSDL), sách, tạp chí và các vật ghi khác. Trong khi đó, quản lý tri thức quan tâm đến
tri thức của từng cá nhân và không được ghi chép, hoặc tri thức ngầm của mỗi người,
cũng như tri thức có thể quan sát, kể ra, hoặc tri thức được bộc lộ, mà không phải lúc
nào cũng được tổ chức thành hệ thống.
Về vấn đề này, Nonaka và Takeuchi (1998) đã nêu ra sự phân biệt giữa tri thức
và thông tin. Theo đó, tri thức là một thứ vô hình, trú ngụ ở một chỗ nào đó, có thể là
tinh thần hoặc vật chất và có thể tách ra, làm cho nó trở thành hữu hình, có khả năng
chuyển giao được nhờ các phương tiện (tài liệu, biên bản, sách, tạp chí, quy trình, sơ
đồ, phim ảnh, CSDL v.v ). Khi đó, tri thức sẽ trở thành thông tin. Theo định nghĩa
này, các cán bộ thông tin chủ yếu có quan hệ với thông tin (những bản ghi chép về tri
thức), chứ không phải với bản thân tri thức, còn các nhà quản lý và điều hành của tổ
chức thì lại có quan hệ với tri thức.
Việc quản lý tri thức hiện nay, được đề cập rất nhiều trong công trình của
Nonaka và Takeuchi (1995), trong đó đều nhận định về sự khác nhau giữa thông tin và
tri thức đã làm nảy sinh một số vấn đề then chốt. Chúng chủ yếu liên quan tới quá
trình mọi người tạo ra và chia sẻ tri thức, đem lại những khái niệm như: Một ý tưởng
sẽ có giá trị và hiệu quả chỉ khi nào mọi người có thể biết được điều họ biết; hay ý
thức được rằng, khi ai đó rời khỏi tổ chức thì tổ chức đó để mất đi những tri thức ẩn
chứa của người đó; hoặc sự cần thiết của sự chia sẻ thông tin và tri thức giữa các cán
bộ công nhân viên trong tổ chức nếu muốn tạo ra tri thức mới.
Với những vướng mắc như vậy, phần lớn những tài liệu gần đây về quản lý tri
thức đều chú trọng đến việc ghi chép, truy cập và chia sẻ loại tri thức vô hình, chứ
không chú ý lắm đến các phương pháp quản lý những thông tin và tri thức đã được ghi
chép. McShane và Glinow (1999) đã đề xuất một số phương pháp để tiếp nhận, chia sẻ
và sử dụng tri thức, tuy nhiên chúng không được phản ánh vào trong thực tiễn quản lý
tri thức. Tri thức là một thứ khó nắm bắt và tổ chức vì nó dựa vào kinh nghiệm và đặc
tin – thư viện được đặt vào trong ngành công nghệ thông tin. Phương cách đào tạo này
không những tạo điều kiện học tập cho người làm công tác thông tin – thư viện nâng
cao kỹ năng công nghệ thông tin mà là cơ hội để đội ngũ này tiến xa hơn trên con
đường nghiên cứu phục vụ ngành nghề thông tin thư viện trong môi trường công nghệ
thông tin. Giá trị thư viện thay đổi từ “Sở hữu tài nguyên thông tin sang sử dụng công
nghệ mới để truy hồi thông tin”.
Tốc độ phát triển thư viện song hành với việc phát triển công nghệ thông tin.
Việc xây dựng thư viện số khắp nơi đã tạo nên sự liên thông thư viện trên phạm vi
toàn cầu. Công nghệ mới luôn được cập nhật. Hiện nay WEB (Công nghệ IP-based –
Nhóm 3 Trang 19
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
Sử dụng HTTP trong việc truyền thông và HTMT/XML trong việc đóng gói thông tin)
là công nghệ hiện tại và tương lai của ngành thông tin – thư viện.
Tại Việt Nam, cần thay đổi tầm nhìn và cách nhìn về ngành nghề thư viện hiện
đại để thoát ra khỏi vỏ bọc lạc hậu, chiến thắng sức ì tâm lý, tiến đến việc “đi tắt đón
đầu” nhằm bắt kịp nhịp phát triển với Thư viện điện tử là một loại hình phục vụ
cho thư viện truyền thống, bao gồm việc phục vụ thông tin điện tử được đọc với sự hỗ
trợ của máy tính. Thư viện số - Digital Library, Thư viện số bao gồm những cơ sở dữ
liệu mở với siêu dữ liệu – metadata chứa những kết nối và mối quan hệ với những dữ
liệu và siêu dữ liệu khác chứa trong hay ngoài thư viện. Thư viện số là hình thức liên
thông giữa các thư viện điện tử được xây dựng theo những tiêu chí:
• Số hóa từng phần các cơ sở dữ liệu
• Cung cấp cơ sở tri thức chuyên ngành
• Xây dựng kho tài nguyên học tập
• Khai thác qua cổng thông tin – Portals
• Chuẩn hóa việc truy cập và trao đổi thông tin
Thư viện ảo – Virtual Library, thư viện ảo tổ chức một phương cách tra cứu tài
liệu đồng nhất trên các CSDL thật của các thư viện thành viên trong một consortium
bằng cách xây dựng một CSDL ảo.
