Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga đối với khu vực Đông Á (giai đoạn từ 1991 đến nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ THỤY TRANG

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG Á
(GIAI ĐOẠN TỪ 1991 ĐẾN NAY) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC Hà Nội – 2007 1
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

2.3. Chính sách đối ngoại của Nga đối với Bán đảo Triều Tiên
51
2.4. Chính sách đối ngoại của Nga đối với ASEAN
58
2.5. Quan điểm của Nga về một số vấn đề của khu vực
65
2.5.1 Quan điểm của Nga về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều
Tiên
65
2.5.2. Quan điểm của Nga về xây dựng Cộng đồng Đông Á
69
2.5.3. Quan điểm của Nga về vấn đề biển Đông
71

2
Chương 3: Đánh giá kết quả thực hiện chính sách đối ngoại của Liên
bang Nga đối với khu vực Đông Á
74
3.1. Kết quả thực hiện
74
3.1.1. Thành tựu
74
3.1.2. Hạn chế
79
3.2. Tác động của chính sách Đông Á của Nga đối với một số nước
83
3.3. Triển vọng hợp tác của Nga ở Đông Á
86
3.4. Vị thế của Việt Nam trong chính sách Đông Á của Nga
89

cách hiểu khác là vùng bờ phía Tây của Thái Bình Dương, trải dài từ vùng
Trucốtca của Nga ở phía Bắc tới Singapore ở phía Nam [63, tr.208]. Tuy nhiên,
Đông Á trong bài luận văn này được nhận thức như một khu vực địa – chính trị
bao gồm Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.
Là khu vực rộng lớn, giàu có về tài nguyên thiên nhiên, bao gồm các nước
có nền kinh tế phát triển năng động nhất hiện nay như Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), lại chiếm giữ một vị
trí địa – chính trị, địa - kinh tế chiến lược, Đông Á đang ngày càng trở thành một

4
trong những khu vực có tầm ảnh hưởng trên bản đồ chính trị thế giới đương đại.
Cùng với Bắc Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Đông Á đã phát triển nhanh thành
một trong ba trụ cột kinh tế thế giới. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Đông
Á là một khu vực kinh tế năng động nhất trên thế giới trong suốt ba thập kỷ qua.
Trong giai đoạn 1980-2003, GDP của khu vực Đông Á đạt tốc độ tăng trung
bình 7%/năm, cao hơn hẳn tốc độ trung bình của các khu vực khác trong nền
kinh tế thế giới [32, tr.44].
Qua đây, chúng ta có thể thấy được vị trí và vai trò không thể thiếu của
Đông Á trong quan hệ quốc tế nói chung, cũng như trong việc hoạch định chính
sách đối ngoại của các quốc gia nói riêng. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, các
cường quốc có lợi ích nhiều mặt ở Đông Á đều khẩn trương điều chỉnh chính
sách để bước vào cuộc cạnh tranh xác lập vị thế mới có lợi hơn trong khu vực.
Bước lên vũ đài quốc tế với tư cách là một quốc gia độc lập, được thừa kế
các mối quan hệ của Liên Xô trước đây, nên Liên bang Nga có đầy đủ cơ sở và
điều kiện khách quan để củng cố ảnh hưởng của mình với Đông Á. Tuy vậy,
những khó khăn trong nước và chính sách đối ngoại hướng về phương Tây ở giai
đoạn đầu đã làm cho vị thế cường quốc của Nga bị giảm sút đáng kể trên thế giới
nói chung và Đông Á nói riêng. Chính điều này đã thức tỉnh bản sắc Á - Âu cùng
với tâm thức nước lớn của Liên bang Nga, buộc nước Nga phải có những điều
chỉnh thích hợp trong chính sách đối ngoại nhằm từng bước nâng cao vai trò

đoạn từ 1991 đến nay)” là đề tài còn khá mới mẻ đối với Việt Nam. Từ khi Liên
bang Nga điều chỉnh chính sách đối ngoại, chuyển từ định hướng Đại Tây
Dương sang định hướng Âu - Á và ngày càng tham gia tích cực vào đời sống
chính trị, an ninh, kinh tế thế giới nói chung và khu vực châu Á - Thái Bình
Dương nói riêng, trong đó có khu vực Đông Á, thì sự quan tâm của các học giả
đến chính sách đối ngoại của Nga đối với Đông Á ngày càng gia tăng. Những bài

