I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN HONG TH YN
QUAN Hệ AN NINH Mỹ - NHậT BảN ThờI Kỳ SAU CHIếN TRANH LạNH
Và TáC Động đối với khu vực đông á
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số : 602240
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
PGS. TS. Nguyễn Hoàng Giáp
Hà nội - 2007
MỤC LỤC
2.2.4. Chương trình phòng thủ tên lửa chiến trường 71
2.2.5. Mỹ và Nhật Bản trong cuộc chiến chống khủng bố 74
2.3. Lợi ích của Mỹ và Nhật Bản trong quan hệ an ninh 80
2.3.1. Đối với Mỹ 80
2.3.2. Đối với Nhật Bản 89
Tiểu kết 95
Chương 3: Tác động của liên minh Mỹ - Nhật Bản đối với khu vực
Đông Á 97
3.1. Tác động tới kiến trúc an ninh khu vực Đông Á 97
3.2. Tác động đến quan hệ giữa các nước lớn trong khu vực 104
3.3. Tác động đến các nước và vùng lãnh thổ khác trong khu vực 111
Tiểu kết 123
Kết luận 125
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
ABM
Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo
Anti-Ballistic Missile
AFTA
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN Free Trade Area
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Association of Southeast Asian Nations
Liên minh châu Âu
European Union
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Foreign direct investment
HĐBA
Hội đồng bảo an
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
General Agreement on Tariffs and Trade
GSDF
Lực lượng phòng vệ mặt đất
Ground Self-Defence Force
G-7
Nhóm 7 nước công nghiệp
Group of Seven Industrializes countries
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
International Monetary Fund
MSDF
Lực lượng phòng vệ biển
Maritime Self-Defence Force
NAFTA
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ
North American Free Trade Agreement
NATO
Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
North American Treaty Organization
NDPO
Đề cương chương trình phòng thủ quốc gia
vào một thế giới hòa bình, thì thực tế các cuộc xung đột cục bộ, xung đột
tôn giáo, nạn khủng bố quốc tế trở thành mối đe dọa lớn đối với nhân loại.
Tổng thống Mỹ Bill Clinton trong diễn văn nhậm chức lần thứ nhất, cũng
đã thừa nhận thế giới ngày nay vẫn còn bị đe dọa bởi những thù hận và
những hiểm họa mới. Trật tự thế giới cũ không còn, thế giới trở nên kém ổn
định hơn. Thậm chí, gần đây cụm từ “Chiến tranh thế giới thứ ba” đã được
nhiều chính trị gia sử dụng trước vòng xoáy bạo lực từ các cuộc xung đột
liên tiếp xảy ra trên thế giới.
Loài người trong thế kỷ XX cũng đã trải qua ba lần thay đổi lớn
trong quan hệ quốc tế: trật tự Vecsai - Washington hình thành sau Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất, trật tự Yalta hình thành sau Chiến tranh thế giới
lần thứ hai và trật tự thế giới đang dần được hình thành sau khi Chiến tranh
lạnh kết thúc. Trong hai trật tự đầu, các nước lớn đóng vai trò quyết định
trong các mối quan hệ quốc tế. Trong trật tự được nhận định là đang hình
thành hiện nay, vai trò của các nước vừa và nhỏ ngày càng được nâng cao,
tiếng nói của các nước đang phát triển có ảnh hưởng không nhỏ đến lộ trình
quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, quan hệ giữa các nước lớn vẫn có một vai trò
quan trọng trong việc xác lập trật tự thế giới mới. Các nước lớn vẫn áp đặt
và chi phối rất nhiều trong các cuộc chiến ở Afghanistan, Iraq hay trong
cuộc chiến Lebanon. Tại khu vực Đông Á (ĐA) - nơi chứa đựng những
2
mâu thuẫn và thách thức đối với an ninh và chưa có một thể chế an ninh
chung cho khu vực, thì sự hợp tác giữa các nước lớn đóng vai trò rất quan
trọng, là điều kiện đảm bảo hoà bình và ổn định cho khu vực. Một trong
những cặp quan hệ song phương nổi bật trên thế giới nói chung và trong
khu vực ĐA nói riêng, đó là quan hệ Mỹ - Nhật Bản.
Sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, theo dự đoán của một số nhà
nghiên cứu, quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật cũng sẽ tan vỡ theo vì không
còn cơ sở để tồn tại. Thực tế đã hoàn toàn ngược lại với dự đoán trên. Mối
hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới. Quan hệ giữa
hai nước Mỹ - Nhật tính từ năm 1854 cho đến nay đã có lịch sử gần hai thế
kỷ. Trải qua các giai đoạn khác nhau, mối quan hệ song phương này luôn là
đề tài được lựa chọn nghiên cứu của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu
trên thế giới.
Không phải người Mỹ là người đầu tiên phát hiện ra Nhật Bản sau
các cuộc phát kiến địa lý. Năm 1543, sau phát hiện ngẫu nhiên ra vùng đảo
phía Nam Nhật Bản là Tenagashima của một số thủy thủ Bồ Đào Nha, các
nước tư bản phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan,
Anh…đã lần lượt đến Nhật yêu cầu thiết lập quan hệ giao thương. Những
năm cuối của thế kỷ XVIII, xuất hiện một số tàu thuyền Mỹ đến Nhật Bản
yêu cầu chính quyền Mạc phủ mở cửa đất nước. Sau rất nhiều nỗ lực, đến
năm 1854 Mỹ mới thực hiện thành công mục đích của mình bằng việc ký
“Hiệp định hữu nghị và thân thiện” với Nhật Bản. Cuốn sách “Intercouse
between the United States and Japan” xuất bản năm 1891 của Inazo Nitobe
đã cung cấp rất nhiều tư liệu quý về quan hệ Mỹ - Nhật trong giai đoạn này.
Tiếp sau đó, cuốn “Japan and United States 1790 - 1853” của tác giả
Shunzo Sakamiki, xuất bản năm 1940, viết về những cuộc tiếp xúc đầu tiên
4
giữa người Mỹ với người Nhật, trước khi những đoàn thuyền của tướng
M.C.Perry mở cửa thành công Nhật Bản. Năm 1969, Trung tâm nghiên cứu
văn hóa ĐA - Tokyo đã xuất bản bộ “The Meiji Japan through
contemporary sources” gồm 3 tập, tập trung vào quan hệ của Nhật với các
nước phương Tây, trong đó có những bản hiệp ước mà chính quyền
Tokugawa đã ký với nước ngoài.
Năm 1936, cuốn “Japan’s foreign relation 1542 - 1936: A short
history” của tác giả Roy Hidemichi Akagi được xuất bản. Cuốn sách khái
quát các nội dung chính trong quan hệ quốc tế của Nhật Bản qua các giai
đoạn khác nhau trong lịch sử, từ khi những người Bồ Đào Nha phát hiện ra
liên minh Mỹ - Nhật không còn cơ sở để tồn tại. Cuốn “Japan challenges
America: Managing an allience in crisis” (xuất bản 1992) của Harison
M.Holland đã viết về vấn đề khủng hoảng của liên minh Mỹ - Nhật sau
Chiến tranh lạnh và những thách thức đặt ra đối với liên minh này. Năm
1992, Viện nghiên cứu ĐBA xuất bản cuốn “Japan, the United States and
prospects for the Asia - Pacific century: three scenarios for the future” đề
cập đến vai trò của Mỹ và Nhật cũng như tầm quan trọng của quan hệ giữa
hai nước đối với khu vực CA - TBD. Cuốn sách cũng đề cập đến các khả
năng có thể xảy ra trong tương lai khi quan hệ giữa hai cường quốc kinh tế
đang đứng trước rất nhiều khó khăn .
Hai cuốn sách “Trouble times: U.S - Japan trade relation in the 1990s”
của tác giả Edward Lincoln và cuốn “Reconcilable differences: U.S - Japan
economic conflict” của các tác giả Bergsten C.Fred và Marcus Noland, tập
trung chủ yếu vào vấn đề mâu thuẫn kinh tế, thương mại trong quan hệ hai
nước, song trong khi lý giải diễn biến của mối quan hệ đó, họ quan tâm
nhiều đến sự chi phối của yếu tố liên kết an ninh đối với sự tồn tại của liên
6
minh tay đôi này. Steven K.Voleg và cộng sự của ông đã phân tích một số
nhân tố chi phối quan hệ Mỹ - Nhật trong cuốn sách “U.S - Japan relation
in a changing world”, xuất bản năm 2000.
