BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
0o0
Đề tài tham dự cuộc thi
“Sinh viên nghiên cứu khoa học đại học ngoại thƣơng năm 2009”
Tên đề tài:
Định hƣớng chiến lƣợc cho thu hút Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam
thời kỳ sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới 2008-2009
Giáo viên hƣớng dẫn: PGS – TS Vũ Chí Lộc
Chủ tịch Hội đồng nhà trường
Sinh viên thực hiện:
1. Hoàng Tuấn Anh (chịu trách nhiệm chính)
Lớp: A9 Khoá: 47 Khoa: Tài chính Ngân hàng
2. Nguyễn Lan Anh
Lớp: A6 Khóa: 47 Khoa: Tài chính Ngân hàng Hà Nội, tháng 7 năm 2010
ii
LỜI CẢM ƠN
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BITs
Hiệp định đầu tư song phương
CARIFORUM
Diễn đàn Caribe và Mercosur
CDS
Hợp đồng hóa đổi rủi ro tín dụng
CIS
Cộng đồng các quốc gia độc lập
DTTs
Hiệp định chống đánh thuế hai lần
EU
Liên minh châu Âu
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCC
Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IIAs
Hiệp định đầu tư quốc tế
IWFs
Quỹ hợp tác đầu tư quốc tế
M&A
Mua bán & Sáp nhập
MBS
Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
cầu
8
2.1. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
thế giới đến hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các
công ty, tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs)
10
2.1.1. Tác động làm thiếu hụt nguồn lực tài chính của các công ty, tập
đoàn xuyên quốc gia
10
2.1.2. Tác động do tâm lý e ngại về tình hình kinh tế ảm đạm đến hoạt
động đầu tư nước ngoài của các TNCs
12
2.2. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
đến dòng vốn FDI theo từng khu vực trên thế giới
13
2.2.1. Khu vực các nền kinh tế phát triển: Bắc Mỹ, khu vực EU, các quốc
gia phát triển tại châu Á, khu vực Cộng đồng các quốc gia độc lập
CIS, các quốc gia phát triển khác
14
2.2.2. Khu vực các nền kinh tế đang phát triển (Đông, Nam và Đông Nam
Á, Tây Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh)
15
2.2.3. Khu vực các nền kinh tế chuyển tiếp
16
3. Chính sách đối phó của các quốc gia trên thế giới trƣớc cuộc khủng
hoảng và suy thoái kinh tế và tác động đến hoạt động đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài
16
3.1. Những xu hƣớng chính về chính sách thúc đẩy hoạt động đầu
tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên thế giới
1.1.2. Lợi ích của quốc gia nhận đầu tư
29
1.2. Phân loại đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
33
1.3. Những yếu tố thúc đẩy hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
36
1.3.1. Nhóm yếu tố nền tảng của môi trường đầu tư
36
1.3.2. Nhóm yếu tố nguồn lực hỗ trợ hoạt động đầu tư
38
1.3.3. Nhóm yếu tố chính sách hỗ trợ hoạt động đầu tư
41
1.4. Nhận xét về bản chất dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại
Việt Nam
42
1.4.1. Nhóm đối tác tìm kiếm tài nguyên
42
1.4.2. Nhóm đối tác tìm kiếm thị trường
44
1.4.3. Nhóm đối tác tìm kiếm hiệu quả
45
2. Xem xét các nhân tố thúc đẩy đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt
Nam
45
2.1. Thế mạnh không còn là tài nguyên thiên nhiên
45
2.2. Cơ hội khi Việt Nam có cơ cấu dân số vàng
47
2.3. Những thách thức trong các ngành công nghiệp phụ trợ
48
CHƢƠNG III: XÂY DỰNG ĐỊNH HƢỚNG CHIẾN LƢỢC CHO THU
HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2008-2009
62
1. Tổng quan về Định hƣớng chiến lƣợc cho thu hút Đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài tại Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế thế giới
2008-2009
62
1.1. Sự cần thiết phải có một định hƣớng chiến lƣợc
62
1.2. Mục đích của việc đề ra định hƣớng chiến lƣợc
65
1.3. Cấu trúc của bản định hƣớng chiến lƣợc
65
2. Nội dung Định hƣớng chiến lƣợc cho thu hút Đầu tƣ trực tiếp nƣớc
ngoài tại Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-
2009
66
2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động thu hút đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế thế giới
66
2.2. Định hƣớng thu hút Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
67
2.2.1. Định hướng theo ngành và lĩnh vực kinh tế
67
2.2.2. Định hướng theo vùng kinh tế
75
2.2.3. Định hướng theo đối tác đầu tư
Chương II: Nghiên cứu bản chất của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, trên cơ
sở đó nhận định xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu và Việt Nam giai
đoạn sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới.