6
viết liên quan đến toàn bộ hay một góc độ nào đó của vấn đề này được đăng tải
trên các ấn phẩm cập nhật và định kỳ như: Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, Nghiên
cứu Quốc tế, Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu
Đông Nam Á (tiếng Việt) hay Những vấn đề Viễn Đông, Á - Phi ngày nay (tiếng
Nga).
Các tác giả Nga, trên cơ sở phân tích vị trí chiến lược của Đông Á và ảnh
hưởng của Nga tại đây, đều luận giải về sự cần thiết phải chú trọng đến khu vực
này. Họ chỉ ra rằng Đông Á là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược
đối ngoại hướng đông của Nga. Do vậy, chính sách đối ngoại của Liên bang Nga
đối với Đông Á được nhìn nhận như một phần của quá trình tái lập ảnh hưởng về
chính trị và an ninh, hội nhập của nước Nga với khu vực và thế giới.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu “chính sách đối ngoại của Nga đối với Đông
Á từ năm 1991 đến nay” thực sự mới ở giai đoạn đầu. Số lượng công trình
nghiên cứu dưới dạng các đề tài khoa học hoặc bài viết về chủ đề này còn rất hạn
chế. Có nhiều bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu châu Âu của Việt Nam như
Chiến lược đối ngoại của nước Nga thời kỳ tổng thống Putin của tác giả Hồ
Châu số 3 - 2001, Những xu hướng khác nhau trong chính sách đối ngoại của
Nga và Mỹ thời gian gần đây của tác giả Phạm Văn Dân, Phạm Thị Phúc số 6 -
2001, Tổng thống Putin và chính sách ngoại giao, an ninh của Liên bang Nga
của tác giả Nguyễn Thanh Hiền số 3 – 2003, Sự điều chỉnh chính sách của Liên
bang Nga với các nước Đông Bắc Á sau chiến tranh lạnh của Trần Hiệp số 3 -
2006 hay trên tạp chí Àỗốÿ ố Àụðốờà cồóợọớÿ của Nga như éợủủốÿ – ÀẹÅÀÍ

khu vực Đông Á (giai đoạn từ 1991 đến nay)” rất cần thiết phải tiếp tục được
nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và sâu sắc hơn. Hy vọng rằng luận
văn sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của
Nga đối với khu vực Đông Á.

8
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là phân tích, làm rõ thực chất quá trình hình thành,
vận động và thực hiện chính sách đối ngoại của Nga đối với Đông Á, cụ thể là
với từng nước thuộc khu vực và các vấn đề chung của khu vực, từ năm 1991 đến
nay. Để đạt được mục đích đó, luận văn giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
- Trình bày khái quát bối cảnh quốc tế, khu vực Đông Á và tình hình nước
Nga từ năm 1991 đến nay, từ đó làm rõ tầm quan trọng của khu vực Đông
Á đối với quốc gia này trong việc hoạch định chính sách đối ngoại.
- Nghiên cứu, phân tích chính sách đối ngoại của Liên bang Nga đối với
một số nước lớn thuộc khu vực Đông Á và tác động của chính sách đó đến
quan hệ giữa Liên bang Nga với các quốc gia đó.
- Phân tích quan điểm của Nga với một số vấn đề chung thuộc khu vực.
- Đánh giá kết quả thực hiện chính sách Đông Á của Nga.
- Nhận định về triển vọng quan hệ Nga - Đông Á.
- Xem xét và đánh giá vị thế của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của
Nga.
Về giới hạn nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu chính sách đối ngoại
của Nga đối với một số nước thuộc khu vực Đông Bắc Á và với tổ chức ASEAN
từ năm 1991 đến nay. Về nội dung, luận văn dành một phần vừa đủ phân tích cơ
sở hình thành chính sách đối ngoại của Nga đối với Đông Á (bao gồm tình hình
thế giới, khu vực và tình hình nước Nga) và phần trọng tâm sẽ trả lời các câu hỏi
như chính sách đối ngoại của Nga đối với một số nước thuộc khu vực Đông Á
như thế nào, quan điểm của Nga về một số vấn đề thuộc khu vực ra sao và Việt
Nam có vị trí như thế nào trong chính sách đối ngoại của Nga.

