BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đinh Thị Huê
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS - TS. NGUYỄN CẢNH HUỆ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009Lời cảm ơn
Luận văn này được hoàn thành tại khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS – TS Nguyễn Cảnh Huệ đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thành
luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo
trong khoa Lịch sử, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học thuộc trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, đóng góp
những ý kiến quý báu trong suốt quá trì
nh tôi hoàn thiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô và bạn
bè đồng nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai cùng gia đình đã tạo
điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành luận văn này.
NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH TRANH GIÀNH ẢNH
HƯỞNG GIỮA NGA VÀ MỸ Ở CÁC NƯỚC THUỘC SNG
VÀ TRIỂN VỌNG CỦA VẤN ĐỀ
..............................................79
3.1. Nhận xét về quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở các nước
thuộc SNG......................................................................................................79
3.2.
Triển vọng của vấn đề ...............................................................................86
KẾT LUẬN..........................................................................................................95
PHỤ LỤC.............................................................................................................99
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................111
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT EPP (Easternt Partnership Program): Chương trình đối tác phương Đông
EU (Europe Union): Liên minh châu Âu
G8 (Group 8): Tổ chức các nước phát triển
IAEA (International Atomic Energy Agency): Cơ quan năng lượng
nguyên tử quốc tế
NATO (North Atlantic Treaty Organization): Hiệp ước quân sự Bắc Đại
Tây Dương
NGOs (Non – Government Organization): Tổ chức phi chính phủ
OPEC (Organization Petrol Export Country): Tổ chức các nước xuất
khẩu dầu mỏ
OSCE (Organization Security Cooperation Europe): Tổ chức an ninh và
hợp tác châu Âu
PACE (Europen Parliament Subcommitee): Uỷ ban Nghị viện châu Âu
SCO (Shanghai Convention Organization): Tổ chức Hiệp ước Thượng Hải
khá lớn nhằm tranh giành ảnh hưởng với Nga.
Nước Nga – tuy nằm trong hoàn cảnh bất ổn về kinh tế và chính trị từ
sau sự sụp đổ của Liên Xô, song vẫn là một cường quốc về quân sự và có
tiềm lực mạnh về kinh tế. Với tham vọng khôi phục lại địa vị trên trường quốc
tế của Liên Xô trước đây, Nga cũng tăng cường mở rộng phạm vi ảnh hưởng
ra các khu vực trên thế giới, thiết lập các mối quan hệ rộng rãi, có lợi cho
m
ình trong quan hệ quốc tế.
2
Trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa hai cường quốc Liên
Xô và Mỹ là quan hệ đối đầu căng thẳng với liên tiếp những cuộc chạy đua vũ
trang. Cũng trong thời kỳ này, vùng ảnh hưởng của mỗi nước được phân chia
rõ ràng và là vùng “bất khả xâm phạm” của đối phương. Liên Xô tạo ảnh
hưởng mạnh mẽ đối với Đông Âu, các nước XHCN và đặc biệt ở các nước
Cộng hòa thuộc Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết. Ngược lại,
Mỹ có ảnh hưởng tại Tây Âu và các nước TBCN khác.
Sau khi Liên Xô tan rã, các nước Cộng hòa trong Liên bang Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Xô viết lần lượt tách ra khỏi Liên Xô và tuyên bố độc lập.