Chương III: Đề ra định hướng và kiến nghị các giải pháp chiến lược cho hoạt động
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng và suy
thoái kinh tế thế giới.
Qua đề tài, chúng tôi muốn đưa ra những đánh giá về tình hình thu hút Đầu tư trực
tiếp nước ngoài trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, từ đó xây dựng
được bước đi cần thiết cho hoạt động thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo
phù hợp với xu hướng quốc tế và tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong
những giai đoạn tiếp theo. ix
CHƢƠNG I:
TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ
GIỚI 2007-2009 ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
TRÊN TOÀN CẦU
1. Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới trong giai
đoạn 2007-2009
Nền kinh tế thế giới vừa trải qua giai đoạn tồi tệ nhất trong gần một thập kỷ trở lại đây
dưới tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Xuất phát từ
những bất ổn trên thị trường cho vay tín dụng, thị trường tài chính Hoa Kỳ cho thấy
những dấu hiệu khủng hoảng từ cuối năm 2007. Ảnh hưởng của nó nhanh chóng lan
rộng sang các quốc gia phát triển trên thế giới, những nền kinh tế có sự liên kết chặt
chẽ với thị trường tài chính tại Hoa Kỳ như Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Tác động
của cuộc khủng hoảng ngày trở nên nghiêm trọng khi sự yếu kém trong hoạt động tài
khắp các nền kinh tế trên thế giới đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển đã kéo theo
sự tăng tốc nhanh chóng trong thương mại toàn cầu. Những số liệu về tăng trưởng về
hoạt động xuất nhập khẩu trên thế giới phản ánh rõ nét xu hướng thương mại trong
giai đoạn này.
Hình 1.1:
Tăng trƣởng thƣơng mại thế giới về trao đổi hàng hóa và dịch vụ (%), 2000-2007
(Tăng trưởng dựa trên giá trị xuất nhập khẩu)
Thương mại hàng hóa Thương mại dịch vụ
diễn biến tương tự khi không ngừng tăng trưởng. Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế 1
Theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF xi
thế giới đã kéo theo hàng loạt những chiến lược mở rộng thị trường sản xuất cũng như
tiêu thụ của các công ty, tập đoàn lớn trên thế giới. Sức hấp dẫn ngày càng lớn từ các
nền kinh tế đang phát triển cùng những chính sách nới lỏng tiền tệ tại các thị trường
tài chính lớn trên thế giới cũng đã tác động mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động đầu tư toàn
cầu. Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng ấn tượng này đã dần có dấu hiệu chững lại khi
nền kinh tế thế giới bắt đầu chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ.
