Nhật Bản trong quan hệ với các nước khu vực Đông Bắc Á thời kỳ sau chiến tranh lạnh - Pdf 29

Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt cho tới nay, hơn một thập niên đã trôi
qua. Thế giới với nhiều thay đổi lớn mà điển hình là một trật tự mới đang được
hình thành thay thế cho trật tự hai cực trước đây. Với trật tự mới này, các nước
vừa đấu tranh để tồn tại vừa hợp tác với nhau. Do đó, để có được một vị trí vững
chắc trên trường quốc tế, mỗi quốc gia đều có một phương hướng, đường lối
chính sách riêng của mình. Trong cuộc cạnh tranh gay gắt như vậy, bằng cách
điều chỉnh chính sách đối ngoại với các nước, Nhật Bản cũng là một trong nhiều
nước đang từng bước tìm kiếm vị trí phù hợp với tiềm năng kinh tế của mình.
Như chúng ta đã biết, khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản
là nước bại trận và phải chịu sự chiếm đóng của lực lượng quân Đồng minh.
Dưới sự áp đặt của Mỹ, Nhật Bản đã trở thành một nước phi quân sự trong sự
ràng buộc của điều 9 bản Hiến pháp hoà bình 1946. Và cũng trong thời gian này,
Nhật Bản đã lựa chọn theo đuổi một chính sách ngoại giao phụ thuộc vào Mỹ,
tập trung phát triển kinh tế để khôi phục lại vị trí của mình.
Khi thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, nhằm xây dựng cho mình
một đồng minh chống chủ nghĩa xã hội ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương,
Mỹ đã biến Nhật trở thành một căn cứ quân sự và một đồng minh chiến lược của
mình. Ngược lại, nhờ có Hiệp ước an ninh Mỹ- Nhật, Nhật Bản có điều kiện để
phát triển kinh tế và kết quả là Nhật Bản đã nhanh chóng trở thành nền kinh tế
lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ. Tuy vậy, trên chính trường thế giới, Nhật
Bản vẫn không có ảnh hưởng lớn, chỉ được coi như là "một bộ phận của Mỹ" với
tư thế tuy là "người khổng lồ về kinh tế nhưng lại là một chú lùn về chính trị".
Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, tình hình thế giới cũng như khu vực đã
có nhiều thay đổi, tạo cơ hội cho Nhật Bản có thể vươn lên trở thành một trong
nhiều cực hình thành nên trật tự thế giới mới. Nhật Bản vẫn coi mối quan hệ với
Mỹ là nền tảng trong chính sách đối ngoại của mình nhưng tỏ ra độc lập hơn,
đồng thời tích cực tăng cường quan hệ với các nước châu Á với mục đích muốn
1
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà

thúc dưới tác động của bối cảnh thế giới và khu vực.
Ch ương 3 : Triển vọng trong quan hệ của Nhật Bản với các nước khu vực
Đông Bắc Á trong thế kỷ XXI.
Bằng những nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau
Chiến tranh lạnh, bài khoá luận này nhằm đưa ra cho người đọc một cái nhìn
khái quát nhất về quan hệ của Nhật Bản với các nước khu vực Đông Bắc Á (bao
gồm Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên và Mông Cổ) để có thể thấy
được Nhật Bản đã điều chỉnh chính sách của mình như thế nào trong bối cảnh
mới với mục tiêu trở thành một cực tạo nên trật tự thế giới mới và là nước đóng
vai trò dẫn đầu trong khu vực.
Các tài liệu tham khảo sử dụng trong bài khoá luận này chủ yếu đều là
những bài viết đăng ở các tạp chí Nghiên cứu quốc tế, tạp chí Nghiên cứu Nhật
Bản và Đông Bắc Á, Tin tham khảo đặc biệt... từ năm 1995 cho đến năm 2002,
và một số sách của các tác giả như TS. Nguyễn Duy Dũng, TS. Nguyễn Thanh
Hiền, TS. Ngô Xuân Bình…
Trong quá trình thực hiện bài khoá luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ,
chỉ bảo tận tình của PGS. Nguyễn Quốc Hùng, chủ nhiệm bộ môn Nhật Bản,
khoa Đông Phương học cũng như rất nhiều thầy cô giáo ở Trung tâm nghiên cứu
Nhật Bản và Đông Bắc Á. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Hùng và các
thầy cô đã giúp tôi hoàn thành luận văn của mình.
