ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH
HIỆN THỰC HÓA
CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ - AN NINH ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Hà Nội – 2013
Bảng chữ viết tắt
AC
ASEAN Community
Cộng đồng ASEAN
ACC
ACFTA
ASEAN Coordinating Council
Hội đồng Điều phối ASEAN
ASEAN - China Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
ADMM
ADMM+
AEC
AICHR
AIPO
ASEAN Defence Ministers' Meeting
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN
ASEAN Defence Ministers' Meeting Plus
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng
ASEAN Economic Community
Asia Pacific Community
Cộng đồng châu Á-Thái Bình Dương
APEC
APF
Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
ASEAN Peoples Forum
Diễn đàn Nhân dân ASEAN
APT
ASEAN Plus Three
ASEAN+3 (ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc)
APSC
ARF
ASEAN Political - Security Community
Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN
ASEAN Regional Forum
Diễn đàn khu vực ASEAN
ASC
1
ASEAN Security Community
Cộng đồng an ninh ASEAN
ASCC
ninh ASEAN
ASEAN University Network
Hệ thống các trường đại học thuộc khối ASEAN
Code of Conduct in the East Sea
1
Từ năm 2007 đổi thành APSC (Political-Security Community, tức Cộng đồng chính trị-an ninh ASEAN).
CBMs
CFSP
CSCAP
Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông
Confidence buildings Measures
Các biện pháp xây dựng lòng tin
Common Foreign and Security Policy
Chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU
Council for Security Cooperation in the Asia Pacific
Hội đồng hợp tác an ninh châu Á-Thái Bình Dương
CSCE
Commission on Security and Coperation in Europe
Ủy ban an ninh và hợp tác châu Âu
DOC
DOC II
Declaration on Conduct of the Parties in the East Sea
Immunities and Priveleges Agreement
Hiệp ước về ưu đãi và miễn trừ của ASEAN
ASEAN Chiefs of Security Agencies
Hội nghị những người đứng đầu cơ quan an ninh các
nước ASEAN
North Atlantic Treaty Organization
Tổ hức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NGOs
Non-Governmental Organizations
Các tổ chức phi chính phủ
NIEs
Newly Industrialized Economies
Nhóm các nước công nghiệp mới
NPT
SCO
Nuclear Non – Proliferation Treaty
Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân
Shanghai Cooperation Organization
Tổ chức hợp tác Thượng Hải
SEANWFZ
SEATO
SouthEast Asian Nuclear Weapon Free Zone
Đông Nam Á khu vực phi vũ khí hạt nhân
MỤC LỤCc
Lời cảm ơn
Bảng chữ viết tắt
Mở đầu 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1. Cơ sở lý luận 9
1.1.1. Khái quát Chủ nghĩa Hiện thực (Realism) 9
1.1.2. Khái quát Chủ nghĩa Tự do (Liberalism) 11
1.1.3. Khái quát Chủ nghĩa Kiến tạo (Constructivism) 13
1.2. Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1. Nhận thức của ASEAN về hợp tác chính trị - an ninh khu vực 19
1.2.2. Sự ra đời, mục tiêu, nội dung và lộ trình thực hiện APSC 23
1.2.3. Quá trình hiện thực APSC từ khi hình thành ý tưởng đến nay 27
Chƣơng 2: HIỆN THỰC HÓA CỘNG ĐỒNG APSC DƢỚI GÓC NHÌN MỘT
SỐ LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TẾ 39