Mười hai trong số mười lăm nước tập hợp lại trong Cộng đồng các quốc gia
độc lập (SNG), trừ ba
nước Baltic. Mặc dù tuyên bố độc lập nhưng tình hình
ở các nước này luôn bất ổn về chính t
rị, yếu kém về kinh tế. Trong hoàn cảnh
nước Nga chưa thoát khỏi khủng hoảng, vùng này trở thành một “khoảng
trống quyền lực”. Mỹ muốn tạo ảnh hưởng của mình lên khu vực này để kiềm
chế Nga, tiến sát biên giới Nga. Do đó, Mỹ muốn giữ được địa vị cũ cần có sự
điều chỉnh đường lối đối ngoại, tăng cường chính sách ngoại giao với các
nước, tăng cường ảnh hưởng của mình
đối với các khu vực trên thế giới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở các nước thuộc
SNG thời kỳ sau Chiến tranh lạnh” là vấn đề mang tính thời sự, chưa có công
trình nghiên cứu nào đề cập một cách trọn vẹn vấn đề này. Trong các bài viết
trên các tạp chí chuyên ngành và trong các cuốn sách về chính sách đối ngoại,
quan hệ quốc tế của Nga và Mỹ có phân tích về quá trình tranh chấp ảnh
hưởng giữa hai nước ở khu vực này. Hầu hết những tác phẩm và bài viết chủ
yếu tìm hiểu từng mảng thời gian hoặc không gian cụ thể, hay phân tích chính
sách của Nga và Mỹ đối với tùng khu vực hoặc trong một khoảng thời g
ian
nhất định.
Một nhóm tác giả thuộc Viện nghiên cứu Châu Âu trong cuốn “Cộng
đồng các Quốc gia độc lập – quá trình hình thành và phát triển” do Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2007 (Nguyễn Quang Thuấn chủ biên) đã
4
phân tích bối cảnh ra đời, quá trình phát triển và triển vọng của các nước
SNG. Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về sự phát
triển của Cộng đồng các Quốc gia độc lập. Các tác giả nhấn mạnh vai trò của
Nga đối với tổ chức này. Ngược lại, các nước SNG cũng là ưu tiên số một
trong chính sách đối ngoại của Nga bởi vị trí địa – chính trị và nguồn tài
nguyên thiên nhiên phong phú ở một số nước thuộc Cộng đồng. Trong cuốn
sách có đề cập cuộc tranh gi
ành ảnh hưởng Nga – Mỹ ở các nước này tuy
chưa tập trung. Tuy nhiên, vấn đề này mới được đề cập rải rác trong từng
chương, từng mục của cuốn sách.
“Bàn cờ lớn” là công trình nổi tiếng của học giả, chính trị gia Zbigniew
Brzezinski. Cuốn sách tập trung phân tích, đánh giá tình hình thế giới sau khi
Liên Xô sụp đổ, về sự phân bố địa bàn chính trị thế giới, đặc biệt là “
mỗi nước sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Đường lối đối ngoại của nước
Nga dưới thời Tổng thống B.Yeltsin lấy “định hướng Đại Tây Dương” và sau
đó là “định hướng Á – Âu” làm trọng tâm. Bước sang thời kỳ V.Putin, lợi ích
dân tộc được đặt lên hàng đầu, các nước thuộc Liên
Xô cũ là ưu tiên số một
trong chính sách đối ngoại. Nước Mỹ trong gian đoạn đầu sau Chiến tranh
lạnh, Tổng thống B.Clinton thực hiện chính sách “Cam kết và mở rộng”
(Engagement and Enlargement) nhằm mở rộng mô hình Mỹ ra toàn thế giới.
Bước sang giai đoạn G. Bush, trước những thay đổi mau lẹ của tình hình thế
giới và trong lòng nước Mỹ sau sự kiện 11/9, vị Tổng thống của phái Diều
hâu đưa ra chiến lược “đánh đòn phủ đầu”, tấn công vào những nơi mà Mỹ
cho là có thể tấn công hoặc đe dọa nước Mỹ.
Trên cơ sở phân tích sự điều chỉnh đường lối đối
ngoại của hai nước
sau Chiến tranh lạnh, tác giả tìm hiểu quan hệ Nga – Mỹ trên các lĩnh vực
chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, khoa học – công nghệ. Trong lĩnh
vực chính trị - an ninh, hai nước đã có sự hợp tác để giải quyết nhiều vấn đề
quốc tế: vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề hòa giải ở Trung
Đông…. Bên cạnh sự hợp tác kể trên, Nga và Mỹ vẫn có những bất đồng
chưa thể giải quyết được, trong số đó có khu vực thuộc các nước Li
ên Xô cũ.