Với sự hiểu biết và khả năng phân tích, đánh giá còn hạn chế, bài khóa
luận không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong sẽ nhận được nhiều đóng góp, ý kiến
chỉ bảo của thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn.
3
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
Chương 1: Nhìn lại quan hệ của Nhật Bản với các nước Đông Bắc
Á
trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1945 - 1989)
1. Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai

- Cũng trong dịp này, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật được ký kết. Hiệp ước
qui định Nhật Bản thoả thuận cho Mỹ được quyền thiết lập những căn cứ quân
sự trên lãnh thổ Nhật Bản nhằm bảo đảm an ninh cho Nhật Bản. Theo Hiệp ước
này, Nhật Bản cung cấp khoảng 130 cơ sở và căn cứ trên toàn lãnh thổ cho Mỹ.
Sau khi Hiệp ước được ký kết, đến tháng 4/1952, việc chiếm đóng Nhật
Bản của quân đội Mỹ đã chính thức chấm dứt. Và đây cũng là mốc quan trọng
đánh dấu việc Nhật Bản tiến hành các quan hệ ngoại giao trên trường quốc tế.
Cũng từ năm 1952, Nhật Bản bước vào thời kỳ tăng trưởng “thần kỳ” về kinh tế,
ổn định về chính trị - xã hội kéo dài đến năm 1973.
Mặc dù đã giành được sự kiểm soát về ngoại giao nhưng ở giai đoạn này
không thể nói Nhật Bản đã hoàn toàn độc lập trong chính sách đối ngoại của
mình. Nhật Bản vẫn theo đuổi chính sách tiếp tục phát triển quan hệ với Mỹ trên
cơ sở Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật. Lúc đầu Hiệp ước này chỉ có giá trị trong 10
năm, nhưng đến ngày 19/1/1960, một Hiệp ước bổ sung và thay thế Hiệp ước cũ
đã được ký kết. Không dừng lại đó, đến năm 1970, hai bên lại ký kết kéo dài
vĩnh viễn Hiệp ước này.
Từ năm 1952 đến đầu những năm 70 là giai đoạn phục hồi, phát triển kinh
tế mạnh mẽ của Nhật Bản. Cũng từ đây, Nhật Bản muốn hướng tới một chính
sách đối ngoại đa dạng hơn và giảm sự phụ thuộc vào Mỹ. Vì vậy, cho đến khi
chiến tranh lạnh kết thúc, Nhật Bản đã đề ra những đường lối, kế hoạch cụ thể
với ba lĩnh vực chủ yếu được nhấn mạnh trong chính sách đối ngoại của Nhật
Bản ở thời kỳ này là kinh tế, quân sự và ngoại giao với các khu vực và các quốc
gia.
Về kinh tế, Nhật Bản tiếp tục duy trì chính sách ngoai giao về kinh tế với
các khu vực trên thế giới với phương châm tìm cách xâm nhập, mở rộng thị
5
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
trường. Đặc biệt với các nước châu Á - Thái Bình Dương, Nhật Bản tìm cách
nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác vì đây là khu vực có nền kinh tế phát triển
năng động mà tiêu biểu là các nước và lãnh thổ có nền công nghiệp mới NIEs.

Nhật Bản cũng chú trọng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
Đông Nam Á, đặc biệt với ASEAN.
Với các nước phương Tây, Nhật Bản luôn thắt chặt quan hệ với Mỹ thông
qua những thoả thuận an ninh và chủ trương “mâu thuẫn kinh tế không làm tổn
hại đến sức mạnh quan hệ hai nước”. Thực tế là trong những năm 80 và đầu
những năm 90 đã xảy ra những bất đồng về kinh tế, thậm chí là “những cuộc
chiến tranh thương mại” đã bùng nổ giữa Mỹ và Nhật Bản nhưng hai nước vẫn
hợp tác chặt chẽ với nhau để giải quyết những vấn đề tồn tại. Mối quan hệ này
tiếp tục được phát triển trên cơ sở hợp tác hai bên trong các vấn đề chiến lược
tương lai.