những tiêu chí “chủ quan” nền tảng mang tính phổ biến sau:
Có thể nói, lợi ích quốc gia, dân tộc là điểm xuất phát và là căn cứ chủ yếu
nhất của chiến lược đối ngoại của tất cả các nước trên thế giới, trong đó có nước
Nga. Chiến lược đối ngoại của Nga phải phản ánh được lợi ích của nước Nga
trên trường quốc tế đồng thời là công cụ để bảo vệ lợi ích đó.
Lợi ích dân tộc vừa là điểm xuất phát vừa là mục tiêu chiến lược của Nga.
Mục tiêu cao nhất của đường lối đối ngoại của Nga là bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, xã hội và các cá nhân. Bao trùm tất cả là bảo vệ vững chắc an ninh của đất
nước, giữ gìn và củng cố chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vị trí bền vững và có
uy tín của nước Nga trong cộng đồng thế giới, đáp ứng lợi ích của Liên bang
Nga với tư cách là một cường quốc, một trong những trung tâm có ảnh hưởng
của thế giới hiện đại, cần thiết cho sự phát triển tiềm năng chính trị, kinh tế, trí
tuệ và tinh thần của Liên bang Nga. Hình thành một vành đai láng giềng thân
thiện xung quanh biên giới nước Nga, tác động để xoá bỏ và ngăn chặn việc nảy
sinh những nguy cơ tiềm ẩn và các cuộc xung đột ở khu vực gần kề biên giới
Nga.
Nga cho rằng, chiến lược đối ngoại phải là huy động và phối hợp mọi nguồn
lực quốc gia, mọi điều kiện khách quan bên trong và bên ngoài để bảo vệ lợi ích
quốc gia. Liên bang Nga hướng tới việc bảo vệ địa vị nước lớn tương xứng với
thế và lực của mình trên vũ đài chính trị thế giới.
Để nước Nga đạt được những mục tiêu trên, trong 10 năm qua, quốc gia này
đã liên tục điều chỉnh chính sách đối ngoại cho phù hợp với diễn biến của tình
hình quốc tế, dựa trên nền tảng tư tưởng quốc gia, yêu nước, đặt lợi ích quốc gia

11
dân tộc lên trên hết, bỏ qua những yếu tố hệ tư tưởng đóng vai trò quyết định
trong giai đoạn chiến tranh lạnh trước đây.
Chiến lược đối ngoại xuất phát trực tiếp từ tình hình quốc nội, thực lực quốc
gia và đường lối đối nội của giới cầm quyền ở Nga. Xét một cách sâu xa, tình
hình nội tại là cơ sở quan trọng hàng đầu có ý nghĩa đối với chiến lược đối ngoại

chất đan xen, phức tạp.
Trước tiên, trên bình diện an ninh - chính trị, xu thế hoà bình, ổn định,
đối thoại và hợp tác vì sự tiến bộ và phát triển vẫn chiếm ưu thế trong các
quan hệ quốc tế.
Khi chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới không còn sự đối đầu giữa hai cực
đối lập là Mỹ và Liên Xô. Cùng với sự chi phối của toàn cầu hoá (TCH), khu
vực hoá (KVH) và sự hình thành thị trường thế giới thống nhất như một chỉnh
thể dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ mới, kinh tế trở thành trọng
tâm trong chiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các nước
nằm trong thế tương thuộc lẫn nhau, quy định và chi phối nhau cho nên sự phát
triển của nền kinh tế nước này là điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế nước
khác. Theo đó, sự bất ổn ở một nước nào đó về chính trị, kinh tế, an ninh, môi
trường sẽ hiển nhiên là mối lo chung của toàn nhân loại. Chính bởi thế, hầu hết
những nước lớn cũng như nước nhỏ đều có những điều chỉnh chiến lược trong
các mối quan hệ quốc tế.
Tuy rằng thế giới vẫn tồn tại những nguy cơ gây mất ổn định, song xu
hướng hoà bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu hướng chính, bởi nó đáp ứng
nguyện vọng của tất thảy các quốc gia từ giàu có đến chậm phát triển trong cộng
đồng thế giới, đặc biệt là đối với Liên bang Nga trong bối cảnh “hậu Xô Viết”.

