Nghiên cứu phát triển thư viện điện tử trong các trường đại học trên bản địa Hà Nội hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Phạm Thị Mai

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN

Hà Nội - 2009
MỤC LỤC

NỘI DUNG
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chương 1. THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
10
1.1. Thư viện điện tử
10
1.1.1. Khái niệm thư viện điện tử
10
1.1.2. Các yếu tố cấu thành TVĐT
15
1.1.2.1. Người dùng tin điện tử
15
1.1.2.2. Vốn tài liệu điện tử
16
1.1.2.2.1. Nguồn tài nguyên điện tử
16
1.1.2.2.2. Siờu dữ liệu
18
1.1.2.3. Cán bộ thư viện điện tử
19
1.1.2.4. Cơ sở vật chất, kỹ thuật

học trên địa bàn Hà Nội hiện nay
45
2.2.1. Người dùng tin điện tử
45
2.2.2. Vốn tài liệu điện tử
48
2.2.3. Nguồn nhõn lực
50
2.2.4. Cơ sở vật chất, kỹ thuật
53
2.2.4.1. Tổ chức và trụ sở làm việc
53
2.2.4.2. Trang thiết bị
54
2.2.4.3. Phần mềm thư viện
56
2.2.4.4. Kinh phí đầu tư
58
2.2.5. Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện
58
Chương 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
61
3.1. Xây dựng chính sách phát triển thư viện điện tử phự hợp
61
3.1.1. Mục tiờu của chớnh sỏch
61
3.1.2. Nội dung của chớnh sỏch
61
3.1.2.1. Chính sách phát triển thư viện điện tử tầm vĩ mô

86
3.5. Đào tạo người sử dụng
89
3.6. Tăng cường chia sẻ và khai thác nguồn lực thông tin
90
3.6.1. Phỏt triển cỏc sản phẩm và dịch vụ thông tin điện tử
90
3.6.2. Bảo quản kho tư liệu điện tử
91
3.6.3. Xây dựng hệ thống thông tin thư viện đại học trên địa bàn Hà
Nội
92
3.6.4. Vấn đề bản quyền trong việc phát triển TVĐT
94
DANH MỤC CÁC Kí HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

1.
Cơ sở dữ liệu
CSDL
2.
Cụng nghệ thụng tin
CNTT
3.
Đại học
ĐH
4.
Đại học Quốc gia

nghệ thông tin (CNTT), xu thế hình thành xã hội thông tin (TT) toàn cầu thì TT có
vai trò vô cùng quan trọng. TT là nguồn lực phát triển của mỗi quốc gia: TT không
bao giờ mất đi hoặc cạn kiệt khi được sử dụng mà ngược lại càng sử dụng thì giá trị
càng cao. TT là cơ sở cho sự phát triển sản xuất bởi TT có thể làm rút ngắn quy
trình sản xuất thông qua quá trình chuyển giao. Đồng thời TT còn là cơ sở cho sự
phát triển khoa học bởi khoa học luôn có sự kế thừa và phát triển, TT trước làm tiền
đề cho sự nghiên cứu khoa học sau này. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống TT – thư
viện (TV) hiện đại là việc làm rất cần thiết nhằm tạo lập được nguồn tin phong phú,
đa dạng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dùng tin, tạo động lực cho sự phát triển
mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, sản xuất, khoa học và công nghệ.
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nêu: “Phát triển mạnh, kết hợp
chặt giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát
huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và phát triển kinh tế tri thức. Thống nhất định hướng giữa phát triển khoa học
và công nghệ với chấn hưng giáo dục và đào tạo, phát huy quan hệ tương tác thúc
đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu này” đã tạo đà cho sự phát triển
khoa học công nghệ trong giáo dục. Muốn phát triển kinh tế tri thức phải có TT.
Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban CNTT thì “Kinh tế tri thức là nền
kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định
đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”. Mặt
khác, việc tiếp nhận vốn tri thức lại không dễ như tiếp nhận đồng vốn. Việc chuyển
giao, tiếp nhận phải thông qua giáo dục đào tạo. Giáo dục đào tạo do đó trở thành
ngành sản xuất vốn tri thức - ngành sản xuất cơ bản nhất, quan trọng nhất trong nền
kinh tế tri thức. 2

Tuy nhiên, để giáo dục đào tạo phát triển, ngoài những nhân tố như chương
trình học, trình độ, phương pháp của cán bộ giảng dạy còn có nhân tố khác đóng vai