Với các nước Tây Âu, Nhật Bản thực hiện nguyên tắc bảo đảm sự cân
bằng quan hệ hợp tác giữa Nhật Bản - Tây Âu - Mỹ để duy trì và tăng cường sức
mạnh của Nhật Bản. Qua đó, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ Nhật Bản với Tây
Âu mà chủ yếu với Cộng đồng Châu Âu (EC) trước đây và Liên minh Châu Âu
(EU) ngày nay.
Nhìn chung, có thể nói nội dung cơ bản xuyên suốt trong chính sách đối
ngoại của Nhật Bản từ năm 1945 cho đến khi chiến tranh lạnh kết thúc là dựa
trên nguyên tắc mềm dẻo, chấp nhận sự an phận về vị thế an ninh, chính trị,
ngoại giao phụ thuộc vào Mỹ để tập trung tất cả cho việc phục hồi và phát triển
nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
7
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
2. Quan hệ của Nhật Bản với các nước Đông Bắc Á trong thời kỳ chiến tranh
lạnh
Năm 1952, Nhật Bản bước ra khỏi thời kỳ bị chiếm đóng song các hoạt
động ngoại giao của Nhật bản trên vũ đài quốc tế vẫn còn rất hạn chế. Hiệp ước
an ninh Mỹ - Nhật chỉ là một biểu hiện của sự phụ thuộc đa dạng và chặt chẽ vào
Mỹ. Thời điểm này Nhật không tham gia bất kỳ tổ chức quốc tế nào, Nhật không
ký Hiệp ước hoà bình và không có quan hệ ngoại giao với cả Liên Xô và Trung
Quốc. Nhật tách rời khỏi các nước châu Á láng giềng của mình khi việc sửa chữa

đang và sẽ gây ra. Với mục đích đổi mới chính sách châu Á, chính phủ Nhật Bản
bắt đầu một số hoạt động ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa châu Á. Và
ngay sau đó, vào tháng 9/1972, Thủ tướng Tanaka tới Bắc Kinh và hai chính phủ
Trung - Nhật đã có Tuyên bố chung về thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai
nước.
Từ đó, Nhật Bản coi châu Á có tầm quan trọng hơn trong chính sách đối
ngoại của mình. Tư tưởng chủ đạo đằng sau những chính sách mới về châu Á
này là Nhật Bản cần đóng góp vào việc tạo lập một thế cân bằng mới và làm
tăng thêm sự ổn định ở châu Á. Ngoài ra, Nhật cũng muốn bảo đảm và mở rộng
những thành quả kinh tế ở khu vực cho nên muốn Đông Á và Đông Nam Á càng
ổn định càng tốt. Những sự kiện xảy ra từ cuối năm 1978 đến năm 1979 (Việt
Nam đưa quân vào Campuchia, xung đột biên giới Việt - Trung, Liên Xô đưa
quân vào Apganixtan...) làm cho quan hệ Nhật - Việt trở nên lạnh nhạt, quan hệ
Nhật - Xô bị đông cứng còn quan hệ Nhật - Trung thì được cải thiện. Cho đến
tháng 8/1978, Nhật đã ký được Hiệp ước hoà bình với Trung Quốc.
