Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc trẻ em ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ VÂN ANH

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC
PHI CHÍNH PHỦ QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC
GIÁO DỤC VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 603140


5
Nguồn tài liệu
10
6
Phương pháp nghiên cứu
11
7
Cấu trúc luận văn
11
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỔ CHỨC PCPQT Ở VIỆT NAM

1.1
Khái niệm tổ chức PCP
13
1.2
Khái quát hoạt động của các tổ chức PCPQT tại Việt Nam trước
năm 1986
17
1.3
Quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPQT tại Việt Nam từ
năm 1986 đến nay
19
1.4
Tiểu kết
22
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PCPQT TRONG LĨNH VỰC
GD&CSTE Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

2.1
Khái quát tình hình hoạt động GD&CSTE ở Việt Nam từ 1986

49
2.3.2.
Trường hợp 2 - Ủy ban Y tế Hà Lan –Việt Nam
60
2.4.
Tiểu kết
65
Chương 3: TRIỂN VỌNG HOẠT ĐỘNG VIỆN TRỢ CỦA CÁC TỔ
CHỨC PCPQT TRONG LĨNH VỰC GD&CSTE Ở VIỆT NAM

3.1.
Đánh giá mối quan hệ giữa các tổ chức PCPQT và các đối tác
Việt Nam trong lĩnh vực GD&CSTE
67
3.2.
Triển vọng hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPQT trong lĩnh
vực GD&CSTE
71
3.3.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ
chức PCPQT tại Việt Nam
72
3.4.
Tiểu kết
78
KẾT LUẬN
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
87


GD&CSTE
Giáo dục và chăm sóc trẻ em
CT-XH
Chính trị - xã hội
PACCOM
Ban điều phối viện trợ nhân dân
VUFO
Trung tâm Dữ liệu các tổ chức phi chính phủ
UBND
Uỷ ban nhân dân
NXB
Nhà xuất bản
VUSTA
Liên hiệp các hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam
ĐCSVN
Đảng Cộng sản Việt Nam
NGO
Non - Governmental Organization

Coopération Internationale pour le Dévelopement et la
Solidarité
Tổ chức Hợp tác Quốc tế về Phát triển và Đoàn kết
CRS
Catholic Relief Services
Tổ chức Cứu trợ Cơ đốc giáo
ChildFund
ChildFund in Vietnam
Quỹ ChildFund tại Việt Nam
CWS
Church World Service
Tổ chức Thế giới Nhà thờ
GCSF
Global Community Service Foundation
Quỹ Phục vụ Cộng đồng Toàn cầu
MCNV
Medicine Committee of Netherland Vietnam
Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam
OS
Operation Smile
Tổ chức Phẫu thuật Nụ cười
Oxfarm GB
Oxfarm Great Britain
Tổ chức Oxfarm Anh
Oxfarm HK
Oxfarm Hongkong
Tổ chức Oxfarm Hồng Kông
WWF
World Wide Fund
Quỹ Bảo tồn động thực vật hoang dã Thế giới

PHỤ LỤC 7: Mẫu phiếu phục vụ điều tra, khảo sát (Mẫu 1: tiếng Việt + Mẫu 2:
tiếng Anh)

PHỤ LỤC 8: Danh sách phỏng vấn

PHỤ LỤC 9: Sơ đồ tổ chức của Ủy ban Công tác về các tổ chức PCP nước ngoài

6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Tên các bảng biểu Số trang
Bảng 2.1: Ngân sách viện trợ PCPQT từ năm 1986-2009