Bên cạnh đó, còn có các chuyên khảo về chính sách đối ngoại của
Nhật Bản và của Mỹ. Cuốn “Japan’s International Relations: politics,
economic and security” của nhóm tác giả Glenn D.Hook, Julie Gilson,
Christopher W.Hughes và Hugo Dobson đã đề cập đến chính sách đa
phương và rộng mở của Nhật Bản, trong đó dành toàn bộ chương 2 nói về
quan hệ Nhật - Mỹ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và an ninh. Cuốn
“Diplomacy policy of the U.S” do Randall B.Ripley và James M.Lindsay
chủ biên, đã được dịch ra tiếng Việt do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
phát hành năm 2002, cũng đề cập đến chiến lược của Nhà Trắng đối với
Trong quan niệm truyền thống vốn tương đối hẹp, an ninh quốc gia
được nhìn nhận chủ yếu như là việc đảm bảo chủ quyền, an toàn của hệ
thống chính trị và cuộc sống bình yên của nhân dân trước sự đe dọa, xâm
lược hay lật đổ của các thế lực nước ngoài và các thế lực chống đối chế độ
trong nước. Trong cách quan niệm toàn diện về an ninh (comprehansive
security), người ta không giới hạn an ninh quốc gia trong các mối quan hệ
đối ngoại thuần tuý, mà trong tổng thể các mối quan hệ ở bên trong lẫn bên
ngoài các quốc gia và liên quan đến nhiều lĩnh vực: từ quân sự, chính trị
đến kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và con người. Trong phạm vi Luận
văn tốt nghiệp này, tác giả tìm hiểu về quan hệ an ninh Mỹ - Nhật ở khía
cạnh an ninh chính trị và quân sự. Tuy vậy, trong bối cảnh quốc tế mới, khi
lý giải những diễn biến của mối quan hệ an ninh Mỹ - Nhật, không thể
không đề cập đến các yếu tố tác động khác như yếu tố kinh tế, văn hóa, xã
hội…
8
Về thời gian, luận văn tập trung chủ yếu vào quan hệ an ninh Mỹ -
Nhật giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh, lấy mốc từ năm 1991 cho đến những
diễn biến cập nhật gần đây nhất của năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2007.
Về không gian, luận văn tìm hiểu liên minh Mỹ - Nhật và tác động
của liên minh này đối với khu vực ĐA. Đây là khu vực biểu hiện tập trung
cao của mối quan hệ này.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài lịch sử, vì vậy phương pháp lịch sử - phân tích mối
liên hệ giữa các sự kiện lịch sử cả đồng đại và lịch đại luôn là dòng mạch
chính của luận văn. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khác như: phương pháp logic, phương pháp so sánh, phương
pháp thống kê…để hoàn thành Luận văn của mình.
4.2. Nguồn tư liệu
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
10
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ AN NINH
MỸ - NHẬT BẢN THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
1.1. Quan hệ Mỹ - Nhật Bản từ trong lịch sử
Ngay từ thế kỷ XVIII, các quốc gia tư bản như Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha, Hà Lan và sau đó là Anh, Pháp, Nga và Mỹ đã nhanh chóng nhận
thấy khu vực Thái Bình Dương (TBD), bao gồm vùng ĐBA, có một vị trí
chiến lược hết sức quan trọng. Đây không chỉ là vùng lãnh thổ giàu tiềm
năng về kinh tế mà còn giữ vị trí cầu nối trong hệ thống giao thương giữa
phương Đông và phương Tây, đồng thời là cửa ngõ trọng yếu để từ đó có
thể thâm nhập vào các quốc gia ĐBA, Đông Nam Á (ĐNA), châu Đại
Dương. Nằm ở khu vực ĐA, với vị trí địa lý trải dài theo một vòng cung
hẹp từ Bắc xuống Nam trên 3.800 km, chiếm lĩnh một giải từ 20º25’ đến
45º33’ vĩ độ Bắc, nơi có nhiều hải cảng tốt, Nhật Bản được coi là một điểm
huyết mạch giao thông trên con đường vươn tới các xã hội phương Đông.
Trong số các nước tư bản phát triển đến Nhật yêu cầu chính quyền
Tokugawa mở cửa, có thể nói nước Mỹ là quốc gia quan tâm tới Nhật Bản
nhất. Người Mỹ rất chú ý đến các hải cảng của Nhật Bản, nơi tàu thuyền
Mỹ có thể lánh nạn hay bổ sung nước ngọt, các tàu chạy bằng hơi nước có
[60;30].