Từ giữa thập kỷ 60, sức mạnh kinh tế của Nhật Bản không ngừng được
khẳng định. Nhật Bản đã trở thành bạn hàng số một ở khu vực châu Á - Thái
Bình Dương, nơi mà trước đây vị trí này thuộc về các nước phương Tây như Mỹ
ở Nam Triều Tiên và Đài Loan, hay Anh ở Ôxtrâylia. Xuất khẩu của Nhật Bản
vào Đông Nam Á tăng từ 1,8 tỷ đôla (1964) lên 4,9 tỷ (1970) và mang lại cho
Nhật Bản khoản lợi nhuận 2 triệu đôla vào năm đó. [23,79]
Chính phủ Nhật Bản gặp nhiều khó khăn nhất là trường hợp thiết lập quan
hệ ngoại giao với Hàn Quốc. Mặc dù Mỹ khuyến khích hai nước sớm ký kết hiệp
định bình thường hoá quan hệ ngoại giao nhưng các cuộc đàm phán giữa hai bên
từ năm 1951 không đem lại kết quả gì. Giữa hai nước còn có nhiều vấn đề tồn tại
9
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
trong đó có vấn đề lãnh hải, vấn đề bồi thường tài sản, vấn đề địa vị pháp lý của
người Triều Tiên đang sống trên đất Nhật. Năm 1961, Hàn Quốc xảy ra cuộc đảo
chính do quân đội tổ chức. Chính quyền Lý Sung Man giữ chính sách thù Nhật

chỉnh 3 vấn đề đối ngoại lớn của mình sao cho tự chủ hơn. Đó là quan hệ với hai
nước cộng sản láng giềng lớn, lập trường đối với Trung Đông trong việc giải
quyết những mâu thuẫn liên quan đến cung ứng năng lượng cho Nhật Bản và vị
thế của Nhật Bản ở khu vực Châu Á là nơi luôn bị đe doạ bằng sự bất ổn định
song cũng được đánh dấu bằng việc xuất hiện các nền kinh tế mới phát triển.
Phong cách ngoại giao mới của Nhật Bản thời gian này là thực hiện một chính
sách ngoại giao đa phương.
Dù khôn khéo và tỏ ra tự chủ hơn trong chính sách đối ngoại song Nhật
Bản vẫn phải hoạt động thống nhất với phương Tây. Trong quan hệ kinh tế với
Mỹ, do Nhật Bản xuất siêu nên mâu thuẫn với Mỹ là không tránh khỏi. Cú sốc
Nixơn thứ hai là bằng chứng khi Nhật Bản phải chấp nhận sự định giá lại đồng
yên (8/1971), chấp nhận ký hiệp định hạn chế các sản phẩm dệt tăng hàng năm
vào thị trường Mỹ và chịu thiệt thòi trong việc Mỹ đánh thuế phụ thu 10% đối
với hàng nhập khẩu vào Mỹ. Dù có những mâu thuẫn thì quan hệ song phương
Nhật - Mỹ vẫn rất sôi động.
Cuối thập kỷ 70, nhiều sự kiện bất ổn về an ninh diễn ra liên tục ở khu vực
châu Á - Thái Bình Dương khiến cho Nhật Bản phải đưa ra những thay đổi trong
chính sách đối ngoại. Thời kỳ này Nhật Bản đã áp dụng đường lối quay lại
phương Tây, tự xếp mình vào thế giới phương Tây.
Khi Hiệp ước hoà bình Nhật - Trung được ký kết năm 1978, Liên Xô đã
thể hiện phản ứng của mình bằng cách cho quân đội đóng trên đảo Iturup. Sự
căng thẳng giữa Nhật Bản và Liên Xô còn tăng thêm nữa khi Nhật Bản cũng tổ
chức cuộc tập trận lớn từ sau chiến tranh của lực lượng phòng vệ tại Hokkaido
và một phần đảo Honshu bên cạnh để đối phó với "mối đe doạ Liên Xô". Thời
gian này quan hệ hai nước bị đông cứng. Cho đến năm 1986, Bộ trưởng ngoại
giao hai nước không hề gặp nhau.
Sang thập kỷ 80, quan hệ chính trị của Nhật Bản với Trung Quốc cũng
xấu đi. Năm 1982 vụ sách giáo khoa Nhật Bản đã gây ra sự phản kháng của
Trung Quốc chống "chủ nghĩa quân phiệt phục sinh". Năm 1985 chuyến viếng
thăm đền Yasukuni của Thủ tướng Nakasone lại gây nên làn sóng chống Nhật

ngại như vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Nga, vấn đề bồi thường chiến tranh cho
Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên và những thái độ nghi ngờ lẫn nhau giữa các
nước vẫn còn tồn tại. Đó cũng chính là những nội dung mà các bên vẫn đang nỗ
12
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
lực tiếp tục thương lượng cùng nhau giải quyết nhằm hướng tới mục tiêu cải
thiện ngoại giao, thúc đẩy hợp tác kinh tế cùng phát triển trong tình hình mới.