29
Bảng 2.2: Tỷ lệ ngân sách viện trợ PCPQT cho trẻ em Việt Nam ở 3
lĩnh vực chính giai đoạn 1986 – 2009

31
Bảng 2.3: Ngân sách viện trợ lĩnh vực y tế dành cho trẻ em từ năm
1986 đến năm 2009


đồng quốc tế. Khi thực hiện chính sách đổi mới trong phát triển kinh tế và cải
thiện quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, Việt Nam đã tạo đươc cơ hội
để thu hút nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có các tổ chức phi chính phủ quốc tế
(PCPQT) đến Việt Nam để trợ giúp công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Các tổ
chức PCPQT có hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực tại Việt Nam, nhưng trong đó
đặc biệt phải kể đến các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, văn hoá, phát triển
cộng đồng, chăm sóc trẻ em, nhân đạo, phòng chống HIV, hạn chế hậu quả chiến
tranh…
Sự hiện diện của các tổ chức PCPQT tại Việt Nam thực sự có tác dụng rõ
rệt. Khi Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề xã hội
thì sự giúp đỡ của các tổ chức PCPQT là nguồn lực quý báu, trong đó hoạt động
PCPQT dành cho lĩnh vực giáo dục và chăm sóc trẻ em (GD&CSTE) đã để lại
rất nhiều dấu ấn cũng như góp phần cải thiện đáng kể chất lượng dân số của Việt
Nam. Bảo vệ và chăm sóc trẻ em được xác định là công tác “trồng người” và
được Nhà nước Việt Nam quan tâm từ rất sớm, song đây cũng là một trong

8
những nhiệm vụ gặp nhiều khó khăn nhất của xã hội. “Trồng người” không chỉ
là vấn đề của hiện tại, mà còn là vấn đề nhân văn và có ý nghĩa lâu dài đối với
đất nước. Đảng và Nhà nước luôn luôn đánh giá cao và rất có ý thức đối với các
mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống dành cho trẻ em Việt Nam. Nhiều kết
quả nghiên cứu cho thấy chất lượng của sống của các em đã được cải thiện đáng
kể sau hơn 20 năm đổi mới. Tuy nhiên, những chính sách và mục tiêu đề ra để
đảm bảo mọi trẻ em đều được bảo vệ và chăm sóc không phải là công việc có thể
thực hiện tốt một sớm một chiều. Hiện nay, Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều khó
khăn trong việc giải quyết những vấn đề nảy sinh khi đất nước bước vào thời kỳ
hội nhập và phát triển, khi mà nền giáo dục không theo kịp bước tiến thời đại và
khoảng cách giàu nghèo, sự chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị
ngày càng lớn. Chính trong bối cảnh ấy, sự hiện diện của các tổ chức PCPQT đã
và đang góp một phần đáng kể trong việc cải thiện thực trạng nêu trên.

trong lĩnh vực GD&CSTE chủ yếu là các báo cáo của các tổ chức tự đánh giá
hiệu quả hoạt động của mình trong một số dự án.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá một cách tổng quát các lĩnh vực hoạt
động của các tổ chức PCPQT trong lĩnh vực GD&CSTE ở Việt Nam từ năm
1986 đến nay, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động của các tổ chức này ở Việt Nam.
- Để hoàn thành mục tiêu trên, luận văn đề ra một số nhiệm vụ nghiên cứu
sau đây:

10
+ Làm rõ bối cảnh ra đời, phát triển của các tổ chức PCPQT ở Việt Nam.
+ Phân tích các yếu tố tác động tới hoạt động của các tổ chức này.
+ Phân tích vị trí và vai trò của các tổ chức PCPQT trong lĩnh vực
GD&CSTE ở Việt Nam.
+ Đánh giá hiệu quả, hoạt động của các tổ chức này, trên cơ sở đó đề
xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các tổ chức
PCPQT nói chung và các tổ chức PCPQT hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và
chăm sóc trẻ em (GD&CSTE) nói riêng ở VN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động của các tổ chức PCPQT trong
lĩnh vực GD&CSTE ở Việt Nam. Các tổ chức này có thể có nguồn gốc xuất xứ
khác nhau, địa bàn, quy chế và phạm vi hoạt động khác nhau.
-Thời gian nghiên cứu: từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới năm
1986 đến nay (2009).
5. Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng một số nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Văn kiện của Đảng, chính phủ, các cơ quan Nhà nước quy định về hoạt
động của các tổ chức PCP tại Việt Nam.
- Các báo cáo của các ban ngành, đoàn thể, cơ quan ở Việt Nam