Cuộc cải cách Minh Trị tiến hành trong 40 năm đã đưa Nhật Bản từ
một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước tư bản có nền công
nghiệp phát triển và hiện đại. Chính phủ mới từng bước giành quyền bình
đẳng, xoá bỏ những điều ước thua thiệt đã ký với các nước tư bản phương
12
Tây trong giai đoạn trước và trong cuộc cải cách Minh Trị. Nước Nhật đã
tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược Đài Loan năm 1874, chiến
tranh Nhật - Trung (1894 - 1895) và đặc biệt từ sau cuộc chiến tranh Nhật -
Nga (1904 - 1905), Nhật Bản được coi là một cường quốc có vị trí ngang
tầm các nước tư bản khác. Các cuộc chiến tranh đã tỏ rõ sức mạnh của
nước Nhật sau một thời kỳ quý tộc tư sản hóa và giai cấp tư bản liên kết
với nhau trong việc củng cố và mở rộng quyền lực. Nhằm thực hiện mục
tiêu tiến hành những cuộc chiến tranh ra bên ngoài, Chính phủ rất chú trọng
phát triển kinh tế, công nghiệp quân sự, xây dựng quân đội hiện đại và cấu
kết chặt chẽ với các đồng minh, trong đó Mỹ luôn được coi là đồng minh
chiến lược của Nhật.
Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), Mỹ và
Nhật ở hai chiến tuyến đối lập. Nhật thuộc phe phát xít, còn Mỹ nằm trong
phe Đồng minh chống phát xít. Mục tiêu cuối cùng của Nhật khi gây chiến
là để thực hiện chính sách “Nam tiến”, thành lập “Khối thịnh vượng chung
Đại Đông Á”. Chính sách này của Nhật Bản ngay từ đầu đặt Nhật vào sự
đối địch với các cường quốc Âu - Mỹ, đặc biệt động chạm mạnh nhất đến
lợi ích của Mỹ ở khu vực này và Mỹ coi đây là sự thách thức trắng trợn đối
với Mỹ. Đại sứ Mỹ tại Nhật Bản đã gửi điện về Washington nhấn mạnh
rằng “Quyền lợi của Mỹ bị chính sách Nam tiến của Nhật đe doạ trầm
trọng, chúng ta phải cố gắng bằng mọi cách duy trì nguyên trạng Thái
Bình Dương, ít ra cho đến khi chiến tranh châu Âu ngã ngũ” [7;14].
Thất bại của phe phát xít là điều không thể tránh khỏi khi lực lượng
Mỹ - Nhật”. Mục đích của Hiệp ước được nói rõ ngay từ lời mở đầu:
Nhật Bản đã ký một Hoà ước với Mỹ. Trong quá trình Hoà ước bắt
đầu có hiệu lực, Nhật Bản không có một công cụ hữu hiệu nào để thực
14
hiện quyền tự vệ vì Nhật Bản đã bị giải giáp vũ khí. Trong tình thế đó,
Nhật Bản có thể sẽ bị nguy hiểm vì trên thế giới vẫn còn chủ nghĩa
quân phiệt. Nhật Bản mong muốn có một hiệp ước an ninh với Mỹ…
Nhật Bản mong muốn Mỹ duy trì quân đội của mình xung quanh Nhật
Bản nhằm đẩy lùi một cuộc tấn công vũ trang vào Nhật [41;561].
Vì lợi ích hòa bình và an ninh, Mỹ đồng ý duy trì quân đội của mình ở
trong và xung quanh Nhật Bản… Tuy nhiên, Mỹ hy vọng Nhật Bản sẽ
tiến tới chịu trách nhiệm tự vệ chống lại sự xâm lược trực tiếp hay gián
tiếp. Nhật cần tránh bất cứ sự vũ trang nào có tính đe doạ hay phục vụ
cho các mục đích khác, mà không nhằm thúc đẩy hòa bình và an ninh
phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc [41;561].