13
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
Chương 2: Nhật Bản trong quan hệ với các nước Đông Bắc
Á
thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1991 - 2001)
1. Bối cảnh quốc tế và khu vực sau chiến tranh lạnh
1.1 Bối cảnh quốc tế
1.1.1 Xu thế tiến tới đa cực hoá
Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đổ của Trật tự thế giới hai cực
đứng đầu là Liên Xô và Mỹ. Môi trường an ninh quốc tế có nhiều biến đổi sâu
sắc và rộng khắp, từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và ở mọi phương diện.
Thế giới đang trong quá trình chuyển tiếp sang trật tự thế giới mới với xu thế nổi
trội là đa cực, đa trung tâm. Liên Xô sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất
với ưu thế vượt trội cả về kinh tế, quân sự, chính trị và khoa học - kỹ thuật. Hơn
nữa, thập kỷ đầu của thời kỳ sau chiến tranh lạnh lại chứng kiến một thời kỳ
kinh tế phát triển dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Khoảng cách giữa Mỹ và các
đối thủ đặc biệt là Nhật Bản và EU càng được mở rộng vì sự chênh lệch lớn
trong tốc độ phát triển kinh tế. Từ năm 1990 đến 1998, kinh tế Mỹ tăng tới 27%,
gần như gấp đôi so với EU 15% và Nhật Bản 9%. [5,21]. Mỹ có khả năng duy trì
được vị trí siêu cường của mình trong nhiều thập kỷ tới. Mỹ còn nắm giữ vai trò
chủ đạo trong các thiết chế tài chính, thương mại thế giới như IMF, WTO, WB…
Mỹ cũng là nước lãnh đạo khối liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO)
và qua đó duy trì sự lệ thuộc của các nước Tây Âu vào Mỹ về măt chính trị và

mặt hợp tác và đấu tranh sẽ tiếp tục đan xen nhau và thể hiện với những thăng
trầm trong quan hệ của các nước ở khu vực trong nhiều thập kỷ tới.
1.1.2. Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các nước trên thế giới, lớn cũng như
nhỏ, đều mong muốn duy trì một môi trường quốc tế hoà bình và tăng cường
hợp tác quốc tế để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế trở
thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược của mọi quốc gia. Cạnh tranh kinh tế
15
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
ngày càng chiếm ưu thế so với chạy đua vũ trang. Sức mạnh kinh tế đã và đang
trở thành nhân tố quyết định của sức mạnh quốc gia. Tuy nhiên, yếu tố kinh tế
không thể thay thế vai trò của sức mạnh quân sự trong việc đảm bảo an ninh
quốc gia, khu vực và quốc tế. Cách mạng khoa học - công nghệ, xu thế toàn cầu
hoá và khu vực hoá và phụ thuộc lẫn nhau đang phát triển mạnh mẽ, những cuộc
xung đột khu vực, cục bộ về các vấn đề sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ diễn ra liên
tiếp cho thấy sức mạnh quân sự vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng trong sức
mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia.
Hầu hết các khối và các nước đều cần có môi trường bên trong và bên
ngoài ổn định, hoà bình để tập trung phát triển kinh tế. Đây là một đặc điểm có
tính chất chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế. Với mục tiêu trọng tâm là xây
dựng tiềm lực kinh tế nên các nước đều cố gắng tránh các xung đột đối kháng và
tìm cách giải quyết bằng đối thoại, đàm phán hoà bình khi có mâu thuẫn nảy
sinh.
Sự trỗi dậy của nhiều nước đang phát triển cho thấy có hiện tượng chênh
lệch về trình độ phát triển kinh tế, xã hội và chính trị giữa các nước và các khu
vực khác nhau trong bối cảnh vừa phải phụ thuộc, hợp tác cùng nhau phát triển
vừa cạnh tranh quyết liệt. Từng nước, kể cả những nước lớn nhất, đều đứng
trước những cơ hội và thách thức vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù với
mỗi quốc gia để lựa chọn và giải quyết. Chính sự phát triển không đồng đều đã
dẫn tới sự mất cân bằng và phân bố quyền lực mới.