2.1. Quá trình hiện thực hóa APSC dƣới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực 39
2.1.1. Ưu điểm 39
2.1.2. Hạn chế 44
2.2. Quá trình hiện thực hóa APSC dƣới góc nhìn của Chủ nghĩa Tự do 55
2.2.1. Ưu điểm 55
2.2.2. Hạn chế 67
2.3. Quá trình hiện thực hóa APSC dƣới góc nhìn của Chủ nghĩa kiến tạo 71
2.3.1. Ưu điểm 72
2.3.2. Hạn chế 84
Chƣơng 3: TRIỂN VỌNG CỘNG ĐỒNG CHÍNH TRỊ - AN NINH ASEAN
ĐẾN NĂM 2015 91
3.1. Kịch bản thứ nhất 91
Đặc biệt, đã có nhiều nghiên cứu trước đó về ASEAN nói chung và APSC nói
riêng, nhưng các nghiên cứu này có cách tiếp cận tổng thể, thường đi vào phân tích
dựa trên cơ sở lý thuyết, cơ sở thực tiễn, các mô hình đã và đang tồn tại, các kinh
nghiệm của các tổ chức khác, v.v. Trong đó, chỉ số ít bài viết nghiên cứu về khả
năng hiện thực hóa APSC phân tích dưới góc độ các lý thuyết quan hệ quốc tế, nhất
là ở Việt Nam. Do đó, việc chúng tôi tập trung đi sâu hơn vào xem xét các lý luận
về xây dựng APSC không chỉ tăng cường sự hiểu biết và nhận thức chung về hợp
tác chính trị-an ninh ở khu vực mà còn góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu về
2
ASEAN thành lập ngày 08/08/1967. Từ 5 quốc gia Đông Nam Á đầu tiên đặt bút ký vào bản Tuyên bố
Băng Cốc, ngày nay Hiệp hội đã gồm 10 nước, bao trùm hầu hết khu vực Đông Nam Á với diện tích 4,5 triệu
km2. Các nước ASEAN có dân số khoảng trên 600 triệu người, với nền văn hóa hết sức đa dạng, phong phú,
và đặc sắc. Các quốc gia trong khu vực đã từng bước vượt qua các rào cản của lịch sử và những khác biệt,
cùng chung tay đẩy mạnh hợp tác, tăng cường liên kết dưới một mái nhà ASEAN. ASEAN đang là một khu
vực kinh tế năng động và phát triển cao. Trong bối cảnh kinh tế thế giới liên tục suy giảm, các nền kinh tế
ASEAN vẫn đạt tốc độ tăng trưởng dương, bình quân trên 5%/năm và ổn định, với tổng GDP cả khối đạt 3,2
nghìn tỉ đô la Mỹ (Theo số liệu thống kê của ADB năm 2011 (PPP) ).
3
Nguyên văn cụm từ này trong tiếng Anh là “making process, not progress”, xem thêm: David Martin Jones
(2007), “Making process, not progress: ASEAN and the Evoling East Asian Reginal Order”, International
Security, Vol.32 (No.1), pg.148-184.
4
David Martin Jones, Hiro Katsumata, Michael L.R.Smith (2008), “Conrespondence: ASEAN, Regional
Intergration and State Sovereignty”, International Security, Vol.33 (No.2), pg.182-188.
2
các mối quan hệ quốc tế, nhất là về hợp tác chính trị-an ninh trong bối cảnh thế giới
và khu đang có nhiều biến động phức tạp và khó đoán định.
Bên cạnh đó, khi nhắc đến hợp tác chính trị - an ninh khu vực châu Á-Thái
5
Việt Nam gia nhập ASEAN ngày 28/07/1995.
3
đó, chúng tôi đánh giá triển vọng, đưa ra các kịch bản có thể diễn ra đối với APSC
vào năm 2015, đồng thời gợi mở chính sách cho Việt Nam trong việc tiếp tục tham
gia thúc đẩy APSC tiến về phía trước.
Để đạt được mục tiêu trên, chúng tôi tập trung làm rõ những vấn đề chính sau:
- Làm rõ những nội dung cơ bản của của ba lý thuyết: Chủ nghĩa Hiện thực,
Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo liên quan đến hiện thực hóa
APSC.