Chương 3: Phân tích triển vọng hoạt động viện trợ của các tổ chức
PCPQT; nêu một số kiến nghị về chính sách và phương thức hoạt động nhằm

12
tăng cường hiệu quả thu hút viện trợ nước ngoài cho hoạt động giáo dục và chăm
sóc trẻ em Việt Nam.
13
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

Trong khi đó, những tổ chức xã hội dân sự được hình thành bên ngoài lãnh thổ
Việt Nam có trụ sở hoạt động tại Việt Nam thì được gọi là các tổ chức phi chính
phủ quốc tế (PCPQT). Các tổ chức này thường làm những công tác cứu trợ nhân
đạo, hỗ trợ chính phủ Việt Nam trên nhiều lĩnh vực thông qua các chương trình
tài trợ quy mô khác nhau.
Có thể nói rằng từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, các tổ chức PCP ngày
càng nổi lên như một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và
phát triển xã hội. Các tổ chức PCP trở thành hiện tượng có tính toàn cầu đến mức
mà ngày nay người ta đã nói tới một “Cộng đồng PCP”. Dưới nhiều tên gọi khác
nhau, các tổ chức PCP có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới. Trong quá trình phát
triển, bên cạnh những nỗ lực của chính phủ các nước và nhiều tổ chức quốc tế,
hoạt động PCP đã góp phần quan trọng vào quá trình cải thiện tình trạng đói
nghèo ở nhiều nơi trên thế giới cũng như giải quyết nhiều vấn đề xã hội khác,
trong đó đặc biệt chú trọng đến các nạn nhân chịu hậu quả của thiên tai và chiến
tranh, những nhóm người dễ bị tổn thương, bị thiệt thòi trong xã hội. Vai trò của
các tổ chức PCP đang ngày được coi trọng. Họ được coi là những tác nhân thúc
đẩy sự phát triển bền vững, khắc phục nghèo khổ cũng như được thừa nhận trong
vai trò tham gia xây dựng chính sách, bảo đảm dân chủ nhân quyền, xây dựng
quan hệ thương mại bình đẳng giữa các nước đang phát triển. Nhiều hội nghị của
các tổ chức PCP mang tính quốc tế, khu vực được diễn ra song song với các hội

15
nghị của Liên hiệp quốc và hội nghị khu vực hoặc liên khu vực. Tại các diễn đàn
quốc tế quan trọng về những vấn đề toàn cầu hoá, những vấn đề xã hội và
thương mại đều có sự tham vấn của các tổ chức PCP. Đặc biệt, trong quá trình
xây dựng chính sách, các tổ chức quốc tế, thiết chế tài chính quốc tế, Chính phủ
các nước phát triển và một số nước đang phát triển đã hình thành cơ chế tham
vấn, lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức PCP. Tại các nước đang phát triển,
Liên hiệp quốc, các tổ chức liên khu vực và chính phủ các nước phương Tây như
Mỹ, Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Na Uy, Ôxtrâylia, Pháp, Thuỵ Điển, Thuỵ

lượng cuộc sống của người dân Việt Nam, cải thiện chất lượng dân số, đem các
tiến bộ khoa học kỹ thuật của các nước phát triển đến Việt Nam cũng như góp
phần giải quyết được nhiều vấn đề xã hội khác.
Sự đổi mới trong đường lối đối ngoại nói trên thể hiện sự nhận thức của
Đảng và Nhà nước phù hợp với tình hình quốc tế và quan niệm hợp tác quốc tế
đang ngày càng thay đổi sâu sắc. Chính sách mở cửa đã góp phần hỗ trợ và tạo
điều kiện cho các hoạt động viện trợ quốc tế phát triển tại Việt Nam đồng thời
cũng tạo cơ hội để một loạt các mô hình xã hội dân sự ở Việt Nam lần lượt ra
đời. Đặc biệt vào cuối những năm 1990, có thể thấy rằng Việt Nam đã khá thành
công trong các chính sách ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, và điều đó đã góp
phần tạo điều kiện cho sự xuất hiện các tổ chức xã hội dân sự ở nhiều địa
phương trên cả nước như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành khác.
Các tổ chức này hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, theo cơ chế tự chủ về
tài chính và ngân sách hoạt động thường từ các nguồn tài trợ theo dự án của các