b, Những diễn biến xấu từ cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ:
Trong khi các quốc gia khác thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng các khuyến khích đầu
tư và đẩy mạnh xuất khẩu, Hoa kỳ chọn cho mình con đường tăng trưởng kinh tế bằng
cách kích thích tiêu dùng nội địa. Trong vòng 3 năm từ 2001 đến 2003, nhằm đối phó
với hậu quả của vụ khủng bố 11/9/2001, chính phủ Mĩ đã liên tục hạ lãi suất cho vay
và tỉ lệ dự trữ bắt buộc từ 6.5% xuống còn 1.0%. Thêm vào đó, trong thời gian này,
thâm hụt cán cân thanh toán của Hoa Kỳ tăng thêm 650 tỉ đô la, tăng từ 1.5% lên đến
5.8% GDP. Để tài trợ cho sự thâm hụt này, Hoa Kỳ đã vay một số lớn tiền từ nước
ngoài mà chủ yếu là từ những nền kinh tế mới nổi ở châu Á và các nước xuất khẩu
dầu mỏ bằng cách phát hành các trái phiếu chính phủ. Vì vậy, một lượng tiền lớn từ
nước ngoài đã đổ vào thị trường tài chính Hoa Kỳ. Với việc lãi suất cho vay hạ thấp,
chi phí của việc đi vay giảm đi càng mở rộng tăng trưởng tín dụng. Người dân sử
dụng những khoản tiền vay từ nước ngoài này để tài trợ cho tiêu dùng của mình còn
các tổ chức tài chính dùng những khoản tiền này để đầu tư vào các chứng khoán thế
nhập trung bình của người dân. Thị trường bất động sản bị đánh giá cao hơn giá trị
thực của nó. Và khi bong bóng bất động sản bị phá vỡ đã kéo theo một loạt sự đổ vỡ
của các tổ chức tài chính khác. Với các hợp đồng ARM, hết thời gian trả lãi suất cố
định, người đi vay phải trả mức lãi suất thả nổi. Điều này khiến cho mức lãi phải trả
tăng cao và người đi vay khó trả nợ hơn. Thị trường bất động sản hạ nhiệt làm cho
việc bán nhà đất trở nên khó khăn và nếu có bán được thì giá trị bất động sản cũng
xuống thấp tới mức không đủ thu hồi vốn để trả các khoản vay nợ. Kết quả là những
hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp trở thành những hợp động nợ khó đòi.
Những trái phiếu được đảm bảo bởi những hợp động này mất giá trên thị trường thứ
cấp hoặc không thể bán được. Những ngân hàng, các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu
này bị lỗ trầm trọng và không có khả năng thanh toán. Đến lượt các công ty bảo hiểm
nắm giữ các hợp đồng CDS chịu tác động khi những người đi vay không có khả năng
trả nợ. Nguyên nhân khiến cho cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ bó hẹp trong
phạm vi nước Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới là do rất nhiều ngân hàng lớn trên
thế giới đã đầu tư vào trái phiếu MBS. Đến tháng 9 năm 2008, nền kinh tế thế giới xiii
chính thức ghi nhận cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khi Lehman Brothers, một
trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất tại Hoa Kỳ, tuyên bố phá sản.
c, Nền kinh tế thế giới thực sự đối mặt với cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế
mang tính chất toàn cầu:
Dấu hiệu suy giảm của nền kinh tế thế giới được thể hiện rõ từ nửa cuối năm 2008 đến
đầu năm 2009. Tổng sản lượng trên thế giới chịu tác động nghiêm trọng từ cuộc
khủng hoảng tài chính khi mà giá trị tài sản giảm mạnh và sự yếu kém của hệ thống
tài chính toàn cầu đã dẫn tới gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng
trưởng kinh tế thế giới trong năm 2008 giảm còn 1,7%, từ mức 3,5% trong năm 2007,
mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2003 trở lại đây. Hoa Kỳ cùng khu vực các quốc
năng sớm vượt qua khủng hoảng và suy thoái. Trải qua giai đoạn khó khăn đầu năm
2009, nền kinh tế toàn cầu đã tăng trưởng trở lại tại mức 3,25%vào quý thứ hai và
4,5% trong nửa cuối năm 2009
2
. Tại các nền kinh tế phát triển, những gói cứu trợ
cùng những cải cách nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đồng thời làm giảm
bớt tỷ lệ thất nghiệp đã có những tác dụng bước đầu. Thị trường trái phiếu hồi phục
cũng thúc đẩy quá trình sản xuất và kinh doanh hoạt động tích cực trở lại. Trong khi
đó, các nền kinh tế nhờ vào lực cầu mạnh từ ngay thị trường nội địa đã có cơ sở để tạo
đà hồi phục. Tuy nhiên, ở một số nền kinh tế như khu vực cộng đồng các quốc gia độc
lập CIS hay tại nhiều bang của Hoa Kỳ, diễn biến suy thoái vẫn chưa có dấu hiệu
dừng lại.