Những năm gần đây, khái niệm TVĐT xuất hiện nhiều trong các tài liệu
nghiên cứu. Tuy nhiên, việc phát triển TVĐT trong các trường ĐH nói riêng chưa
được quan tâm nghiên cứu.
Vấn đề xây dựng TV hiện đại ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan
tâm chỉ đạo. Ngày 4 tháng 5 năm 2007 Bộ Văn hóa - TT ra Quyết định số
10/2007/QĐ- BVHTT phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành TV Việt Nam tới
năm 2010 và định hướng phát triển tới năm 2020” trong đó có nội dung: Ứng dụng
khoa học công nghệ cao nhằm tự động hóa, hiện đại hóa trong khâu hoạt động của
TV. Phát triển TVĐT và TV kỹ thuật số. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có
trình độ chuyên môn cao và ngoại ngữ thông thạo, không những làm việc tốt ở
trong nước mà còn làm việc tốt ở nước ngoài dưới dạng chuyên gia hoặc hợp tác
giao lưu trao đổi TT. Sưu tầm, bảo tồn và phát huy vốn di sản văn hóa trong TV
theo phương pháp hiện đại dựa vào CNTT phát triển ở mức cao. Hình thành 3 trung
tâm bảo quản vùng tại Hà Nội, Huế, Tp Hồ Chí Minh. Số hóa 100% tài liệu quý
hiếm trong TV”.
Dưới sự chỉ đạo đó nhiều cơ quan TT - TV đã tiến hành xây dựng TVĐT
nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước. Tuy nhiên, vấn đề này còn mới mẻ
nhất là đối với TTTT - TV các học viện, trường ĐH, cao đẳng (gọi chung là TV
ĐH) do thiếu kinh nghiệm và chưa có phương pháp luận khoa học cụ thể trong việc
phát triển TVĐT. TV dưới các hình thức biến thể khác nhau, là một yếu tố cấu
thành của trường ĐH và là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực cho đất nước. Tuy nhiên, cho đến nay việc phát triển TVĐT ở nhiều TV
mới chỉ mang tính phong trào mà chưa có hệ thống, thiếu quy hoạch và tầm nhìn
chiến lược trên cả bình diện quốc gia. Một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay là
cần có sự nghiên cứu chuyên sâu, đưa ra giải pháp phát triển TVĐT cụ thể tại các
TTTT - TV trong các trường ĐH, tạo cơ sở cho sự phát triển đồng bộ, hệ thống.
Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu phát triển thư viện điện
tử trong các trường ĐH trên địa bàn Hà Nội hiện nay”.


cho TVĐT: nhóm tiêu chí về CNTT, tiêu chí về chuẩn nghiệp vụ TT - TV, và nhóm
tiêu chí đối với các phân hệ chức năng và một số lưu ý trong điều kiện ở Việt Nam. 5

Bên cạnh đó còn một số công trình nghiên cứu khác: “Thư viện số (TVS) -
Định nghĩa và vấn đề” của tác giả Cao Minh Kiểm đăng trên Tạp chí TT & Tư liệu
số 3 năm 2000: Phân tích những đặc điểm chủ yếu của TVS, nêu những vấn đề kỹ
thuật, xây dựng kho tài liệu số, xây dựng SDL cần được quan tâm giải quyết khi bắt
tay xây dựng TVS, trao đổi một số ý kiến xung quanh việc xây dựng TVS ở Việt
Nam; Bài viết “TVS với hệ thống mã nguồn mở” của tác giả Nguyễn Minh Hiệp
nêu một số định nghĩa TVS, những phần mềm nguồn mở TVS tiêu biểu; Bài viết
của tác giả Phùng Ngọc Sáng với nhan đề “Một số khái niệm - thuật ngữ về TVĐT,
TVS” phân biệt giữa các khái niệm liên quan đến TVĐT. Bài “Giải pháp xây dựng
các bộ sưu tập tài liệu số” của tác giả Nguyễn Hữu Ty nêu sự khác nhau của các
khái niệm như TVĐT, TVS, ý nghĩa của bộ sưu tập số, các giải pháp xây dựng bộ
sưu tập tài liệu số gồm lựa chọn tài liệu đầu vào, lựa chọn công nghệ, số hoá nguồn
tài liệu.
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu trong các Kỷ yếu Hội thảo khoa
học tiếp cận xây dựng TVS ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị ngành TT Khoa học và
công nghệ - Lần thứ V, và gần đây nhất là Kỷ yếu hội thảo quốc tế về TVS lần thứ
X tại Hà Nội năm 2007 với một số bài tiêu biểu như: “Xây dựng và phát triển
TVĐT trong hệ thống TV ĐH ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huy Chương, bài
viết “Liên hợp TV về các nguồn tin điện tử, hiện trạng và xu hướng khai thác các
nguồn tin điện tử của Việt Nam” của tác giả Trần Thu Lan và Đào Mạnh Thắng,…
Theo thống kê từ các cơ sở đào tạo sau ĐH, có một số công trình nghiên cứu:
“Tìm hiểu việc xây dựng và khai thác tài liệu điện tử tại Trung tâm TT-TV Đại học
Quốc gia (ĐHQG) Hà Nội” của tác giả Trần Thị Tâm; Luận văn thạc sỹ năm 2003
của tác giả Nguyễn Hoàng Sơn với đề tài “Xây dựng mô hình thư viện điện tử ở Việt