- Phân tích đánh giá ưu điểm, hạn chế, tính khả thi của APSC dưới góc độ
của mỗi lý thuyết
- Đánh giá triển vọng, đưa ra các kịch bản, trong đó nhấn mạnh đến kịch bản
có khả năng xảy ra nhất.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tầm quan trọng của ASEAN trong lịch sử phát triển của Đông Nam Á, đã
có rất nhiều ấn phẩm, trong nước cũng như ngoài nước, viết về ASEAN. Mối quan
tâm chủ yếu của các nghiên cứu về ASEAN hướng về các cơ cấu hoạt động có tính
chất chính phủ, trên cơ sở thực tiễn hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN ở tất
cả các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội. Trong đó, những bài
viết về hợp tác chính trị - an ninh có phần nổi trội.
Đặc biệt, giai đoạn sau chiến tranh lạnh đến nay, nở rộ những ấn phẩm về
ASEAN, nhất là từ sau khi ASEAN ra Tuyên bố Tầm nhìn 2020
6
, hướng tới xây
dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Từ thập niên đầu thế kỉ 21, ngày càng có
- “An ninh con người và sự bất an trong cuộc sống hôm nay” của GS.Vũ
Dương Ninh, Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, số 1/2009; v.v.
Các bài viết đã đề cập đến các tiến trình khác nhau của của tiến trình APSC,
trong đó bàn luận khá nhiều về tính khả thi và vai trò của cộng đồng này.
Bên cạnh đó, là các công trình nghiên cứu, các hội thảo khoa học như:
- Hội thảo quốc tế với chủ đề: “Hợp tác chính trị, an ninh ASEAN – Cộng
đồng An ninh ASEAN”, do Vụ ASEAN – Bộ Ngoại giao tổ chức vào tháng
1/2005;
- Công trình nghiên cứu cấp Bộ: “Cộng đồng An ninh ASEAN: Hiện trạng,
triển vọng và sự tham gia của Việt Nam”, do Vụ ASEAN-Bộ Ngoại giao
thực hiện (nghiệm thu năm 2006);
- Công trình nghiên cứu cấp Bộ: “Cơ sở hình thành, triển vọng của Cộng
đồng ASEAN và tác động đối với Việt Nam”, do Viện nghiên cứu Đông
Nam Á chủ trì và thực hiện (nghiệm thu năm 2008), bao gồm có đề tài
nhánh: “Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC): Nội dung, lộ trình, triển vọng
và tác động” do PGS.TSKH Trần Khánh chủ. Đây là một công trình
nghiên cứu công phu, nghiêm túc và có chất lượng cao của các nhà khoa
5
học về ASC. Công trình đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc hình thành ASC, phần chính của công trình tập trung làm rõ mục
tiêu nội dung cơ bản, phương hướng thực hiện và triển vọng của ASC.
Ngoài ra, công trình còn làm rõ những tác động của tiến trình xây dựng
ASC đối với Việt Nam; đưa ra những kiến nghị về việc tham gia trong tiến
trình xây dựng ASC của Việt Nam;
- Công trình nghiên cứu: “Tác động của Hiến chương ASEAN đối với tiến
trình xây dựng cộng đồng ASEAN”, “Hiến chương ASEAN và các văn bản
triển khai Hiến chương: Các vấn đề pháp lý” thuộc Chương trình nghiên
cứu ASEAN của Bộ Ngoại giao năm 2009 – 2011, v.v.
Điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề
tài nghiên cứu của luận văn (mà tác giả đã tập hợp và hệ thống được), có thể rút ra
những nhận xét sau: (1) Các công trình nghiên cứu đã ít đề cập đến hợp tác Chính
trị - An ninh của APSC, hoặc đề cập tương đối chung chung. (2) Nhiều công trình
có cách tiếp cận tổng thể, thường đi vào phân tích dựa trên cơ sở lý thuyết và thực
tiễn, các kinh nghiệm của các tổ chức khác, nêu lên thành tựu và thách thức đối với
hiện thực hóa APSC nhưng chỉ một số ít công trình làm rõ triển vọng phát triển của
nó ra sao (3) Chỉ một số ít công trình ứng dụng các lý thuyết quan hệ quốc tế làm
cơ sở để luận giải cho sự hiện thực hóa APSC, và nếu có thì thường chỉ sử dụng
một lý thuyết để phân tích quá trình xây dựng và tính khả thi của APSC. Do vậy,
việc nghiên cứu khả năng hiện thực hóa APSC xét dưới góc độ của lý luận quan hệ
quốc tế vẫn còn là những khoảng trống mà luận văn muốn hệ thống hóa và bổ sung.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Cộng đồng Chính trị - An ninh APSC
xét dưới góc độ một số lý thuyết của quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, một số mô hình
hợp tác chính trị-an ninh tồn tại trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng được
liên hệ với APSC nhằm đối chiếu, so sánh làm nổi bật điểm khác biệt của APSC.