17
tổ chức quốc tế và một phần từ ngân sách quốc gia. Sự xuất hiện của nhóm các
tổ chức xã hội dân sự nói trên đã hình thành một cộng đồng và có nhiều đóng
góp tích cực đối với sự phát triển chung của đất nước. Tổ chức PCP nước ngoài
và các tổ chức xã hội dân sự trong nước bắt đầu có sự chia sẻ vai trò đối với Nhà
nước trong nhiều hoạt động xã hội thông qua việc tham gia xây dựng chính sách
quản lý nhà nước trong nhiều lĩnh vực cũng như triển khai một số dịch vụ công.
1.2 Khái quát hoạt động của các tổ chức PCPQT tại Việt Nam trước
năm 1986
Trước tháng 4/1975, nhiều tổ chức PCPQT đã hoạt động tại Việt Nam,
nhưng chủ yếu ở miền Nam. Ở miền Nam Việt Nam, từ năm 1954, các tổ chức
PCPQT bắt đầu hoạt động và số lượng ngày càng tăng. Đến cuối năm 1974 đã có
khoảng trên 60 tổ chức PCPQT hoạt động. Các tổ chức này chủ yếu hoạt động
trong vùng Mỹ - Nguỵ chiếm đóng với mục đích chính là cứu trợ những người di
cư từ Bắc vào Nam và các nạn nhân chiến tranh. Lĩnh vực viện trợ chủ yếu bao

chức đã từng có mặt ở miền Bắc Việt Nam mở rộng chương trình hoạt động.
Nhiều tổ chức PCPQT mới bắt đầu có quan hệ với Việt Nam. Thời kỳ này cũng
có thể coi là một đỉnh cao của hoạt động PCPQT ở Việt Nam thời hậu chiến với
khoảng 70 tổ chức, giá trị viện trợ hàng năm trung bình khoảng 30 triệu USD.
Trong số này có tới 2/3 là các tổ chức PCP của Mỹ. Hoạt động của các tổ chức
chủ yếu là cung cấp thuốc men, lương thực cho những nạn nhân chiến tranh và
thiên tai, một số ít giúp xây dựng bệnh viện, phục hồi chức năng và phát triển
sản xuất công nông nghiệp ở khu vực đô thị và phụ cận tại 20 tỉnh, thành phố.

1
Don Luce - một trong những người lãnh đạo của tổ chức IVS đã cùng một người Pháp phát hiện chuồng cọp
nơi giam giữ các tù nhân chính trị Việt Nam ở Côn Đảo. Dough Hostetter - thành viên của một NGO ở miền
Nam Việt Nam đã lên tiếng phê phán những hành động tiếp tay cho cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam của một
số NGO có nguồn gốc tôn giáo.

19
Với việc Việt Nam đưa quân đội vào giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi
họa diệt chủng của Khơme đỏ, Mỹ và các nước phương Tây đã mở chiến dịch vu
cáo Việt Nam xâm lược Campuchia và thực hiện chính sách bao vây cấm vận
Việt Nam. Một số tổ chức lớn trong đó có những tổ chức nhận tài trợ của chính
phủ các nước phương Tây tạm ngừng hoạt động viện trợ cho nước ta. Một số tổ
chức khác cũng hoạt động cầm chừng. Tuy số lượng các tổ chức PCPQT không
giảm so với năm 1978, nhưng giá trị dự án chỉ bằng khoảng 1/3 so với các năm
trước (khoảng 8-10 triệu USD/năm) và 70% giá trị viện trợ bằng hiện vật dành
cho viện trợ khẩn cấp.
Trong các năm từ 1975 đến 1986, tuy giá trị viện trợ còn khiêm tốn so với
nhu cầu tái thiết đất nước sau chiến tranh nhưng sự đoàn kết và chia sẻ của một
số tổ chức PCPQT thông qua viện trợ nhân đạo cho Việt Nam là rất đáng trân
trọng. Sự giúp đỡ quý báu đó đã góp phần giúp nhân dân một số vùng trong
nước khắc phục hậy quả chiến tranh, ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất.