13
Cuộc đối đầu Đông - Tây bị triệt tiêu, chiến tranh lạnh và trật tự quốc tế
hai cực không còn cơ sở để tồn tại. Tương quan lực lượng thế giới và cơ cấu địa
chính trị toàn cầu hoàn toàn bị đảo lộn. Chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái
trào. Chủ nghĩa tư bản đứng đầu là Mỹ lợi dụng ưu thế trong so sánh lực lượng
đẩy mạnh âm mưu thao túng thế giới trong quỹ đạo của mình. Thế giới từ trạng
thái đối đầu lưỡng cực chuyển sang hình thành kết cấu đa trung tâm với sức
mạnh vượt trội về mọi mặt của Mỹ.
Là cực duy nhất còn lại, nên Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cường của mình
nhằm mưu đồ chi phối và bá chủ thế giới. Mỹ không muốn thế giới phát triển

về khoa học và công nghệ với những ứng dụng vô tận của nó đang chi phối hầu
hết các lĩnh vực của đời sống xã hội con người như năng lượng, môi trường,
nông nghiệp và thực phẩm, truyền thông, các dịch vụ thông tin, chế tạo cơ khí,
người máy, vật liệu, y học, giao thông vận tải.
Những tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đến
toàn bộ đời sống xã hội loài người đã và đang khiến cho nhiều quốc gia trên thế
giới khẩn trương hoạch định những chiến lược phát triển khoa học công nghệ,
coi đây là chìa khoá cho sự phát triển và cạnh tranh của nền kinh tế trong tương
lai. Và nước Nga không phải là ngoại lệ.
Bên cạnh đó, cách mạng khoa học và công nghệ trở thành tác nhân chủ
yếu thúc đẩy nhanh chóng quốc tế hoá sản xuất, làm xuất hiện những hình thức
chuyên môn hoá cao gắn liền với những hình thức hợp tác đa dạng đang vượt
qua khuôn khổ biên giới quốc gia. Quá trình quốc tế hoá về kinh tế thâm nhập
vào mọi khu vực thế giới làm nảy sinh xu thế nhất thể hoá kinh tế toàn cầu,
xu thế TCH kinh tế. Theo đó, thế giới đang tiến đến sự thống nhất về thị trường,
vốn, lao động, dịch vụ. Mặt khác, tiến trình KVH cũng được thúc đẩy mạnh

15
mẽ với sự hình thành của hàng chục tổ chức hợp tác, liên kết kinh tế và
thương mại ở khắp các châu lục.
Có thể nói, TCH và KVH là xu hướng khách quan mang tính quy luật của
quá trình phát triển xã hội loài người. TCH và KVH đã tạo ra mặt tích cực làm
thức tỉnh các quốc gia dân tộc về sự phát triển, về sự hội nhập của mình đối với
thế giới hiện đại. Họ tự nhận thấy mình phải làm gì để tồn tại trong một thế giới
hội nhập với sức cạnh tranh cùng những thách thức vô cùng quyết liệt. Đồng
thời, quá trình này cũng tạo những cơ hội cho các nước học tập kinh nghiệm của
nhau để tìm ra cách thức hội nhập nhanh chóng và hiệu quả
TCH, KVH chính là quá trình trong đó các chủ thể dân tộc cạnh tranh và
hợp tác với nhau để mở rộng khả năng hợp tác, cùng tồn tại và phát triển. Tham
gia vào TCH, KVH sẽ tăng tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc, lợi ích các

thứ hai thế giới. Tiếp đó là những “con rồng” Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore đã
cất cánh vươn lên chỉ trong vòng 30 năm, là nước Trung Hoa rộng lớn, đông dân
nhất đã lập nên kỳ tích kinh tế, liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, là sự phát
triển nhanh chóng của ASEAN được xem như một tổ chức liên minh khu vực
thành công nhất của các nước đang phát triển.
Đông Á như một “đàn sếu bay” với Nhật Bản là con chim đầu đàn, đã
khiến nhiều người trên thế giới cho rằng “thế kỷ XXI là thế kỷ của châu Á”,
trong đó Đông Á chắc sẽ là hàng đầu [17, tr.88].
Sở dĩ có nhận định như thế là vì nền kinh tế khu vực này liên tục phát triển
với tốc độ cao và ít chịu ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thế giới. Từ đầu
những năm 90, khi nền kinh tế thế giới lâm vào suy thoái hoặc phục hồi chậm thì
nền kinh tế của phần lớn các nước Đông Á vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng
khá cao. Tính đến thờí điểm trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
năm 1997, các nước Đông Á (trừ Nhật Bản) đạt tốc độ tăng trưởng trung bình