Về mặt thời gian: nghiên cứu APSC tập trung vào giai đoạn 2003 đến 2015,
bởi đây là giai đoạn quan trọng ghi dấu ấn về sự ra đời và phát triển của APSC,
nhưng đồng thời tác giả vẫn có liên hệ với giai đoạn trước đó và nhận định xu
hướng tiến triển sau đó.
Về mặt nội dung: luận văn chủ yếu phân tích khía cạnh hợp tác chính trị - an
ninh ASEAN trong khuôn khổ APSC dưới góc độ ba lý thuyết của quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, do trên thế giới tồn tại khá nhiều trường phái, lý thuyết và các quan
điểm khác nhau về quan hệ quốc tế nói chung và về hợp tác và liên kết khu vực nói
riêng, nhất là trong lĩnh vực hợp tác chính trị - an ninh. Vì vậy, để đi sâu luận giải
và làm nổi bật việc tính khả thi của Cộng đồng APSC dưới góc nhìn các lý thuyết
7
- Góp phần lý giải tính khả thi của cộng đồng APSC dựa trên cơ sở ba lý thuyết
quan hệ quốc tế.
- Qua bước đầu nghiên cứu, tập hợp và khai thác các tư liệu, luận văn trình bày
một cách cơ bản về ưu điểm, hạn chế, tính khả thi và triển vọng của việc hiện thực
hóa APSC dưới góc độ của một số luận điểm của Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa
Tự do và Chủ nghĩa Kiến tạo về hợp tác chính trị - an ninh khu vực Đông Nam Á,
8
và mối quan hệ của APSC với một số cơ chế hợp tác khác trong hệ thống quan hệ
quốc tế.
- Kế thừa có chọn lọc những công trình của các tác giả đi trước, đồng thời vận
dụng một số luận điểm nêu trên để đưa ra nhận định, đánh giá có tính độc lập về
triển vọng của APSC.
- Từ thực tiễn tham gia APSC của Việt Nam, luận văn phân tích một số khó
khăn cũng như thuận lợi, và nêu một vài khuyến nghị về sự tham gia của Việt Nam
trong APSC nói riêng và ASEAN nói chung.
Tác giả mong muốn những nghiên cứu của luận văn sẽ có ý nghĩa góp phần
cung cấp những thông tin cơ bản và có thể sử dụng như một nguồn tài liệu tham
khảo về hợp tác chính trị - an ninh trong ASEAN nói chung, xây dựng và hiện thức
hoá APSC. Mặt khác, luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo,
trong việc đánh giá chính sách và triển khai quan hệ Việt Nam – ASEAN, góp phần
vào việc định hướng và tham gia trực tiếp của Việt Nam vào các hoạt động của
APSC
7
, và đóng góp vào việc nghiên cứu ASEAN, nghiên cứu quan hệ quốc tế ở
khu vực Đông Nam Á, một khu vực vốn ít có truyền thống vận dụng lý thuyết để
phân tích các vấn đề khu vực và quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
hiện tượng quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa Hiện thực tập trung vào vấn đề lớn của nhân
loại là quyền lực, chiến tranh và xung đột.