Ở đây, hai nước không thể dung hòa lợi ích của nhau. Mỹ lo sợ Nga sẽ nắm
6
lấy khu vực này làm đối trọng với mình; trong khi Nga coi đây là vùng ảnh
hưởng truyền thống của Nga. Mặc dù có đề cập đến vấn đề các nước SNG và
Baltic trong quan hệ Nga – Mỹ, cuốn sách chưa dẫn ra nhiều sự kiện chứng
minh một cách thuyết phục cho sự tranh chấp của Nga và Mỹ ở khu vực này.
Dù vậy, công trình này là sự gợi ý cho chúng tôi trong khi tìm hiểu vấn đề và
là một tài liệu tham khảo quan trọng.
phần trong SNG. Tuy nhiên, trong luận văn chúng tôi coi Nga là một chủ thể
của cuộc tranh giành ảnh hưởng, do đó SNG chỉ giới hạn trong mười một
nước còn lại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận, trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi
đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để
phân tích, nhìn nhận và đánh giá vấn đề.
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp được
chúng tôi sử dụng chủ yếu trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Phương
pháp lịch sử được sử dụng nhằm tái hiện lại bức tranh sinh động của quá trình
tranh giành ảnh hưởng giữa Nga và Mỹ ở khu vực thuộc các nước Liên Xô cũ
sau Chiến tranh lạnh.
Tranh chấp giữa hai nước diễn ra trên các lĩnh vực kinh
tế, an ninh – chính trị, quân sự.
Trên cở sở bức tranh sinh động ấy, chúng tôi sử dụng phương pháp
logic để rút ra bản chất của vấn đề. Thực chất của tranh chấp Nga – Mỹ ở khu
vực này là tranh giành bá quyền ở “khoảng trống quyền lực”, là muốn tìm
kiếm lợi ích của mỗi nước, quyền lợi của mười một nước còn lại hầu như
không được tôn trọng.
Chúng tôi
cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế
nhằm làm rõ những nhân tố quốc tế chi phối đến quá trình tranh giành ảnh
hưởng của Nga và Mỹ trên địa bàn SNG.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần dựng lại quá trình tranh giành ảnh hưởng giữa Nga
và Mỹ ở vùng lãnh thổ thuộc
các nước SNG thời kỳ sau Chiến tranh lạnh.
8
rong bối cảnh quốc tế hết sức
đặc biệt, đó là sự sụp đổ của các nước XHCN ở Liên Xô, Đông Âu. Vào
những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, nhân loại
chứng kiến một sự kiện “làm rung chuyển thế giới” - sự sụp đổ của hệ thống
XHCN. Vào thời gian này, do sự khủng hoảng kinh tế, chính trị sâu sắc, Liên
Xô tiến hành công cuộc cải tổ nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng
nhưng trê
n thực tế tình hình không được giải quyết, ngược lại khủng hoảng
còn trầm trọng hơn. Năm 1991, những mâu thuẫn kinh tế và chính trị lên đến
đỉnh cao và cuối cùng chế độ Xô viết hoàn toàn sụp đổ sau cuộc đảo chính
ngày 19 – 8 – 1991.
Ngày 8 – 12 – 1991, Tổng thống ba nước Nga, Ucraina, Belarus ra
tuyên bố chung, trong đó nêu rõ Liên bang Xô viết không còn tồn tại nữa và
quyết định thành lập một hình thức liên minh mới gọi là Cộng đồng các quốc
gia độc lập (SNG). Hiệp ước đã xác nhận: “Liên bang Xô viết như một chủ
thể pháp lý và địa chính trị quốc tế đã hoàn toàn kết thúc sự tồn tại của mình”
[10, tr12]. Tám nước còn lại tuyên bố tham gia SNG. Ngày 21 – 12 – 1991,
tại thủ đô Alma Ata (Kazakhstan), 11 nước Cộng hoà ký kết Hiệp định về giải
tán Liên bang Xô viết, chính thức thành lập Cộng đồng các q
uốc gia độc lập.