ĐH trên địa bàn Hà Nội. Nhận xét, đánh giá hiệu quả của việc phát triển TVĐT ở
Hà Nội nói riêng và phát triển giáo dục trong các trường ĐH ở Việt Nam nói chung.
Nhiệm vụ 4: Đề xuất giải pháp phát triển TVĐT
4. Giả thuyết nghiên cứu
Phát triển TVĐT ở các trường ĐH còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu
cầu đổi mới đào tạo bởi sự phát triển đó thiếu căn cứ, chưa khoa học và hệ thống.
Khả năng thực hiện trong thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn. Vậy các giải pháp đưa
ra xuất phát từ thực trạng phát triển TVĐT trong các trường ĐH sẽ hỗ trợ cho sự 7

phát triển TVĐT trong các trường ĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội tốt hơn, góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới
của đất nước.
5 . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý thuyết về TVĐT và phát
triển TVĐT trong các trường ĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội. Thực tiễn phát
triển giáo dục nói chung và phát triển giáo dục ĐH nói riêng đòi hỏi phải có hệ
thống TV hiện đại, đặc biệt là TVĐT trong các trường ĐH.
Mâu thuẫn chính hiện nay đó là sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, nhu cầu
cấp thiết của phát triển giáo dục với hiện trạng phát triển TVĐT trong các trường
ĐH ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng. Xuất phát từ thực tiễn đó đòi hỏi
phải nghiên cứu hiện trạng phát triển TVĐT trong các trường ĐH một cách đồng bộ
từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển.
Trong phạm vi một luận văn thạc sỹ chuyên ngành khoa học TV, tác giả giới
hạn nghiên cứu gồm các hướng sau:
+ Phân tích các khái niệm cơ sở liên quan đến TVĐT, các yếu tố cấu thành
TVĐT. Vai trò của TVĐT với việc phát triển giáo dục ĐH ở Việt Nam. Khái quát
về giáo dục ĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vai trò của TVĐT đối với hệ thống

một số trường ĐH ở Việt Nam.
* Trên cơ sở đó, đánh giá, đề xuất giải pháp phát triển TVĐT trong các
trường ĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm khắc phục vướng mắc.
Về mặt ứng dụng
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn bởi những vấn đề được giải quyết trong luận văn
có thể được vận dụng để phát triển TVĐT trong các trường ĐH trên địa bàn Hà Nội
nói riêng cũng như các trường ĐH ở Việt Nam nói chung. Trong bối cảnh hiện nay,
không phải bất kỳ một cơ quan TT - TV nào cũng đủ nguồn lực để đáp ứng mọi nhu
cầu của người dùng tin. Đề tài góp phần vào việc tạo sự đồng bộ, thống nhất trong
việc trao đổi TT, chia sẻ nguồn lực giữa các trường ĐH.
Như vậy, với việc nghiên cứu một cách toàn diện để hiểu bản chất các khái
niệm có liên quan, chứng minh vai trò của TVĐT đối với phát triển giáo dục, đề
xuất giải pháp trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng phát triển TVĐT tại một số trường 9

ĐH ở Hà Nội sẽ mang lại cách tiếp cận khoa học để phát triển TVĐT trong các
trường ĐH ở Hà Nội.
8. Dự kiến kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài kết quả sẽ đạt được cụ thể như sau:
Hiểu rõ bản chất một số khái niệm có liên quan đến TVĐT.
Đánh giá và nhận thức đúng vai trò của TVĐT đối với phát triển giáo dục
ĐH ở Hà Nội cũng như ở Việt Nam.
Nhìn nhận toàn diện hiện trạng phát triển TVĐT trong các trường ĐH ở Hà Nội.
Hình thành giải pháp phát triển toàn diện TVĐT trong các trường ĐH ở Hà
Nội trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn.
9. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3
chương:

điện tử mới, nhà sách trực tuyến, thương mại điện tử (E – commerce), truyền hình
kỹ thuật số (Digital television), môi trường học tập tích hợp (intergrated learning
environment), trường đại học (ĐH) điện tử (E – Universities), truyền thông di động
(mobile Communication), in ấn theo nhu cầu (Printed in Demand). Nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng có hai lý do để có nhiều cách hiểu khác nhau về các khái niệm:
Thứ nhất: chưa có định nghĩa rõ ràng, nhiều thuật ngữ khác nhau đã được
cộng đồng TV dùng trong một thời gian dài để đề cập đến khái niệm TVĐT, TVA,
TV không tường mà không xác định rõ ràng nội hàm các thuật ngữ ấy khác nhau
như thế nào.
Thứ hai: nhiều lĩnh vực không phải TV dùng thuật ngữ TVĐT, TVS để chỉ
những khái niệm không phải là TV theo quan niệm của người làm công tác TV.[16]
Theo Hiệp hội nghiên cứu TV (Association of Research Library) thì các
thuật ngữ như TVĐT, TVS, TVA được sử dụng với cùng một nội dung [31, tr.8]
Theo quan điểm của Collier (1995) thì TVĐT được định nghĩa như là một
môi trường gồm các tài liệu dưới dạng điện tử, được cấu trúc nhằm cung cấp một
lượng TT lớn thông qua các máy tính hoặc các mạng viễn thông quốc tế [47, tr.6]. 11

Theo đó Collier đã chú trọng đến loại hình tài liệu được lưu giữ và sử dụng
trong TVĐT chủ yếu là tài liệu điện tử.
Gary Gorman thì cho rằng TVĐT chính là TVS [47, tr.6].
Phillip Barker (1997) cho rằng: Trong TVĐT có sử dụng rộng rãi máy tính
và các phương tiện hỗ trợ khác (bảng tra trực tiếp, tìm văn bản đầy đủ, lưu các biểu
ghi tự động hoá, ra các quyết định bằng máy tính,…) Tác giả nhấn mạnh đặc trưng
của TVĐT là sử dụng phổ biến các phương tiện điện tử trong lưu trữ, tìm kiếm và
cung cấp TT. Theo ông trong TVĐT, ngoài ấn phẩm điện tử vẫn còn tồn tại cả sách
truyền thống [47, tr.6].
Tác giả Sylvie Tellier (1997) người Canada đưa ra định nghĩa như sau:

cập và hiển thị đều sử dụng kỹ thuật số” [18]. Quan điểm của tác giả cũng cho rằng
nguồn lực TT của TVĐT bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã số hoá.
Như vậy, với những quan điểm khác nhau, đến nay vẫn chưa có sự phân biệt
rõ ràng giữa các khái niệm này. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu chung lại
TVĐT có một số đặc điểm sau:
- TV phải có vốn tư liệu điện tử (là những tư liệu được lưu trữ dưới dạng
điện tử sao cho có thể truy nhập được bằng các thiết bị tin học).
- Phải được tin học hoá, phải có một hệ quản trị TV tích hợp (bổ sung, biên
mục, quản trị xuất bản phẩm định kỳ, kiểm soát lưu thông tư liệu, tổ chức mục lục
truy nhập công cộng trực tuyến,…) phải nối mạng (ít nhất là mạng cục bộ).
- Phải cung cấp và tạo điều kiện cho người sử dụng các dịch vụ điện tử (yêu
cầu và gia hạn mượn qua mạng, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu (CSDL), truy nhập
và khai thác các nguồn tin tại chỗ và với tới các nguồn tin ở nơi khác).
Tóm lại: TVĐT là TV trong đó có môi trường gồm các tài liệu điện tử, được
cấu trúc nhằm cung cấp thông tin thông qua các máy tính và các mạng viễn thông.
Thư viện số:
Như trên đã nói theo Hiệp hội nghiên cứu TV (Association of Research
Library) các thuật ngữ như TVĐT, TVS, TVA được sử dụng với cùng một nội
dung. Tuy nhiên, còn có các quan điểm khác nhau không chỉ ở Việt Nam mà cả thế 13

giới, để hiểu rõ bản chất của các khái niệm TVS, TVA, TV đa phương tiện, cần có
sự phân tích cụ thể như sau:
TVS theo quan điểm của liên đoàn TVS (1993): “Các TVS là các tổ chức
cung cấp các nguồn lực – tài nguyên, bao gồm cả các chuyên gia để lựa chọn, cấu
trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phiên dịch, phân phối, bảo
đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các bộ sưu tập số để cho một cộng đồng hoặc
một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định luôn có thể sử dụng một cách