không đồng đều về cường độ và phạm vi địa lý giữa mỗi nước cũng như mỗi khu
vực. Quá trình này diễn ra ngày càng mạnh mẽ và phức tạp, một mặt do những
tiền đề, điều kiện thuận lợi như thành quả của cuộc cách mạng công nghệ tin học
đã cho phép các quan hệ quốc tế đặc biệt là các quan hệ kinh tế quốc tế được
thực hiện một cách nhanh chóng. Mặt khác, toàn cầu hoá và khu vực hoá còn là
một tất yếu khách quan do nhu cầu tăng cường quan hệ giữa các quốc gia nhằm
khai thác lợi thế so sánh của nhau. Tiến trình này đem đến kết quả là bản đồ thế
giới dần dần thay đổi theo hướng đa trung tâm, nhiều cường quốc cùng tồn tại
cạnh nhau. Đồng thời, nhiều nhóm nước đang phát triển cũng liên minh lại, hình
thành các hình thức hợp tác tiểu khu vực. Vì vậy, ngoài các liên minh khu vực
17
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
lớn như EU, NAFTA, APEC còn có hàng chục liên minh tiểu khu vực khác như
ASEAN, FTA, Thị trường chung châu Mỹ và Cộng đồng Nam Phi...
1.2. Bối cảnh khu vực
1.2.1. Nhật Bản
Bước vào thập kỷ 90, cũng là lúc nền kinh tế “bong bóng” ở Nhật Bản sụp
đổ, nền kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng đình trệ kéo dài. Từ năm 1991 đến
nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản nhiều năm chỉ đạt dưới 1%. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế thực tế đã giảm từ 2,9% năm 1991 xuống còn 0,4% năm
1992 và 4 năm liền từ 1992- 1995 mức tăng trưởng trung bình chỉ đạt 0,6%. [10,
371].
Bên cạnh đó, sự tăng giá của đồng yên là một khó khăn lớn cho nền kinh
tế Nhật, là nền kinh tế ngoại thương rất nhạy cảm với mọi biến động trên thị
trường quốc tế, đặc biệt là thị trường tài chính. Trong 3 năm từ 1993- 1995 đồng
yên tăng giá liên tục (1993: 111,8 yên/USD, 1994: 94,83 yên/USD, 1995: 83,9
yên/USD). [11, 28 - 29]. Do đó, hàng xuất khẩu của Nhật Bản tính theo đôla trở
nên quá đắt và làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đồng thời gây
cản trở cho các ngành công nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản. Đồng yên tăng giá
cũng làm tổn hại đến lòng tin của các nhà đầu tư vào kinh doanh. Tình trạng phá

1980 là 9,05% và năm 1995 là 14,5%). [11, 39 - 40].
Xu hướng già hóa dân số ở Nhật Bản đã và đang làm thay đổi cơ cấu và
chất lượng lao động. Tỷ lệ người già trong lực lượng lao động tăng dần theo từng
năm. Hơn nữa, do tỷ lệ sinh giảm đã làm cho tốc độ bổ sung lao động trẻ cho các
lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân cũng giảm theo. Dân số ít đi và già hơn có
nghĩa là hoạt động kinh doanh thu hẹp lại, lực lượng lao động ít hơn, giá cả sức
lao động tăng cao, ảnh hưởng đến đầu tư phát triển sản xuất, số tiền tiết kiệm và
số tiền dành cho đầu tư cũng co lại nhường chỗ cho các khoản chi phí cho phúc
lợi xã hội, hưu trí và chăm sóc người già. Dân số và lực lượng lao động già đi
19
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
cũng khiến cho chế độ làm việc suốt đời và tăng lương theo thâm niên của các
công ty Nhật Bản phải thay đổi.
Bước vào những năm 90, nền kinh tế Nhật Bản bị khủng hoảng và suy
thoái kéo dài, bên cạnh đó chế độ chính trị cũng bị chao đảo và rối loạn với sự ra
đời, tách nhập nhiều đảng phái mới tranh giành quyền lãnh đạo. Ngày 18/7/1993
là mốc đánh dấu lần đầu tiên sau 38 năm, Đảng Dân chủ Tự do (LDP) đã mất vai
trò lãnh đạo độc tôn trên sân khấu chính trị Nhật Bản. Mặc dù Nhật Bản, dưới sự
lãnh đạo của LDP trong gần 4 thập kỷ, đã đạt được những tiến bộ thần kỳ nhưng
đã đến lúc hệ thống này bộc lộ những khuyết điểm lớn dẫn đến bê bối chính trị
lan tràn, tham nhũng tài chính liên tục, không còn thích hợp với Nhật Bản trong
thời kỳ sau chiến tranh lạnh nữa.