17
7%/năm. Tỷ trọng tổng sản phẩm xã hội của Đông Á ngày một tăng lên. Nếu 30
năm trước đây, giá trị tổng sản phẩm quốc dân của các nước Đông Á mới chỉ
bằng 1/2 Mỹ, 1/3 Tây Âu thì đầu những năm 90 đã tăng lên đáng kể bằng 70%
của Mỹ, 2/3 EU. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), năm 2010 GDP của các nước
Đông Á sẽ chiếm 1/3 GDP toàn cầu và vượt cả Mỹ lẫn Tây Âu [45, tr.73].
Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến sự thành công vượt bậc của khu vực
này, trong đó hợp tác vì sự phồn thịnh chung của mỗi một nước cũng như của cả
khu vực được coi như là chìa khoá của những thành tựu nổi bật đó. Điều có thể
dễ dàng nhận thấy là bất luận sự khác nhau về trình độ phát triển, thì hợp tác khu
vực đều được lựa chọn và ưu tiên trong chiến lược phát triển của các nước thuộc
khu vực này. Với bản lĩnh vững vàng, các nước trong khu vực đã vươn tới, trở
thành một trong ba trung tâm kinh tế - chính trị quan trọng của thế giới (cùng với
Tây Âu và Bắc Mỹ).
Đông Á là một khu vực có lãnh thổ rộng lớn, dân số đông và tài nguyên

EU
Bắc Mỹ
Dân số (triệu người, 2002)
2014,5
453,3
420,6
GDP (ngàn tỷ USD, 2003)
7,5
11,0
12,3
Tốc độ tăng GDP 1980-2003(%năm)
7,0
5,0
6,0
Tỷ lệ tiết kiệm nội địa (%GDP,2002)
28,8
20,2
15,0
Tỷ lệ đầu tư (%GDP, 2002)
26,5
18,7
37,5
Dự trữ ngoại hối (tỷ USD, 2002)
1177,0
304,4
116,4
Nguồn: [17, tr.45]
Từ những biến đổi có tính cách mạng, Đông Á đã tạo nên được những
động lực hấp dẫn mới. Điều này không chỉ củng cố tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn
định mà còn là điều kiện quan trọng để tăng khả năng liên kết và khu vực hoá

nhân dân (CHDCND) Triều Tiên, ba nước Đông Dương, Đông Á sẽ là khu vực

20
có vai trò quan trọng bổ sung cho sự phát triển kinh tế của nước Nga hiện nay
cũng như trong tương lai.
Nhận thức lại một cách đầy đủ vai trò và vị trí của Đông Á đối với sự ổn
định và phát triển của Nga hiện tại và trong tương lai, đồng thời đánh giá những
hạn chế mà Nga cần khắc phục, từ đó vạch ra một chính sách đối ngoại phù hợp
để phát huy lợi thế địa - chính trị, địa - địa kinh tế vốn có của mình là việc làm
cần thiết của Liên bang Nga. Việc Ban lãnh đạo Nga kể từ năm 1994 có chú
trọng hơn đến khu vực Đông Á không phải là một điều mới mẻ mà thực chất là
quay về với bản sắc Âu - Á của chính nước Nga. Thực tiễn cho thấy những bước
đi quan trọng đầu tiên hướng về châu Á nói chung và Đông Á nói riêng trong
hoạt động đối ngoại của Nga là hoàn toàn phù hợp với đặc thù của nước Nga -
một quốc gia Âu - Á và với vị trí cường quốc của Nga - vị trí mà lợi ích của nó
không chỉ gắn với phương Tây, mà cả ở phương Đông.