d, Kinh tế thế giới giai đoạn hiện nay, sau gần 2 năm đối đầu với khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu:
Mặc dù đã có những dấu hiệu cho thấy đà suy thoái kinh tế trên đã phần nào được
ngăn chặn, nhưng các quốc gia vẫn tỏ ra thận trọng trong việc hoạch định chiến lược
phát triển giai đoạn sắp tới. Sự thận trọng đó là có cơ sở do nền kinh tế thế giới chưa
thực sự ổn định sau những những tác động sâu sắc mà cuộc khủng hoảng và suy thoái
kinh tế để lại. Kinh tế thế giới năm 2009 chứng kiến tăng trưởng âm ở mức -1,3%,
thương mại quốc tế cũng suy giảm tới 10%. Tình trạng thâm hụt ngân sách nhiều quốc
ngày càng ở mức độ nghiêm trọng do chi phí khổng lồ để khắc phục hậu quả của cuộc
khủng hoảng. Hệ thống tài chính thế giới vẫn còn nhiều bất ổn, tỷ lệ thất nghiệp tăng
cao, thêm những vấn đề về an sinh xã hội, khủng hoảng niềm tin sẽ là những thách
thức lớn cho kinh tế thế giới nếu muốn vượt qua giai đoạn khủng hoảng và phục hồi
trở lại. 2
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF - WORLD ECONOMIC OUTLOOK, April 2010
xvi
* Nguồn: World Investment Report 2009
Đối mặt với cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới, điều kiện tín dụng bị thắt
chặt, suy giảm lợi nhuận sản xuất kinh doanh, triển vọng ảm đạm và không chắc chắn
cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhiều công ty đã phải cắt giảm sản xuất, sa thải
công nhân và cắt giảm chi phí vốn, tất cả đều có xu hướng làm giảm hoạt động FDI.
Tác động của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế trên thế giới rất khác nhau tùy theo
từng khu vực và từng quốc gia. Vì thế, mức độ tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng xvii
hoảng đến dòng chảy FDI cũng rất khác nhau trên nhiều vùng và nền kinh tế trên thế
giới. Tóm lại, tác động của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đến hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài có thể được phản ánh qua hai yếu tố cơ bản: những thay đổi
trong chiến lược đầu tư của tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia - TNCs thời kỳ khủng
hoảng và những biến đổi về môi trường đầu tư toàn cầu.
2.1. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đến
hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 82.000 công ty, tập đoàn xuyên quốc gia - TNCs,
cùng với nó là trên 810.000 các chi nhánh đang hoạt động tại nước ngoài. Những công
ty này giữ một vị trí quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển của nền kinh tế thế
ngoài bị thua lỗ hay phá sản đã ảnh hưởng lớn đến nguồn cung tài chính cho các
TNCs. Trong khi đó, thị trường chứng khoán thế giới đi xuống mạnh với việc mất
điểm của các chỉ số quan trọng tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu và châu Á. Tại Hoa
Kỳ, các chỉ số chứng khoán Dow Jones, Standard & Poor’s 500 và chỉ số tổng hợp
Nasdaq mất điểm khoảng 40% trong năm 2008 và nửa đầu năm 2009. Các chỉ số như
Nikkei của Nhật Bản, FTSE 100 của Anh, CAC của Pháp hay DAX của Đức cũng có
diến biến tương tự. Mất đi khoảng 50% giá trị trên thị trường chứng khoán toàn cầu
4
đã làm yếu đi rất nhiều khả năng tài chính của các TNCs do tác động làm giảm nguồn
vốn huy động được thông qua cổ phiếu và trái phiếu, đồng thời hoạt động mua bán sáp
nhập sử dụng cổ phần vì thế cũng bị hạn chế. Trong năm 2008, giá cổ phiếu trên hầu
khắp các thị trường chứng khoán sụt giảm tương đương với sự giảm giá 81 tỉ đô la về
giá trị các thương vụ M&A, đóng góp 18% trong sự sụt giảm chung của FDI toàn cầu.
Cũng trong năm 2008, số lượng các siêu thương vụ M&A (thương vụ có giá trị trên 1
tỉ đô la) cũng giảm 21%. Ở các nước phát triển thì con số này là 26%. Tại những nước
đang phát triển và các nền kinh tế chuyển tiếp thì số lượng siêu thương vụ tăng mạnh
trong năm 2008 nhưng bắt đầu giảm từ quý 1 năm 2009. Bên cạnh những tác động từ
thị trường chứng khoán, việc thắt chặt điều kiện tín dụng làm chi phí kinh tế tăng cao
cũng khiến cho các công ty khó có khả năng tiếp cận nguồn tài chính bên ngoài để đầu
tư cho các dự án mới. Mặt khác, lợi nhuận suy giảm do lực cầu yếu từ thị trường tiêu
thu thế giới cũng ảnh hưởng đến xu hướng mở rộng đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư
đối phó với tình hình chung bằng những biện pháp như đẩy mạnh chuyển lợi nhuận về
nước, giảm vốn tài trợ cho các công ty con ở nước ngoài quay hướng về trong nước.