- Bao gồm các quá trình và dịch vụ nòng cốt và trung tâm của hệ thống TV.
Tuy nhiên, các quá trình và dịch vụ truyền thống sẽ phải được thay đổi cho phù hợp
với TVS;
- Cung cấp TT có trong TV mà không phụ thuộc vào loại hình và khổ mẫu
của chúng;
- Phục vụ một hoặc một số cộng đồng bạn đọc/người dùng tin, nhưng khác
với TV truyền thống, những cộng đồng này có thể phân tán, đến khai thác TV thông
qua mạng máy tính;
- Cần có các cán bộ với kỹ năng của người cán bộ TV cũng như kỹ năng của
người cán bộ tin học.
Quan điểm của tác giả Vũ Văn Sơn cho rằng: TVS là tập hợp các thiết bị tính
toán, lưu trữ và truyền thông số với nội dung và phần mềm để tái tạo, thúc đẩy và
mở rộng các dịch vụ của TV truyền thống (thu thập, biên mục, tìm kiếm và phổ biến
TT). Một TVS hoàn chỉnh phải thực hiện tất cả các dịch vụ cơ bản của TV truyền
thống kết hợp với việc khai thác các lợi thế của công nghệ lưu trữ, tìm kiếm và
truyền thông số [32]. Ông cũng cho rằng TVS là bước tiến xa hơn của TVĐT, cho
phép đọc được TT toàn văn sau khi số hoá hầu hết tư liệu, đặc biệt là các tư liệu
dưới dạng đồ họa (như tranh ảnh, bản đồ,…) và đa phương tiện (multimedia) nói
chung. Quan điểm của tác giả Vũ Văn Sơn cũng đồng nhất với quan điểm của
Philip Baker là phân biệt giữa TVĐT và TVS: TVĐT lưu trữ và phục vụ cả ấn
phẩm lẫn tư liệu điện tử (tư liệu số hoá) trong khi đó TVS chỉ lưu trữ các tư liệu
điện tử mà thôi.
Trong bài viết “TVS - định nghĩa và vấn đề” của tác giả Cao Minh Kiểm đưa
ra quan điểm: “sẽ là không thực tế khi cho rằng TVS sẽ là một hệ thống hoàn toàn
số hoá, cho phép truy cập tức thì mọi TT từ mọi lĩnh vực của xã hội từ bất kỳ nơi 15

nào trên thế giới. TVS sẽ là một tập hợp của các nội dung đa dạng và những hệ


không gian, thông qua môi trường điện tử người dùng tin có thể truy cập trực tuyến
đến các nguồn tin bất cứ khi nào họ cần, ở bất cứ đâu.
Người dùng tin trong môi trường TT điện tử rất đa dạng, khó xác định bởi
tính phi không gian của nó. Với tính chất là kho TT điện tử thì ở bất cứ đâu cũng có
thể truy cập được TT mình cần. Chính vì vậy, có thể nói người dùng tin điện tử
phong phú hơn, đa dạng hơn, “mềm hơn” người dùng tin truyền thống.
Nếu như với thế giới người dùng tin là khó xác định thì cộng đồng người
dùng lại rất dễ xác định bởi nó được hình thành tại một địa điểm cụ thể.
Người dùng tin có thể tương tác với nguồn tin để tìm được TT cần thiết cho
nhu cầu của mình. Trong môi trường TVĐT, giao diện ở đây là số như trang web,
cho phép người dùng tin sử dụng TT thông qua chiến lược tìm kiếm phù hợp, bên
cạnh đó còn cung cấp dịch vụ tư vấn và những TT phản hồi từ phía người dùng tin.
Trong môi trường TVĐT cần có giao diện chuyển đổi, một mặt đảm bảo thực
hiện chức năng phiên dịch yêu cầu tin của người dùng tin thông qua các toán tử,
mặt khác thảo thuận các điều khoản và trình bày TT cho người sử dụng. Với giao
diện này, người dùng tin có thể lựa chọn bất cứ TT nào cần. Đồng thời có thể đưa ra
ý kiến phản hồi về TT đó.
Để có được giao diện với nguồn tin cần có tập hợp TT xác định và đó chính
là tập hợp các đối tượng số có trong kho TT của TVĐT.
Ngoài ra, để có thể tìm kiếm được TT trong môi trường TVĐT còn cần có
các SDL nguồn, tức là những dữ liệu về các đối tượng số. SDL có tác dụng giúp cán
bộ TV quản lý, tổ chức kho TT, giúp người dùng tin trong quá trình thực hiện chiến
lược tìm tin của họ.
Khác với thế giới người dùng tin, thế giới TT là bất kỳ TT nào trên thế giới,
dưới bất kỳ hình thức và khổ mẫu nào.
1.1.2.2. Vốn tài liệu điện tử
1.1.2.2.1. Nguồn tài nguyên điện tử
Trong lịch sử phát triển, vốn tài liệu đã từng xuất hiện là sách trên đất sét,
giấy papirut, giấy da, đến thế kỷ XV xuất hiện sách dưới dạng in. Từ thế kỷ XV,

như văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh và hình ảnh động trong cùng một tài liệu.
- Khả năng cho phép nhiều người sử dụng cùng một tài liệu một lúc.
- Khả năng cập nhật dữ liệu nhanh chóng và thường xuyên. 18

Nhược điểm:
- Tính an toàn TT dễ bị vi phạm, do việc sao chép TT từ các tài liệu điện tử
rất dễ dàng, nhanh chóng.
- Tính ổn định của TT thường không đồng nhất, có tài liệu thì rất ổn định,
tồn tại lâu dài như các tài liệu ghi trên CD-ROM, DVD-ROM nhưng lại có những
tài liệu có đời sống rất ngắn.
1.1.2.2.2. Siêu dữ liệu (SDL - metadata)
SDL được cấu trúc, mã hoá dữ liệu để miêu tả những đặc tính của những
thực thể mang TT nhằm trợ giúp cho việc mô tả, khám phá, quản trị và truy cập các
thực thể được miêu tả.
Trước tiên chúng ta hãy định nghĩa SDL là gì? Một định nghĩa chung nhất
cho SDL đó là “dữ liệu về dữ liệu”. Định nghĩa này thoạt nghe sẽ cảm thấy cuốn
hút, nhưng nó không giúp chúng ta hiểu toàn bộ SDL là gì nhưng thực chất SDL là
thông tin được cấu trúc, điều này có nghĩa là nó thuộc phạm trù sáng tạo của con
người, và chúng ta không tìm thấy trong tự nhiên.
Ngoài ra còn có định nghĩa khác của Dempsey và Heery, 1997 như sau:
“SDL là dữ liệu đi kèm cùng với đối tượng TT và nó cho phép những người sử dụng
tiềm năng có thể biết trước sự tồn tại cũng như đặc điểm của đối tượng TT
này”[31, tr.17].
Mục đích đầu tiên và cốt yếu nhất của siêu SDL là góp phần mô tả và tìm lại
các tài liệu điện tử trên mạng Internet. Sự phát triển mạnh mẽ của Internet đã tạo ra
sự bùng nổ của các loại dữ liệu đa dạng ở dạng số, văn bản, hình ảnh, âm thanh,
hình ảnh động, tài liệu đa phương tiện. Những tài liệu số này có thể truy cập được

người đầu tiên tạo ra đối tượng TT tạo nên.
- Tình trạng: Có thể là SDL ổn định không bao giờ biến đổi từ khi được tạo
ra, hoặc SDL biến đổi do thường thay đổi trong quá trình vận hành đối tượng TT.
Hoặc SDL dài hạn cần thiết cho việc truy cập và sử dụng đối tượng TT, hoặc SDL
ngắn hạn TT về bản chất của quá trình hoạt động TT.
1.1.2.3. Cán bộ thư viện điện tử:
Tổ chức, xây dựng và phát triển của một TV có đúng hướng và phát huy hiệu
quả tích cực hay không đều tùy thuộc vào người cán bộ TV. Hay nói cách khác
người cán bộ TV là linh hồn của TV. Ở TV truyền thống, yêu cầu đối với cán bộ

Trích đoạn TTTTTV Trường ĐH Luật Hà Nộ TTTTTV Trường ĐH Điện lực. Người dùng tin điện tử Cơ sở vật chất, kỹ thuật 1 Tổ chức và trụ sở làm việc Trang thiết bị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status