Toàn bộ lãnh thổ của các quốc gia thuộc SNG nằm gọn trong diện tích
Liên bang Xô viết trước kia. Về vị trí địa lý, hầu hết các nước này đều nằm ở
10
phía Tây và có đường biên giới chung với nước Nga, tạo thành một hành lang
bảo vệ biên giới phía Tây cho nước Nga. Diện tích của 11 nước trong SNG
(không bao gồm Nga) khoảng 5.025.500 km
2
với dân số khoảng 300 triệu
kiện góp phần quan trọng vào sự sụp đổ của thể chế XHCN. Hiện nay, trên
lãnh thổ Ucraina còn lại rất nhiều vũ khí hạt nhân từ thời Liên Xô. Phần lớn
chúng đều đã hết hạn bảo quản và Ucraina không có kinh phí để duy trì. Nếu
những kho vũ khí này rơi vào tay bọn khủng bố thì an ninh của thế giới nói
chung, của Ucraina và các nước SNG bị đe dọa nghiêm
trọng. Bên cạnh đó,
về mặt chính trị, Ucraina không muốn duy trì tổ chức SNG trong khi Nga thì
ngược lại. Ucraina coi SNG là công cụ để Nga áp đặt ảnh hưởng đối với các
nước Cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây.
Với những ý nghĩa trên, SNG là khu vực “bất khả xâm phạm” của Nga.
Đối với Mỹ, mục tiêu lâu dài và xuyên suốt của các nhiệm kỳ Tổng
thống Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới đến nay là thiết lập trật tự thế giới do
Mỹ lãnh đạo, kiềm chế sự nổi lên của các cường quốc khác đe dọa vị thế của
Mỹ. Xét về địa – chiến lược, châu Âu án ngữ vị trí trọng yếu trên thế giới.
Nằm cạnh dòng hải lưu Bắc Đại Tây Dương, châu Âu có lợi thế trong việc sử
dụng và kiểm soát các tuyến giao thông huyết mạch
trên Đại Tây Dương để
sang Bắc và Nam Mỹ. Sau đó, qua kênh đào Sue, các nước châu Âu có thể
đến được vùng vịnh Persique, Nam Á và Đông Nam Á trên những tuyến
đường biển ngắn nhất. Đồng thời, từ châu Âu cũng có thể đến vùng Kavkaz,
Trung Á, Viễn Đông bằng đường bộ. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa châu Âu
với Mỹ nên mọi biến cố quan trọng ở châu Âu trên tất cả các lĩnh vực luôn có
ảnh hưởng nhất định đối với H
oa Kỳ. Đối với nước Nga, các chính quyền kế
tiếp nhau của Mỹ nhận thấy đây là một “thế lực” có nhiều khả năng đe dọa
thế lực của Mỹ trong tương lai. Để kiềm chế Nga, một trong những biện pháp
có tính khả quan là thu hẹp ảnh hưởng của nước này ở những khu vực truyền
thống, SNG là một khu vực như vậy. Nếu SNG có ý nghĩa sống còn với Ng
a
giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra không dễ dàng như
m
ong đợi của các nước SNG. Có thể kể đến một số nguyên nhân của nó như
chưa có cơ cấu liên kết mang tính chính trị hiệu quả, chất lượng của các sản
13
phẩm xuất khẩu rất thấp dẫn đến khả năng cạnh tranh kém do công nghiệp lạc
hậu và thiết bị máy móc cũ kỹ…..Vì vậy, bên cạnh sự giúp đỡ lẫn nhau của
các nước trong khu vực, SNG rất cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài, đặc biệt là từ
các nền kinh tế mạnh. Đây là một cơ hội lớn cho Mỹ đặt chân vào khu vực
SNG trong lĩnh vực kinh tế.