Chiến lược phát triển thận trọng của hầu hết các TNCs đã buộc dòng vốn FDI sụt
giảm trong hai năm 2008, 2009.
2.1.2. Tác động do tâm lý e ngại về tình hình kinh tế ảm đạm đến hoạt động đầu tư
nước ngoài của các TNCs:
hưởng tiêu cực từ sự suy giảm kinh tế và khủng hoảng tài chính ngày một gia tăng,
cũng tác động mạnh làm suy giảm dòng vốn FDI trong thời kỳ khủng hoảng.
Mức độ rủi ro tăng cao, đặc biệt là từ những biến động về tỷ giá và những thay đổi
trong chính sách đối với nhà đầu tư nước ngoài của các quốc gia, đã khiến các TNCs
có định hướng thu hẹp phạm vi đầu tư ra nước ngoài. Hoạt động tìm kiếm và nghiên
cứu thị trường được tăng cường nhằm giúp các công ty có thể phân loại nhằm tập
trung vào những thị trường ít rủi ro hơn. Phần lớn các TNCs đều có chiến lược thu hẹp
hoạt động đầu tư trong thời kỳ khủng hoảng về thị trường trong nước, nhằm tạo những xx
cú hích vực lại nền kinh tế đồng thời cũng tận dụng được những ưu đãi về chính sách
nội địa. Những tác động sâu sắc này cũng đã tạo ra xu hướng thoái lui lớn trong dòng
vốn FDI trên thế giới, tuy nhiên ở các mức độ khác nhau tùy theo từng khu vực địa lý
và nền kinh tế.
Tuy nhiên cuộc khủng hoảng không hoàn toàn ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động đầu
tư của các công ty đa quốc gia. Trong giai đoạn khủng hoảng, giá trị tài sản của công
ty, tập đoàn kinh tế có xu hướng giảm mạnh. Đây là điều kiện thuận lợi để các tập
đoàn có nguồn tài chính dồi dào thực hiện các thương vụ mua bán sáp nhập (M&A)
nhằm củng cố sự hiện diện của mình ở thị trường nước ngoài và đầu tư cải tiến kĩ
thuật. Trong năm 2008, nhóm 100 TNCs lớn nhất thế giới đã tiến hành 21 vụ mua bán
sáp nhập với tổng giá trị 3 tỉ đô la. Có thể kể đến những thương vụ của Bank of
America mua lại Merrill Lynch, Santander thâm nhập vào thị trường Mĩ bằng cách
mua lại cổ phần của Sovereign Bancorp, Numura (Nhật Bản) và Barclays (Anh) mua
lại tài sản của Lehman Brothers nhằm mở rộng hoạt động của mình. Đầu năm 2009,
Royal Bank of Scotland (Anh) đã bán toàn bộ cổ phần của mình ở Bank of China với
giá 2.3 tỉ đô la, Bank of America giảm cố phần của mình ở China Construction Bank
phát triển khác:
Các nền kinh tế phát triển bắt đầu chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng
hoảng tài chính tại Hoa Kỳ từ đầu năm 2008. Sau sự sụp đổ của Lehman Brothers,
một trong những ngân hàng đầu tư lớn tại Hoa Kỳ, cuộc khủng hoảng tài chính lan
rộng sang châu Âu và các nền kinh tế phát triển tại châu Á như Nhật Bản, Úc, Niu Di
Lân. Các nền kinh tế này nhanh chóng đón nhận những tác động nghiêm trọng đến
dòng vốn FDI ngay trong năm 2008 với mức sụt giảm 29% so với năm 2007, xuống
còn 962 tỷ USD. Tình hình trong năm 2009 càng trở nên trầm trọng khi dòng vốn FDI
khu vực này nhận được chỉ khoảng 566 tỷ USD, giảm 41,2%
5
.