Nội dung quan trọng nhất của Hiệp ước, đó là :
Nhật Bản đồng ý và Mỹ chấp nhận quyền đóng các lực lượng hải,
lục, không quân của Mỹ trên đất Nhật nhằm mục đích góp phần duy
trì hòa bình, an ninh trong khu vực viễn Đông, đóng góp vào an ninh
Nhật Bản, chống lại các cuộc tấn công vũ trang từ bên ngoài, đàn áp
những phong trào lật đổ quy mô lớn trong nước Nhật và những rối
loạn ở Nhật gây ra bởi sự xúi giục và can thiệp từ một hay nhiều
cường quốc bên ngoài (Điều 1) [42;561]
Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật năm 1951 là cơ sở chung để thực hiện
mục tiêu chiến lược của mỗi nước. Đối với Mỹ, Hiệp ước này đã chính
thức đưa Nhật vào hệ thống các liên minh của Mỹ, biến Nhật thành căn cứ
quân sự cho Mỹ, qua đó giúp Mỹ duy trì an ninh ở viễn Đông và ngăn chặn
sự bành trướng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Đối với Nhật,
Hiệp ước an ninh với Mỹ là cơ hội để Nhật tái thiết đất nước khi Nhật ở
một vị trí đủ mạnh để mặc cả với Mỹ khi ký Hiệp ước này.
16
Trong gần hai thập kỷ tiếp theo kể từ sau Hiệp ước năm 1960, quan
hệ an ninh Mỹ - Nhật vẫn mang tính chất thiếu bình đẳng và thiếu hợp tác
thực tế. Cho đến năm 1978, khi “Phương châm phòng thủ Mỹ - Nhật” được
thông qua và thực hiện, người ta mới nhìn thấy những biểu hiện đầu tiên
của hợp tác song phương. Phương châm đã quy định trách nhiệm của mỗi
bên trong liên minh quân sự, vấn đề tác chiến, vấn đề tập trận chung và đặc
biệt là việc Nhật trợ giúp thêm cho các lực lượng Mỹ. Với sự ra đời của
Phương châm phòng thủ Mỹ - Nhật, hai bên đã tìm được tiếng nói chung,
hàn gắn được những lỗ hổng vốn tồn tại trong nhiều năm giữa những điều
khoản của Hiệp ước và những hoạt động cụ thể trong sự phối hợp của lực
lượng quân sự. Mỹ muốn Nhật Bản đóng góp tài chính để cùng với họ đảm
bảo cho các căn cứ quân sự hoạt động bình thường tại Nhật. Vấn đề chia sẻ
trách nhiệm được đặt ra và đi đến thống nhất. Sau các cuộc thương lượng,
hai bên đã thống nhất với nhau thông qua việc ký một hiệp định về việc
Nhật Bản có trách nhiệm tài trợ quỹ lương trả cho những người Nhật Bản
làm việc tại các căn cứ Hoa Kỳ trên đất Nhật. Một năm sau, hiệp định tiếp
theo được ký kết giữa hai chính phủ mà nội dung của nó là phía Nhật sẽ trợ
cấp một phần tài chính cho việc cải thiện điều kiện sống của các quân nhân
Mỹ tại các căn cứ quân sự Mỹ trên đất Nhật.
Sự thực, Nhật đã nhượng bộ rất nhiều đối với Mỹ. Tuy nhiên, càng
đi sâu vào cuộc Chiến tranh lạnh, chính quyền Mỹ càng cần sự chia sẻ
nhiều hơn nữa của các đồng minh. Dưới thời Tổng thống Carter, chính phủ
Mỹ đã chính thức yêu cầu Nhật Bản tăng ngân sách quốc phòng của họ lên
mức 0,9% của tổng sản phẩm xã hội. Ngược lại, từ những năm 80, hai nước
đã thỏa thuận nhiều vấn đề về đẩy mạnh quá trình hợp tác quân sự. Vào
năm 1981, Nhật cam kết sẽ tăng cường ngân sách quốc phòng, thực hiện
đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc phòng thủ từ xa. Hai bên đã đồng ý
18
nước vừa và nhỏ có vai trò và tiếng nói đáng kể trong quan hệ quốc tế.
Điều này đã làm thay đổi so sánh lực lượng trên thế giới và các chuẩn mực
trong quan hệ quốc tế. Sau Chiến tranh lạnh, các quan hệ liên minh kinh tế,
chính trị và quân sự của trật tự thế giới vốn đã tồn tại trong suốt 45 năm bị
đảo lộn. Một số liên minh đã không còn lý do để tồn tại và bị giải thể. Một
số liên minh khác, trong đó có liên minh Mỹ - Nhật, vẫn được duy trì và
phát triển, song cần có sự chuyển biến để thích ứng với tình hình chính trị
và an ninh quốc tế mới.