Đối với Nga, mậu dịch giữa Nga và SNG luôn chiếm tỉ trọng cao trong
cán cân ngoại thương giữa hai
bên. Trong kim ngạch ngoại thương của Nga,
các nước SNG chiếm 23%. Nga chiếm tới 70% xuất nhập khẩu của SNG.
Trong năm 1998, tổng giá trị trao đổi thương mại của các nước SNG xuất
khẩu vào Nga là 51,7% còn nhập khẩu từ Nga là 38,8%. Mặt khác, đối với
một số nước SNG, thị trường Liên bang Nga không chỉ hấp dẫn mà đôi khi là
duy nhất cho việc x
uất nhập khẩu các sản phảm công nông nghiệp, nguyên
liệu thô và vật liệu. Số liệu ngoại thương của các nước cho thấy, tỉ trọng của
Nga đối với xuất khẩu của Belarus năm 1998 là 64,9%, còn đối với tổng xuất
khẩu của các nước SNG là 89,2%, những chỉ số này của Moldova tương ứng
là 53,3% và 78,5%, Kazakhstan là 28,9% và 73,5%, với Ucraina là 23,1% và
69,2% (13, tr34).
Một tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng cho khu vực này là “vàng
đen”. Khu vực Trung Á được đánh giá
có trữ lượng dầu khí lớn hơn cả
Cowet, vùng vịnh Mehico và Biển Bắc. Nước Nga cũng là nước có trữ lượng
dầu mỏ và khí đốt lớn vào loại bậc nhất trên thế giới. Tuy nhiên, để khí đốt
minh” của Nga. Một đường lối đối ngoại do Bộ trưởng Ngoại giao Nga lúc đó
là Kozyrev vạch ra và được Tổng thống Yeltsin chấp nhận “tự nguyện ngả
theo phương Tây”. Mục tiêu hàng đầu của đường lối đối ngoại mới là Nga
phải được tham gia khu vực thịnh vượng chung Tây Âu, chuyển từ nền chính
trị XHCN sang nền chính trị dân chủ theo kiểu Tây Âu và khôi phục lại nền
kinh tế. Hai mục tiêu trên chi phối toàn bộ chính sách đối ngoại của Ng
a trong
những năm 1991 – 1993. Trong chính sách đối ngoại mới, nước Nga tự coi
mình là một thành viên của Tây Âu và mong muốn hoàn toàn đứng vào thế
giới của các nước phương Tây. Do đó những chính sách của Nga hoàn toàn lệ
15
thuộc vào Mỹ với hi vọng điều này sẽ giúp Nga gia nhập vào xã hội phương
Tây và các cơ cấu kinh tế thế giới.