đến hoạt động của các tổ chức PCPQT tại Việt Nam.
Tuy nhiên, công tác quản lý ở cấp địa phương vẫn còn tồn tại nhiều mô
hình “cơ quan đầu mối về công tác PCP” khác nhau như: Ban/Sở /Phòng Ngoại
vụ, Văn phòng Uỷ ban, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị, Sở kế hoạch và đầu tư,
có tỉnh đã thành lập Uỷ ban công tác PCP với cơ quan đối ngoại của tỉnh là cơ
quan thường trực về công tác PCP. Qua thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt
động này, có thể thấy rằng mô hình nằm trong cơ quan đối ngoại của các
tỉnh/thành phố là chủ yếu và tương đối phù hợp.

21
Để quản lý hoạt động của các tổ chức PCPQT, ở Việt Nam các tổ chức đó
được chia làm một số loại sau đây :
- Quỹ văn hóa - xã hội (tiếng Anh: Foundation): mô hình tổ chức này hoạt
động không vụ lợi dựa trên quỹ riêng của cá nhân, của gia đình hoặc của một
doanh nghiệp, phổ biến ở Mỹ và một số nước Châu Âu. Chương trình hoạt động
của quỹ do các ủy thác viên và giám đốc quỹ thực hiện. Quỹ được thành lập để
duy trì hoặc giúp đỡ các hoạt động giáo dục, xã hội, từ thiện, tôn giáo hoặc các
hoạt động khác phục vụ lợi ích chung chủ yếu bằng các khoản viện trợ không
hoàn lại. Ở Việt Nam có khoảng 20 tổ chức dạng này. Là một loại hình tổ chức
PCP nhưng các quỹ này được xếp thành một phạm trù riêng bởi hoạt động của
họ không trực tiếp triển khai các dự án viện trợ nhân đạo hoặc các dự án phát
triển mà chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực kiến trúc thượng tầng về chính trị,
văn hóa, giáo dục, thúc đẩy cải cách về thể chế và đào tạo, phát triển con người,
thúc đẩy tư nhân hóa. Các quỹ thường có ngân sách lớn, hoạt động ở nhiều nước
và có ảnh hưởng khá lớn đối với chính phủ nước sở tại. Tại Việt Nam, các tổ
chức dạng này có thể kể một số ví dụ như: Ford Foundation, Viện KAS (Konrad-
Adenauer-Stiftung), Viện FES (Friedrich-Ebert-Stiftung), AF (ASEAN Fund -
Quỹ ASEAN), Toyota Foundation (Quỹ Toyota)
- Các tổ chức PCP có nguồn gốc tôn giáo: các tổ chức này ra đời rất sớm
và vào Việt Nam hoạt động từ đầu thế kỷ 19. Với sứ mệnh truyền đạo, cải giáo là

viện trợ nhân đạo vẫn còn ở mức khiêm tốn, nhưng sự hiện diện của các tổ chức
PCPQT ở Việt Nam trong những năm qua đã góp phần đáng kể vào công cuộc