Theo cách phân loại dựa trên cơ sở thời gian, Chủ nghĩa Hiện thực được chia
thành: Chủ nghĩa Hiện thực cổ điển (cho tới thế kỷ 20), Chủ nghĩa Hiện thực hiện
đại (1939 – 1979), và Chủ nghĩa Hiện thực cấu trúc hay còn là Chủ nghĩa Hiện thực
mới (1979 tới nay)
8
. Với những nhà hiện thực đại diện tiêu biểu từ cổ chí kim như
Thucydides, Machiavelli, Morgenthau, Hobbes, Rousseau, Kenneth Waltz, Zakaria,
Mearsheimer, v.v.
Chủ nghĩa Hiện thực dựa trên cơ sở lý luận là quyền lực và lợi ích của quốc
gia không thể hòa hợp và được thực tiễn lịch sử chứng minh, cho rằng bản chất của
con người là bi quan và tiến trình lịch sử thường có tính chu kỳ.
Trên cơ sở lý luận đó, dù ở trường phái nào, các nhà Chủ nghĩa Hiện thực đều
thống nhất đưa ra các luận điểm chính, bao gồm một số luận điểm liên quan tới
việc hợp tác chính trị - an ninh và hình thành Cộng đồng An ninh như: Môi trường
quốc tế là vô chính phủ bất biến (không có quyền lực ở trên nhà nước, không có
quyền lực trung ương nào có khả năng bảo vệ các quốc gia), trong đó chủ thể quốc
gia đóng vai trò chính trong quan hệ quốc tế, được dẫn dắt chủ yếu dựa trên việc
cân nhắc về quyền lực và theo đuổi lợi ích quốc gia. Mục đích của quốc gia là tồn
tại. Muốn tồn tại quốc gia phải tự lực. Điều này làm cho các nước nhỏ yếu hơn tập
hợp với nhau để chống lại các đối thủ lớn hơn, chứ không phải vì “phù thịnh”.
Trong quan hệ giữa các nhà nước độc lập có chủ quyền, không có an ninh, nguy
8
Chủ nghĩa Hiện thực hiện đại (1939-1979), Chủ nghĩa Hiện thực mới (1979 - ). Ngoài ra còn cách phân loại
theo phương án phân tích (Chủ nghĩa Hiện thực cơ cấu I & II, Chủ nghĩa Hiện thực thực tiễn, Chủ nghĩa
Hiện thực tự do); theo xu hướng (Chủ nghĩa Hiện thực phòng phủ, Chủ nghĩa Hiện thực tấn công).
10
quốc gia liên tục tìm kiếm cơ hội cao hơn để át chế quốc gia khác, thế giới bắt buộc
phải sống chung với những cuộc cạnh tranh quyền lực mạnh mẽ. Sự cạnh tranh
11
quyền lực và sự ảnh hưởng không có điểm dừng dẫn đến xung đột là không thể
tránh khỏi, do đó sự hợp tác trở nên hiếm hoi và các tổ chức quốc tế nói chung, các
cơ chế hợp tác an ninh nói riêng sẽ hoạt động theo sự thay đổi của quyền lực, chỉ
như một công cụ hợp tác tạm thời.
Như vậy, kể cả những nhà Chủ nghĩa Hiện thực mới tuy đã chú ý hơn tới yếu
tố kinh tế và chính trị của các quốc gia, tuy đã có thay đổi nhận thức nhất định về
vai trò của các thể chế, nhất là việc hình thành cơ chế hợp tác an ninh tập thể như
hình thức cộng đồng, song lại thường chỉ xem chúng như là phương tiện phân bổ
quyền lực, để đạt được quyền lực, lợi ích đã đặt ra.
1.1.2. Khái quát Chủ nghĩa Tự do (Liberalism)
Cùng với Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do cũng được coi là lý thuyết
quan hệ quốc tế truyền thống chủ yếu. Hiện nay, Chủ nghĩa Tự do ngày càng trở
thành hệ thống lý luận phổ quát.
Chủ nghĩa Tự do cũng có nhiều cách phân loại
9
, theo cách phân loại về thời
gian, chia thành: Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Tự do mới (Neo-Liberalism). Với
các nhà tự do tiêu biểu đại diện từ cổ chí kim như: Imanuel Kant, Woodrow Wilson,
Arnold Toynbee, Norman Angell, David Mytrany, Ernst B.Hass, Joseph Nye,
Robert Keohan, v.v.