Nga đặt toàn bộ hi vọng vào liên minh chiến lược với Mỹ (sau này
được thay đổi bằng sự hợp tác chiến lược). Nga tự nguyện phụ thuộc vào Mỹ
và các nước phương Tây để đổi lấy sự trợ giúp kinh tế, đầu tư và hiện đại hóa
công nghệ cho Nga. Chính sách đối ngoại của Nga ở thời kỳ này nêu ra rằng,
Nga cần phải đi theo con đường Đức, Nhật – tạm t
hời phụ thuộc vào Mỹ và
các nước phương Tây để khôi phục lại nền kinh tế, tạm thời từ bỏ chính sách
đối ngoại độc lập để hòa nhập với Mỹ và thế giới phương Tây. Do vậy, Nga
cho rằng việc Nga gia nhập NATO và khối thị trường chung châu Âu là hoàn
toàn phù hợp. Ngày 20 – 12 – 1992, Tổng thống Nga B.Yeltsin đã đưa ra vấn
đề Nga muốn gia nhập NATO như là một “mục tiêu chính trị lâu dài”. Nhằm
thúc đẩy Nga có thể nhanh chóng hòa nhập vào thế giới Tư bản chủ nghĩa, Bộ
trưởng bộ Ngoại giao Nga kêu gọi cần phải thay đổi thái độ với thế giới này,
cần phải công nhận Mỹ đóng một vai trò tích cực trong t
hế giới hiện tại và
việc duy trì sự có mặt quân sự của Mỹ ở các nước th
hời suy yếu. Trước hết, việc các nhà lãnh đạo hướng nước Nga đi theo
con đường Đức – Nhật là hoàn toàn không phù hợp bởi sự thua trận của Đức,
Nhật trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và sự thua trận của Nga trong
chiến tranh Lạnh không giống nhau. Nga hoàn toàn không bị tước đi chính
sách đối ngoại của riêng mình, mà chính Nga tự nguyện từ bỏ quyền ngoại
giao độc lập để phụ thuộc vào Mỹ và phương Tây để hi vọng nhận được một
sự trợ giúp to lớn về kinh tế.
Mặt khác, để sớm cải thiện qua
n hệ với Mỹ và đồng minh của Mỹ, Nga
phải tiến hành cải cách nóng vội, thiếu các tiền đề vất chất cũng như tư tưởng
cần thiết. Điều này ngày càng đẩy Nga vào cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn
như nạn thất nghiệp, lạm phát tăng nhanh, cuộc đấu tranh giành quyền lực
giữa các p
he phái chính trị…khiến cho người dân Nga bất bình. Một làn sóng
phản đối chính sách thân phương Tây dấy lên. Hoa Kỳ sau một thời gian chờ
đợi sự ổn định và phục hồi của nền kinh tế Nga cũng dần dần mất hi vọng bởi
sự khủng hoảng ngày càng tăng trong lĩnh vực kinh tế, xã hội. Các yếu tố đó
17
đã khiến cho sự “thân mật” ban đầu giữa Mỹ với Nga giảm dần. Bên cạnh đó,
đường lối đối ngoại của giới lãnh đạo Nga cũng không tạo được sự đồng tình
trong nước. Nhà nước Nga đang dần được phục hồi, giới chính trị Nga muốn
nhìn thấy Nga là một cường quốc, được tôn trọng trong các vấn đề quốc tế
chứ không phải là một nước Nga chỉ biết gật đầu theo Mỹ và phương Tây.
Bắt đầu từ năm
1994, chính sách đối ngoại của Nga không chỉ tập trung
vào phương Tây và có những biện pháp tích cực nhằm khôi phục lại ảnh
hưởng của Liên Xô trước đây, đặc biệt ở các nước SNG. Nga tăng cường
quan hệ với các nước này để khôi phục lại ảnh hưởng của mình ở đó. Đồng
thời, quan hệ này giúp Nga khắc phục được sự lệ thuộc quá lớn vào phương
Từ chính sách thân và tuyệt đối
nghe theo phương Tây, chính sách đối
ngoại của Nga chuyển sang mục tiêu “đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu”, đặc
biệt từ khi E.Primacov lên làm Ngoại trưởng, đường lối đối ngoại của Nga
ngày càng cứng rắn hơn. Primacov đã nói về một số nhiệm vụ ưu tiên trong
chính sách đối ngoại của nước Nga (3, tr 46): thứ nhất, tạo những điều kiện
đối ngoại tốt nhất, thuận lợi nhất cho việc củng cố toàn vẹn lãnh thổ Nga; thứ
hai, củng cố các xu thế hướng tâm
, liên kết trên lãnh thổ Liên Xô cũ, loại trừ
khả năng để bất cứ thế lực bên ngoài nào chia rẽ Nga và các nước SNG vì
mục đích trên; thứ ba, phát triển các mối quan hệ có hiệu quả giữa các quốc
gia, ngăn chặn sự hình thành các lò lửa căng thẳng mới. Primacov gọi đó là
chính sách “ngoại giao đa phương”, “ngoại giao tích cực”.