1.3. Bối cảnh trong nước
Sau khi Liên Xô tan rã, với tư cách là nước kế thừa hợp pháp của Liên
bang Xô Viết, Liên bang Nga đã được thừa hưởng các di sản kinh tế, quân sự,
tiềm lực kinh tế - khoa học kỹ thuật cũng như quy chế đặc biệt của siêu cường
Liên Xô cũ, đó là:
- Nga được Liên Hợp quốc đồng ý chuyển giao chiếc ghế Uỷ viên thường
trực Hội đồng Bảo an vốn do Liên Xô nắm giữ trước đây.
- Các đại sứ và sứ quán của Liên Xô trước đây ở tất cả các nước được thừa
nhận là đại sứ và đại sứ quán của Liên bang Nga mà không cần các thủ tục
chuyển giao ngoại giao.
- Trong số các nước cộng hoà của siêu cường hạt nhân Liên Xô chỉ có
Liên bang Nga được thừa nhận là cường quốc hạt nhân, “nút bấm hạt nhân”
thuộc về Tổng thống Nga.

mà chủ yếu lại chỉ có sự hỗn loạn. Kinh tế Nga phát triển rất bất ổn. (xem bảng
2)

Bảng 2: Tình hình kinh tế Nga giai đoạn 1991-1999
Năm
GDP
Công nghiệp
Nông nghiệp
Lạm phát
1991
Giảm 15%
Giảm 12-15%
Giảm 24%
15-20%/tháng
1992
Giảm 19%
Giảm 18,8%
Giảm 8%
Trên 20%/tháng
1994
Giảm 12%
Giảm 23%
-
12%/tháng
1997
Tăng 0,4%
Tăng 1,7%
-
Dưới 1%/tháng
1998 (so với

hoảng đánh vào tầng lớp trung lưu và quét sạch tiền tiết kiệm của họ càng làm
căng thẳng tình hình xã hội.
Mặt khác, Liên Xô tan rã làm cho quan hệ liên kết kinh tế giữa Nga với các
nước cộng hoà Xô Viết cũ - vốn là mối liên kết của một nền kinh tế thống nhất
trong đa dạng - bị phá vỡ và gián đoạn. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh
tế, sự cắt đứt các quan hệ kinh tế truyền thống này đã làm suy giảm 1/3, thậm chí
tới 50-70% mức sản xuất chung của từng nước cộng hoà, kể cả Liên bang Nga
[30, tr.72]. Ngoài ra, sự giải thể của khối SEV đã làm Nga mất đi thị trường
nước ngoài truyền thống, nơi chiếm 2/3 hoạt động xuất nhập khẩu của Liên Xô
trước đây.
Thị trường truyền thống bị phá vỡ, gián đoạn và thu hẹp, thị trường mới
chưa được khai thông, hoạt động kinh tế đối ngoại của Nga lại gặp phải những
khó khăn, phức tạp. Đó là hàng hoá Nga chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường
quốc tế, tiếp nữa là Nga không thu hút được nhiều viện trợ đầu tư nước ngoài để
cơ cấu lại và chuyển đổi nền kinh tế vốn được xây dựng theo mô hình kế hoạch
hoá tập trung, hành chính, mệnh lệnh trước đây.
Nước Nga đứng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày càng xa so với các
nước công nghiệp phát triển, nguy cơ không lọt vào danh sách các trung tâm
quyền lực của hệ thống thế giới sau Chiến tranh lạnh. Theo những chỉ số khách
quan của tiềm lực kinh tế (GDP, tăng trưởng GDP/năm, GDP/người) Liên bang
Nga đang bị đẩy vào số các “quốc gia hạng hai” và rơi vào vị trí bất lợi trong
phân công lao động quốc tế.
* Về chính trị - xã hội

24
Suy thoái kinh tế của Liên bang Nga không được khắc phục đã kéo theo hàng
loạt bất ổn về chính trị xã hội. Vấn đề then chốt mà Tổng thống Nga B.Elsin thừa
kế phải đối phó là một bộ máy chính quyền quan liêu, cồng kềnh, các lực lượng
thi nhau chống đối chương trình cải cách và chấn hưng đất nước, bởi họ cho rằng
cải cách bị đẩy đi quá nhanh theo kiểu sao chép phương Tây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status