Sự thất bại của LDP bắt đầu cho sự cầm quyền của một liên minh 7 đảng
nhưng không đảng nào nắm quyền chủ đạo trong chính phủ, rồi chuyển sang
chính phủ đa đảng thiểu số, tiếp đó là chính phủ liên hiệp ba đảng trong đó một
đảng nắm vai trò chi phối, rồi lại quay trở về với chính phủ độc đảng với vai trò
độc tôn do Hashimoto làm Thủ tướng. Đây là chính phủ trụ được thời gian dài
nhất kể từ sự kiện tháng 7/1993. Cho đến tháng 7/1998 tại cuộc bầu cử thượng
viện, LDP đã thất bại nặng nề khiến Thủ tướng Hashimoto phải từ chức nhưng
đảng này vẫn chiếm đa số ghế tại hạ viện nên vẫn giữ được quyền thành lập nội

liên tục tăng trưởng với tốc độ 8- 9% đã làm GDP của Trung Quốc tăng lên gấp
ba lần chỉ trong vòng chưa đầy hai thập kỷ và cuối năm 2001 đạt gần 1.200 tỷ
USD. Theo nhiều dự đoán, nếu Trung Quốc tiếp tục chính sách mở cửa, nền kinh
tế Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức trên 5% mỗi năm trong vòng hàng
chục năm tới. [5, 31].
Là một cường quốc với dân số lên tới 1,3 tỷ người, Trung Quốc đang trên
đường phát triển thành một siêu cường về kinh tế và quân sự. Ảnh hưởng ngày
càng tăng của Trung Quốc ở khu vực làm cho các nước lớn khác như Mỹ, Nhật
Bản, Nga, Ấn Độ lo ngại. Hơn nữa, do Trung Quốc liên quan mật thiết đến hầu
hết các thách thức an ninh ở khu vực như Đài Loan, tranh chấp ở Biển Đông,
21
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
vấn đề Triều Tiên, nên cách thức mà Trung Quốc giải quyết những vấn đề này
như thế nào có tác động vô cùng to lớn đến cục diện an ninh ở khu vực.
Cuộc khủng hoảng ở eo biển Đài Loan năm 1996 một lần nữa cho thấy
tính chất bất ổn định và tiềm ẩn xung đột ở nơi vốn được coi là một điểm nóng
tiềm tàng ở khu vực. Cuộc tập trận và bắn tên lửa ở eo biển Đài Loan hồi tháng
3/1996 đã đẩy Mỹ và Trung Quốc tới gần một cuộc đụng độ hơn bao giờ hết. Và
ít ai tranh cãi thực tế Đài Loan là vấn đề phức tạp nhất, có tiềm năng gây xung
đột nhất trong quan hệ Mỹ - Trung. Nhân tố chính trị nội bộ Mỹ, điển hình là
cuộc tranh cãi giữa phái bảo thủ Cộng hoà thân Đài Loan và phái trung dung tôn
trọng nguyên tắc một nước Trung Quốc, làm cho quan hệ Mỹ - Trung vốn không
ổn định càng trở nên khó dự đoán. Xu hướng độc lập và tìm kiếm một vị thế
quốc tế của Đài Loan, chủ nghĩa dân tộc và quyết tâm thu hồi lãnh thổ của Trung
Quốc cùng với "sự mập mờ chiến lược" của Mỹ làm cho eo biển Đài Loan trở
thành một trong những khu vực tiềm tàng xung đột nhất ở khu vực châu Á -
Thái Bình Dương. Nếu chiến tranh xảy ra ở eo biển Đài Loan, an ninh khu vực
sẽ bị đe doạ nghiêm trọng bởi sự đụng độ khó tránh khỏi giữa Mỹ, siêu cường
duy nhất còn lại, và Trung Quốc, siêu cường trong tương lai của thế kỷ XXI.