Chủ nghĩa Tự do dựa trên cơ sở lý luận về quyền tự nhiên của con người,
khẳng định lợi ích của con người là có thể hòa hợp, bởi bản chất của con người là
lạc quan. Tuy nhiên, cơ sở thực tiễn của Chủ nghĩa Tự do lại dựa vào tương lai đoán
định để hoạch định chính sách và cho rằng tiến trình lịch sử diễn ra theo đường
11
.
Mặt khác, theo lô-gíc của Chủ nghĩa Tự do thì khi kinh tế phụ thuộc lẫn nhau,
đặc biệt là thương mại tự do, làm giảm viễn cảnh của chiến tranh. Thương mại
mang tới lợi ích cho tất cả các bên, bất kể quy mô hay tính chất nền kinh tế, hợp tác
thông qua khuôn khổ thể chế, từ đó có thể ổn định và thúc đẩy quan hệ giữa các
nước và quan hệ khu vực với nhau.
Mặc dù có sự nối tiếp quan trọng giữa tư tưởng tự do của những người khai
sáng và những tư tưởng của thế kỉ 20, nhưng những nhà tự do mới nhấn mạnh cần
phải xác định rõ tư tưởng làm sao để thúc đẩy hòa bình và xây dựng thế giới, đồng
thời các quốc gia phải tham gia vào các tổ chức quốc tế nhất định, phù hợp với
những quy tắc và tiêu chuẩn của nó. Và lý thuyết Thể chế tự do cho rằng của các tổ
chức quốc tế có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy an ninh tập thể, quản lý xung
đột, và thúc đẩy hợp tác. Khi tham gia các thể chế này, các quốc gia có thể vượt qua
hành vi vị kỷ, bởi các thể chế khuyến khích các quốc gia bỏ qua những lợi ích trước
10
Quan điểm của Immanuel Kant (1724 – 1804) và Jeremy Bentham (1748-1832), là hai trong số những
người đi đầu của chủ nghĩa tự do thời kỳ khai sáng, xem thêm: Antonio Franceschet (2002), Kant and
Liberal Internationalism: sovereignty, justice, and global reform, Palgrave Macmillan, New York.
11
Xem thêm: Muhadi Sugiono, Logics for Peace: ASEAN and the Regional of Peace in Southeast Asia, Bài
diễn văn trong Hội thảo “ASEAN: 40 năm nhìn lại và hướng tới” tổ chức tại Đại học Quốc gia Hà Nội ngày
19/07/2007; & Mary Parrel, Peter Pogany (2000), Globalization and Regional Economic Intergration:
Problems and Prospects, Instuitute for International Relation, Hanoi.
13
mắt, tập trung vào duy trì hợp tác vì lợi ích lâu dài trong tương lai.
Chủ nghĩa Tự do cho rằng có thể thúc đẩy tự do cá nhân, tự do thương mại,
thịnh vượng và phụ thuộc lẫn nhau, quyền quốc gia tự quyết, và an ninh tập thể, thể
University of Toronto Press, Toronto.
13
Các học giả theo thuyết tự do như Joseph S. Nye (1937 - ) và Robert O. Keohane (1941 - ) đi tiên phong
trong quan điểm này, và nêu ra 4 đặc điểm của tương tác thế giới: (1) Tăng cường liên kết giữa chủ thể quốc
gia và chủ thể phi quốc gia; (2) Một chương trình mới về các vấn đề quốc tế không phân biệt trình độ chính trị
cao hay thấp; (3) Chấp nhận các kênh đa phương cho hợp tác giữa các chủ thể xuyên quốc gia; và (4) Sự suy
giảm về hiệu quả các lực lượng quân sự như là một công cụ quản lý nhà nước. Toàn cầu hóa cho thấy sự tăng
cường liên kết và các kênh tương tác, cũng như số lượng các mối liên kết; Xem thêm: Joseph S. Nye, Robert O.