Mặc dù chịu những tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng khiến suy giảm sức thu hút
đầu tư, nhưng các nền kinh tế phát triển vẫn là khu vực chính tiếp nhận phần lớn dòng
vốn FDI toàn cầu. Tuy không có lợi thế về chi phí lao động hay tốc độ tăng trưởng
kinh tế vẫn duy trì âm, nhưng bù lại khu vực các quốc gia phát triển lại có được quy
mô thị trường rộng lớn cùng môi trường kinh doanh chất lượng. Dù vậy, những lợi thế
có được vẫn không đảm bảo cho một tốc độ tăng trưởng dương của dòng vốn FDI
trong giai đoạn này.
5
UNCTAD xxii
Nếu như năm 2007 đánh dấu mức tăng vượt bậc FDI xuất của các nước phát triển thì
Trung Quốc, Ấn Độ,… xxiii 2.2.3. Các nền kinh tế chuyển tiếp:
FDI nhập ở các nền kinh tế chuyển tiếp ở Đông Nam Âu hay khối CIS (Khối độc lập
chung gồm 12 nước là thành viên Liên bang Xô Viết cũ) tăng lên mức cao nhất trong
năm 2008. Mặc dù bị quản lý chặt chẽ, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phần các
nguồn tài nguyên thiên nhiên của Liên bang Nga vẫn tăng lên. Tuy nhiên đến năm
2009, do ảnh hưởng lan tỏa của khủng hoảng kinh tế thế giới, FDI vào các nền kinh tế
chuyển tiếp cũng bắt đầu giảm.
FDI xuất của khu vực chuyển tiếp tăng mạnh trong năm 2008, chiếm 3% toàn thế giới
và vẫn duy trì ổn định trong năm 2009.
3. Chính sách đối phó của các quốc gia trên thế giới trƣớc cuộc khủng hoảng và
suy thoái kinh tế và tác động đến hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài:
Trước những ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đến
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, việc đề ra những chính sách hiệu
quả ở cả cấp độ quốc tế tế cũng như quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy dòng vốn FDI vượt qua thời kỳ suy giảm và đạt tăng trưởng trở lại. Những
chính sách khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế cũng có thể
trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài toàn cầu, và theo
chiều hướng tiêu cực hay tích cực.
Với khu vực các quốc gia phát triển, nhiều chính phủ đã thực hiện kế hoạch giải cứu
cựu đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Việc nhiều quốc gia phải quốc hữu hóa các
doanh nghiệp tư nhân, mua lại cổ phần của các công ty tài chính, bảo hiểm và ngân
hàng cũng hạn chế hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân, trong đó có đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Bên cạnh đó, nhiều nền kinh tế cũng thực hiện chính sách bảo hộ cho các
ngành công nghiệp quan trọng trong nước tạo ra tâm lý e ngại đối với các nhà đầu tư
nước ngoài, gây hạn chế về cả số lượng cũng như quy mô của các dự án đầu tư.
3.1. Những xu hƣớng chính về chính sách thúc đẩy hoạt động đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài trên thế giới
3.1.1. Chính sách trên cấp độ quốc tế:
Rất nhiều quốc gia đã thực hiện kế hoạch mua lại, đưa ra những gói trợ giúp các
doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty thuộc lĩnh vực tài chính. Nhiều nước phát triển
cũng như đang phát triển đã thực hiện những gói kích thích kinh tế bao gồm những xxv
chương trình đầu tư, cắt giảm thuế và lãi suất. Những biện pháp này có tác động tích
cực tới dòng vốn FDI.
Bên cạnh việc cải cách hệ thống tài chính, các quốc gia còn tích cực tham gia vào các
hiệp định quốc tế. Trong suốt năm 2008, hệ thống các hiệp định đầu tư quốc tế (IIAs)
không ngừng được mở rộng, 59 hiệp định đầu tư song phương (BITs) mới được kí kết.
Cùng với đó là hiệp định quan trọng về chống đánh thuế hai lần (DTTs). Những hiệp
định giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển vẫn chiếm phần lớn với
38% số hiệp định mới.
Phần lớn trong số các hiệp định được ký kết mới là các hiệp định tự do thương mại
liên quan đến tự do hóa đầu tư và bảo hộ. Về một khía cạnh nào đó, các hiệp định đầu