Một điểm nóng tiềm tàng khác ở khu vực là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ

Thứ ba, các nước trong khu vực cũng có lợi ích trong việc lôi kéo Nga
tham gia và có vai trò trong các vấn đề khu vực. Trung Quốc có lợi ích trong
việc thúc đẩy quan hệ với Nga nhằm đối trọng trong quan hệ với Mỹ và Nhật
Bản, Nga cũng có vai trò quan trọng ở bán đảo Triều Tiên. Sự nồng ấm trong
quan hệ Nga - Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên gần đây với chuyến thăm
Bình Nhưỡng của Putin tháng 2 năm 2001 và chuyến thăm Nga của lãnh tụ Cộng
hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tháng 8 năm 2001 cũng cho thấy ảnh hưởng
của Nga ở khu vực này.
Với sự sụp đổ của Liên Xô, mối đe doạ quân sự lâu nay từ phía Bắc đã
giảm đi đáng kể nếu không muốn nói là hoàn toàn được gạt bỏ, trong khi việc
bình thường hoá quan hệ song phương giữa hai nước sẽ tiếp tục còn hy vọng nếu
có một giải pháp về vấn đề lãnh thổ phía Bắc. Vấn đề này, ngược lại, dường như
23
Khoá luận tốt nghiệp Lại Hồng Hà
không có khả năng giải quyết được trong điều kiện thiếu sự ổn định chính trị ở
Nga với một tương lai có thể nhìn thấy trước được. Do đó, cả hai nước sẽ cần
phải nhận thức tới một sự chung sống trong kiên nhẫn với các mối quan hệ
không chắc chắn trong nhiều năm tới nữa.
1.2.4. Bán đảo Triều Tiên
Trong khi tâm điểm của cuộc chiến tranh lạnh kéo dài nhiều thập kỷ nằm
ở châu Âu thì chính ở châu Á đã xảy ra hai cuộc chiến tranh nóng là cuộc chiến
tranh Triều Tiên (1950- 1953) và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam mà tàn
dư của một trong hai cuộc chiến đó giờ đây vẫn tồn tại.
Cuộc chiến tranh Triều Tiên đầu những năm 1950 và sự can thiệp của Mỹ
đánh dấu sự mở đầu của cuộc chiến tranh lạnh ở châu Á. Tuy nhiên, đã hơn một
thập kỷ trôi qua kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, tương phản với sự thống
nhất nước Đức sau khi bức tường Béclin sụp đổ năm 1989, bán đảo Triều Tiên
vẫn trong tình trạng chia cắt. Mặc dù có một số dấu hiệu hoà giải giữa hai miền,
đặc biệt kể từ cuộc gặp thượng đỉnh Liên Triều tháng 6/2000, vấn đề thống nhất
Triều Tiên vẫn là một trong những điểm nóng hay một thách thức tiềm tàng đối

phức tạp của những vấn đề còn chưa giải quyết làm cho bất kỳ dự đoán nào về
một kịch bản Triều Tiên thống nhất trong tương lai ngắn hạn cũng trở nên không
có cơ sở. Và cho đến khi bán đảo Triều Tiên thống nhất, có lẽ phải chờ ít nhất
trong một vài thập kỷ nữa, bán đảo Triều Tiên vẫn tiếp tục là một điểm nóng
tiềm tàng, có khả năng đe doạ an ninh khu vực.
Đối đầu quân sự vẫn tiếp tục ở hai miền. Có đến 37.000 quân Mỹ vẫn còn
đóng ở Hàn Quốc, và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tiếp tục tập trung
cao độ vào việc xây dựng lực lượng quân sự. Ngân sách quân sự của nước này đã
lên tới 25% GDP là tỷ lệ lớn nhất trên thế giới. Như vậy, sự có mặt quân đội Mỹ
trên bán đảo Triều Tiên là một trong những nguồn gốc gây căng thẳng và làm
cho bán đảo Triều Tiên tiếp tục là một điểm nóng ở khu vực.
2. Quan hệ của Nhật Bản với các nước Đông Bắc Á thời kỳ sau chiến tranh
lạnh.
25

Trích đoạn Quan hệ Nhật Bản Bắc Triều Tiờn trong thập kỷ 90
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status