2
Oxfam ban đầu được thành lập tại Anh vào năm 1942. Đây là Ủy ban Cứu trợ Oxford do một nhóm các nhà
hoạt động xã hội, các viện nghiên cứu và Oxford lập nên (bây giờ tổ chức này là Oxfam Anh, vẫn còn có trụ sở
tại Oxford, Vương quốc Anh). Tổ chức này là một trong các uỷ ban được thành lập tại một số địa phương hỗ trợ
của Ủy ban Cứu trợ quốc gia Nạn đói. Nhiệm vụ của họ là để thuyết phục các chính phủ Anh cho phép cứu trợ
lương thực thông qua việc phong tỏa Đồng Minh cho các công dân chịu nạn đói. Các tổ chức Oxfam đầu tiên ở
nước ngoài được thành lập ở Canada vào năm 1963. Ban đổi tên thành địa chỉ điện tín của mình, Oxfam, vào năm
1965 (theo vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20090923202442AAq1TNN)
3
CARE tại Việtnam là tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ, phát triển nông
thôn và phòng chống thiên tai.
4
WWF là một trong những tổ chức phi chính phủ lớn nhất thế giới về bảo vệ thiên nhiên. Tên cũ là Quỹ Động vật
Hoang dã Thế giới hoặc Quỹ Bảo vệ Đời sống Thiên nhiên Thế giới.

23
xây dựng đất nước và giải quyết một số vấn đề xã hội ở Việt Nam, giúp chúng ta
khắc phục những khó khăn trên con đường phát triển. Trong những năm qua,
Việt Nam coi nguồn viện trợ của các tổ chức PCPQT là nguồn ngân sách của
Nhà nước và được ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc tổ
chức quản lý và sử dụng nguồn viện trợ này một cách hiệu quả, đúng mục đích
và đúng thỏa thuận của nhà tài trợ là điều vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó, Việt
Nam cũng cần ổn định hệ thống văn bản quản lý và phát triển các hoạt động viện
trợ quốc tế, trong đó đặc biệt chú trọng đến xây dựng chính sách vận động, thu
hút nguồn lực trong kế hoạch trung và dài hạn.
tr.12]. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện những
cam kết mạnh mẽ và có nhiều nỗ lực đảm bảo trẻ em được bảo vệ, đặc biệt cuộc
sống của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và nhóm trẻ em dễ bị tổn
thương do những tác động của xã hội đang dần được cải thiện.
Mặc dù hiện nay, Việt Nam đã trở thành một nước có thu nhập trung bình
(khoảng 1.200 USD/người), nhưng vẫn bị xếp vào nhóm nước có thu nhập thấp
tại Đông Nam Á. Tuy vậy, Việt Nam đã và đang hoàn thành tốt các Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ về chăm sóc sức khỏe và giáo dục trẻ em mà Liên hợp
quốc đề ra. Theo tổ chức Save the Children (Anh), tỷ lệ tử vong ở trẻ em đã giảm
đáng kể trong hai thập kỷ qua. Trong giai đoạn từ năm 2000-2006, chỉ số trẻ tử
vong dưới 5 tuổi giảm khoảng 70% so với giai đoạn từ năm 1990 - 1999
5
. Tình
trạng trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi cũng được cải thiện rõ nét, cụ thể giai đoạn

5
Trích lược Báo cáo Chỉ số phát triển trẻ em Việt Nam (1990-2006) [12]:
Nhóm nước Chỉ số trẻ tử vong
dưới 5 tuổi, (/1,000 trẻ)
Tỷ lệ trẻ suy dinh
dưỡng dưới 5 tuổi (%)
Tỷ lệ trẻ không học
tiểu học dưới 5 tuổi
(%)
Trẻ dưới
15 tuổi
(x1000

2000-
2006
Thu nhập thấp
Đông Nam Á
Việt Nam
15.59
12.94
4.94
44.90
40.60
25.20
9.64
4.85
5.57
24,88
4
23.38
19.46
11.90

Trích đoạn Lĩnh vực giáo dục Lĩnh vực khác Một số tổ chức PCPQT điển hình trong lĩnh vực GD&CSTE Trường hợp 1 Tổ chức World Vision International: Đánh giá mối quan hệ giữa các tổ chức PCPQT và các đối tác Việt Nam trong lĩnh vực GD&CSTE
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status