Keohane (2000) (third edition), Power and Interdependence: World Politics in Transition, Longman, New
York; Joseph S. Nye (2011), The Future of Power, Public Affairs, New York.
14
Chiến tranh lạnh, cái kết mà cả Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Hiện thực chưa thể
hiện được vai trò quan trọng trong dự báo và gặp nhiều khó khăn khi lý giải, thì
thuyết Kiến tạo lại có cơ hội phát triển luận điểm của mình. Một trong những luận
điểm quan trọng đó là nhấn mạnh việc các chủ thể khác nhau nhận thức bản sắc và
lợi ích của mình như thế nào, bản sắc và lợi ích chung như thế nào, từ đó phản ứng
lại với nó ra sao.
Chủ nghĩa Kiến tạo thường nhấn mạnh đến tính chủ quan, có tính duy tâm khi
cho rằng bản chất của các phần tử không phải có sẵn mà do con người kiến tạo nên
về mặt xã hội, tư tưởng và tri thức giúp cấu thành thực tại xã hội, tri thức định hình
các chủ thể giải thích và xây dựng hiện thực xã hội như thế nào. Các học giả Kiến
tạo tập trung sự chú ý vào những diễn biến chính trong tư tưởng (discourse) của xã
hội bởi vì các diễn biến đó phản ánh và làm sâu sắc thêm niềm tin và lợi ích, đồng
thời tạo ra những chuẩn tắc hành vi được chấp nhận. Các yếu tố bản sắc, lợi ích và
văn hóa của phần tử hình thành từ sự tiếp thu thông qua xã hội hóa. Sự tiếp thu tri
thức tập thể (giáo dục), những tiến bộ được thừa nhận, sự thay đổi tri thức, chu kỳ
sống của chuẩn mực là cơ chế tạo nên sự thay đổi. Các quy luật, chuẩn mực xã hội
điều chỉnh các hoạt động, và gắn kết các hoạt động này. Chủ nghĩa Kiến tạo tập
trung vào tìm hiểu cách thức xây dựng cấu trúc về đặc điểm và lợi ích của các chủ
thứ nhất bắt nguồn trực tiếp từ nghiên cứu ban đầu của học giả Deutsch về hội nhập.
Nó liên quan đến một cái nhìn của cộng đồng đang phát triển nhấn mạnh vào hai ý
tưởng trung tâm. Thứ nhất, đặc điểm của những mối quan hệ liên quốc gia (hay
chính xác hơn Deutsch gọi là liên xã hội) bên trong một cộng đồng như vậy nên
được hiểu trong những giới hạn về ý thức cộng đồng “we-ness”, thông cảm lẫn
nhau, lòng trung thành và bản sắc chia sẻ. Điều này sẽ có khả năng được dựa trên
nguyên tắc chia sẻ, chuẩn mực và những hiểu biết chung, chứ không phải là tính
thực dụng hay sự kết hợp tạm thời vì những lợi ích trước mắt. Và thứ hai là, quá
trình hình thành một cộng đồng như thế theo một cách nào đó có liên quan đến tính
tương hợp của những giá trị xã hội lớn và các quá trình truyền thông xã hội dựa trên
sự gia tăng mức độ trao đổi giữa các xã hội.
Chủ nghĩa Kiến tạo nhấn mạnh sự tương đồng cấu trúc thể chế, quan sát
những tổ chức có cùng môi trường theo thời gian sẽ giống nhau. Nói cách khác, nếu
một khi đã có sự đa dạng của mô hình trong cộng đồng, theo thời gian sự đa dạng sẽ
biến đổi để phù hợp và hội tụ xunh quanh một mô hình duy nhất. A.Wendt, một
trong những đại diện tiêu biểu nhất của thuyết Kiến tạo, cho rằng vấn đề thực ra là
người ta hiểu thế nào về tình trạng vô chính phủ, nhấn mạnh tới quá trình ý tưởng
14
Nicholas Onuf (1941 - ) đã sử dụng thuật ngữ “ chủ nghĩa kiến tạo” lần đầu tiên trong nghiên cứu năm
1989 World of Our Making: Rules and Rule in Social Theory and International Relations, University of
South Carolina Press, Culumbia ; Alexander Wendt (1994), Collective Identity Formation and the
International State, The American Political Science Review, Vol.88 (no.2), pg.384-396; Robert Jackson and
Georg Sorensen (2010) (4th Edition), Introduction to International Relations: Theories and Approaches,
Oxford University Press, New York.