Chính sách đối ngoại của Nga tiếp tục được thể hiện trong “Học thuyết
an ninh quốc gia của Liên bang Nga” tháng 12 – 1997. Học thuyết nêu rõ, để
bảo vệ quyền lợi dân tộc trên trường quốc tế, Nga sẽ tiến hành đường lối đối
ngoại tích cực, củng cố vị trí cường quốc của mình, tăng cường liên kết với
các nước SNG…
Trong chí
nh sách đối ngoại của Nga, các nước SNG luôn ở vị trí ưu
tiên hàng đầu. Đối với Nga, quan trọng trước hết là những gì đang diễn ra
trong SNG sát biên giới Nga. Một trong những nguyên nhân chính mà Bộ
trưởng Ngoại giao đầu tiên của Liên bang Nga A.Kozyrev bị cách chức là do
19
ông ta không chú ý đúng mức đến việc giữ gìn và củng cố quan hệ với các
nước láng giềng của Nga, trước hết là SNG. Khi E.Primacov lên làm Bộ
trưởng Ngoại giao (1995), công việc đó được đẩy lên nhưng sự chuyển biến
về chất không đáng kể. Có nhiều lý do, song một trong những lý do quan
trong khuôn khổ tổ chức SNG.
Lên làm chủ điện Kremli với một thuận lợi tuyệt vời là có sự hậu thuẫn
toàn diện của người tiền nhiệm Putin, Tổng thống D. Medvedev chắc chắn sẽ
tiếp tục đưa nước Nga đi theo con đường mà ông Putin đã kiên trì thực hiện
trong suốt hai nhiệm kỳ. Ngày 31 – 8 – 2008, Tổng thống Medvedev đã vạch
ra 5 nguyê
n tắc mà chính sách ngoại giao tương lai của Moskva sẽ lấy đó làm
căn cứ và cho biết nếu cần thiết, nó có thể mở đầu cho các biện pháp trừng
phạt của Nga đối với các nước khác. Thứ nhất, tôn trọng những nguyên tắc cơ
bản của pháp luật quốc tế. Thứ hai, thế giới phải đa cực. Nước Nga không
công nhận một thế giới mà ở đó,
tất cả các quyết định được ban hành bởi một
phía, thậm chí đó là một quốc gia hùng mạnh như Mỹ. Điều đó cũng giống
như một thế giới đầy bất ổn và luôn bị đe dọa bởi xung đột. Thứ ba, Nga
không muốn đối đầu với bất kỳ nước nào và không có ý định để mình bị cô
lập. Thứ tư, Nga sẽ bảo vệ tính mạng của công dân nước m
ình, cho dù họ ở
bất cứ nơi đâu. Thứ năm, Nga cũng như những nước khác trên thế giới đều có
những khu vực được ưu tiên và Nga sẽ phát triển quan hệ ở những khu vực
thân thiện.
Trong số các nước SNG, quan hệ Nga – Belarus được xem là mối quan
hệ mẫu mực do sự gắn kết về kịch sử, truyền thống gắn kết về dân tộc, tôn
giáo. Trước hết, mối quan hệ này được thể hiện trong việc xây dựng một nhà
nước Liên
minh với đồng Rup Nga dự kiến đưa vào sử dụng vào cuối năm
2006, nhưng trên thực tế chưa thực hiện được. Hiện nay Nga là bạn hàng lớn
nhất của Belarus, đồng thời Belarus cũng là bạn hàng lớn nhất của Nga trong
số các nước SNG. Thương mại có một vị trí quan trọng trong quan hệ ki
nh tế
giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề không phải chỉ ở lĩnh vực thương mại,