Một đặc điểm nổi bật khác sau Chiến tranh lạnh là sự nổi lên của
kinh tế trong các yếu tố cấu thành sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia.
Nếu như trong Chiến tranh lạnh, trong bối cảnh đối đầu Đông - Tây và
căng thẳng trong quan hệ quốc tế, an ninh quân sự chiếm vị trí ưu tiên hàng
đầu trong chiến lược của các nước, thì sau Chiến tranh lạnh, vị trí đó thuộc
về yếu tố kinh tế. Phát triển kinh tế là mục tiêu và ưu tiên số một trong
chính sách đối nội và đối ngoại của mỗi nước. Cả Mỹ và Nhật Bản đều có
lợi thế lớn trước xu thế mới của thời đại, bởi cả Mỹ và Nhật là hai siêu
cường kinh tế số một và số hai của thế giới. Tuy nhiên, cả hai nước đều
hiểu rằng yếu tố kinh tế không thể thay thế được an ninh quân sự trong việc
đảm bảo an ninh quốc gia. Thương mại có vai trò kiềm chế quan trọng
nhưng không bao giờ có thể thay thế được răn đe cứng rắn dựa trên sức
mạnh quân sự. Những cuộc xung đột cục bộ, khu vực về các vấn đề sắc tộc,
tôn giáo, lãnh thổ diễn ra liên tiếp, thậm chí có lúc leo thang thành chiến
tranh như cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Cosovo, Apghanistan, Iraq… cho
thấy sức mạnh quân sự vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với an ninh
quốc gia và quốc tế. Theo lời phát biểu của cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon
thì một khi quyền lợi sinh tử của một quốc gia bị đe dọa, một cường quốc
sẽ vứt bỏ ngay cả những quan hệ kinh tế chặt chẽ nhất để chiến thắng. Do
19
Trong xu thế chung của thế giới, khu vực CA - TBD cũng có những
thay đổi lớn. Nếu trong Chiến tranh lạnh, khu vực này đã từng là nơi hội tụ
tất cả các mâu thuẫn lớn trên thế giới và đối đầu Đông - Tây, thì sau Chiến
tranh lạnh CA - TBD đã trở thành khu vực có xu thế hoà bình và hợp tác.
Đặc biệt, khu vực này đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới bởi sự phát triển
năng động của nền kinh tế. Năm 1965, GDP của CA mới chỉ chiếm 9%
GDP của thế giới thì đến những năm 1980 con số đó là 20% và năm 2000
là trên 35 % so với châu Âu 24,6% và Bắc Mỹ 18% [23;258]. Sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa các nước trong khu vực và với các nước ngoài khu vực ngày
càng tăng khi trao đổi thương mại và đầu tư ngày càng lớn. Chẳng hạn,
năm 1991 chỉ riêng thương mại và xuất khẩu nội bộ ĐA đã chiếm 46% và
39% tổng số thương mại và xuất khẩu của khu vực này với bên ngoài.
Buôn bán hai chiều giữa Mỹ và CA - TBD năm 1991 đạt 315 tỷ USD, năm
1992 tăng lên 345 tỷ USD, gấp đôi kim ngạch buôn bán giữa Mỹ với Liên
minh châu Âu (EU).
Tuy nhiên, sau Chiến tranh lạnh sự cân bằng được duy trì bởi thế hai
cực Xô - Mỹ không còn nữa, thay vào đó là một môi trường chiến lược
không rõ ràng và tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. Với sức mạnh kinh tế
ngày càng lớn, các nước trong khu vực không ngừng đẩy mạnh sức mạnh
quân sự. Năm 1991, lượng nhập khẩu vũ khí của các nước CA chiếm
khoảng 35% lượng vũ khí nhập khẩu trên thế giới. Chi phí quân sự của Ấn
Độ, Hàn Quốc và Đài Loan năm 1991 tương ứng là 9.033 tỷ USD; 7.826 tỷ
USD và 6.809 tỷ USD, xếp thứ hai, ba và năm về chi phí quốc phòng của
các nước và lãnh thổ đang phát triển. Việc gia tăng chi tiêu quân sự cũng là
hiện tượng phổ biến ở ĐNA: Singapore tăng 15%, Malaysia 15%, Thái Lan
14% và Indonesia 8% [2;22]. Nếu xu thế này tiếp tục kéo dài thì một cuộc