16
được hình thành và bản sắc được xây dựng như thế nào, chúng phát triển ra sao và
tác động thế nào đến cách quốc gia hiểu và phản ứng đối với hoàn cảnh của mình,
những diễn biến trong tư tưởng, nhận thức có khả năng định hình quá trình các chủ
Chủ nghĩa Kiến tạo cho rằng quá trình hình thành thể chế quốc tế phụ thuộc
vào nhận thức của các quốc gia về các vấn đề quốc tế và những trải nghiệm chung
giữa các quốc gia. Nếu nhận thức chung về các vấn đề quốc tế được hình thành giữa
các quốc gia thì các quốc gia có xu hướng hợp tác và dễ đi đến thỏa thuận hơn. Các
quốc gia sẽ tăng cường sự hiểu biết những khác biệt về văn hóa xã hội của nhau
trong khu vực. Thông qua trao đổi thông tin và tham vấn, giới chức chính phủ các
nước sẽ tăng cường các cam kết hợp tác, đưa ra ý tưởng về chính sách, tạo dựng
một cảm nhận bản sắc chung của khu vực. Hợp tác giữa các quốc gia có cảm nhận
chung về khu vực sẽ có tính khả thi cao hơn [166, tr.253].
Bảng so sánh một số quan điểm cơ bản liên quan đến hợp tác chính trị - an
ninh của các lý thuyết Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Kiến
tạo
15
: Quan điểm
Chủ nghĩa Hiện thực
Chủ nghĩa Tự do
Chủ nghĩa Kiến tạo
Chủ thể
Quốc gia
Quốc gia, phi quốc gia (các
công ty xuyên quốc gia,
các tổ chức quốc tế, v.v)
Cá nhân, giới tinh
hoa (elite), quốc gia,
chỉ như công cụ tạm
Quan hệ cạnh tranh, phụ
thuộc lẫn nhau, nhưng có
thể thành lập cơ chế an
ninh tập thể, chia sẻ lợi ích
và nó được củng cố, hỗ trợ
bằng các thể chế thương
Không đề cao, nhưng
nhấn mạnh đến hình
thức cộng đồng an
ninh toàn cầu và khu
vực được tạo dựng
dựa trên quy phạm
chung, chia sẻ lợi ích,
15
Tham khảo Slide Bài giảng Lý thuyết Quan hệ quốc tế của PGS.TS Hoàng Khắc Nam, Khoa Quốc tế học,
Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.
18
thời
mại tự do, dân chủ, v.v
bản sắc tập thể.
quyền, lĩnh vực phi quân
sự và các hình thức thể chế
hóa chức năng, bao gồm cơ
chế hợp tác chính trị - an
ninh chung, dựa trên cơ sở
những thỏa thuận, ràng
buộc lợi ích, ràng buộc
pháp lý, v.v (Các thể chế,
tổ chức có vai trò quan
trọng và tạo ra động lực
hợp tác).
Xã hội hóa thông qua
những ý tưởng và thể
chế có nguyên tắc,
chuẩn mực chung. Có
thể chuyển ý tưởng
nhận thức của cá thể
thành của tập thể,
thay đổi nhận thức
xác định hành vi của
chủ thể, bao gồm việc
xây dựng kinh tế và
an ninh để khuyến
khích thương mại tự
do và quản lý các
tranh chấp gia tăng
thông qua các hình
thức như cộng đồng
an ninh