Tài nguyên điện tử - Electronic Resources, Tài nguyên điện tử bao gồm: tài
khuyên hay những gợi ý đúng đắn (expertise).
Hoạt động của hệ chuyên gia dựa trên tri thức được minh họa như sau:
Hình 1: Hoạt động của hệ chuyên gia
Nhóm 3 Trang 21
Người sử dụng
(User)
Hệ thống
giao tiếp
(User
Interface)
Cơ sở tri thức
(Knowledge Base)
Máy suy diễn
(Interface Engine)
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
Mỗi hệ chuyên gia chỉ đặc trưng cho một lĩnh vực vấn đề (problem domain) nào
đó, như y học, tài chính, khoa học hay công nghệ ,… mà không phải cho tất cả các lĩnh
vực.
Những thành phần cơ bản của một hệ chuyên gia:
Hình 2: Những thành phần cơ bản của một hệ chuyên gia
- Cơ sở tri thức (Knowledge base). Gồm các phần tử (hay đơn vị) tri thức thông
thường được gọi là luật (Rule), được tổ chức như một cơ sở dữ liệu.
- Máy suy diễn (Inference Egine). Công cụ (chương trình, hay bộ xử lý) tạo ra sự
suy lụân bằng cách sẽ quyết định xem những luật nào sẽ làm thỏa mãn các sự kiện, các
đối tượng, chọn ưu tiên các luật có tính ưu tiên cao nhất.
- Lịch công việc (agenda). Danh sách các luật ưu tiên do máy suy diễn tạo ra thỏa
mãn các sự kiện, các đối tượng có mặt trong bộ nhớ làm việc.
- Bộ nhớ làm việc (working memory). Cơ sở dữ liệu toàn cục chứa các sự kiện
phục vụ cho các luậh.
- Khả năng giải thích (explaination facility). Giải nghĩa cách lập luận của hệ
dễ triển khai thao tác đối với người sử dụng.
Hình 3: Quan hệ giữa máy suy diễn và cơ sở tri thức
Từ vệc phân biệt hai loại tri thức, người ta nói máy suy diễn là công cụ triển khai
các cơ chế (hay kỹ thuật) tổng quát để tổ hợp các tri thức phán đoán và các tri thức
thực hành. Hình trên đây mô tả quan hệ hữu cơ giữa máy suy diễn và cơ sở tri thức.
Biểu diễn tri thức trong hệ chuyên gia
Có rất nhiều phương pháp biểu diễn tri thức trong máy
- Dùng luật sản xuất, hệ chuyên gia dựa trên các luật
- Mạng ngữ nghĩa
- Ngôn ngữ nhân tạo
- Bộ OAV(Object Attributes Values)
- Khung (Frame)
2. Các loại Hệ chuyên gia
Có 2 dạng hệ chuyên gia thường dùng đó là hệ chuyên gia dựa trên luật và lập
luận trên tình huống.
Hệ chuyên gia dựa trên luật
ES dựa trên luật biểu diễn tri thức dưới dạng các luật if… then. Cách tiếp cận
này là một trong những kỹ thuật cổ điển và được sử dụng rộng rãi nhất dùng cho biểu
diễn tri thức về một lĩnh vực trong ES.
Đối với một ES, thì tiếp cận hướng từ mục tiêu sẽ tạo điều kiện cho quá trình giải
thích hơn. Vì trong một hệ hướng từ mục tiêu, việc suy luận theo đuổi một mục tiêu cụ
thể nào đó, mục tiêu đó bị chia thành nhiều mục tiêu con và cứ như thế. Kết quả là
việc tìm kiếm luôn luôn được hướng dẫn thông qua sự phân cấp mục tiêu và mục tiêu
Nhóm 3 Trang 23
Máy
suy diễn
Cơ sở tri thức
Tri thức phán đoán
Tri thức thực hành
Tiểu luận môn học Công nghệ tri thức
nhận cả ba mục tiêu này đều đúng, thì ES sẽ xác định một cách thành công rằng trục
trặc xe là do bugi. Trong quá trình tìm ra lời giải này, hệ thống đã kiểm tra nhánh trái
nhất của đồ thị Và/Hoặc trong hình 7.
Hình 7. Đồ thị Và/Hoặc được tìm kiếm trong ví dụ chẩn đoán xe ôtô.
Ưu điểm của ES dựa trên luật:
- Khả năng sử dụng trực tiếp các tri thức thực nghiệm của các chuyên gia.
Nhóm 3 Trang 25