BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------0o0---------
Đề tài tham dự cuộc thi
“Sinh viên nghiên cứu khoa học đại học ngoại thƣơng năm 2009”
Tên đề tài:
Định hƣớng chiến lƣợc cho thu hút Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam
thời kỳ sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới 2008-2009
Giáo viên hƣớng dẫn: PGS – TS Vũ Chí Lộc
Chủ tịch Hội đồng nhà trường
Sinh viên thực hiện:
1. Hoàng Tuấn Anh (chịu trách nhiệm chính)
Lớp: A9 Khoá: 47 Khoa: Tài chính Ngân hàng
2. Nguyễn Lan Anh
Lớp: A6 Khóa: 47 Khoa: Tài chính Ngân hàng Hà Nội, tháng 7 năm 2010
ii
LỜI CẢM ƠN
CARIFORUM Diễn đàn Caribe và Mercosur
CDS Hợp đồng hóa đổi rủi ro tín dụng
CIS Cộng đồng các quốc gia độc lập
DTTs Hiệp định chống đánh thuế hai lần
EU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCC Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IIAs Hiệp định đầu tư quốc tế
IWFs Quỹ hợp tác đầu tư quốc tế
M&A Mua bán & Sáp nhập
MBS Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
R&D Nghiên cứu & Phát triển
SWFs Quỹ lợi ích quốc gia
TNCs Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia
UNCTAD Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển
UNDP Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên hiệp quốc
WB Ngân hàng Thế giới
v
MỤC LỤC
Trang
CHƢƠNG I: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ SUY
THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 2007-2009 ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN TOÀN CẦU
2
hoảng và suy thoái kinh tế và tác động đến hoạt động đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài
16
3.1. Những xu hƣớng chính về chính sách thúc đẩy hoạt động đầu
tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên thế giới
18
3.1.1. Chính sách trên cấp độ quốc tế 18
3.1.2. Chính sách trên cấp độ quốc gia 19
3.2. Chính sách đối phó cụ thể của một số nền kinh tế trong khu
vực
20
3.2.1. Trung Quốc 20
3.2.2. Ấn Độ 22
3.2.3. Khu vực các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN 24 vi
CHƢƠNG II: BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI VÀ XU HƢỚNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
TRÊN TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN SAU KHỦNG HOẢNG VÀ SUY
THOÁI KINH TẾ
26
1. Nghiên cứu về bản chất đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
27
1.1. Cơ sở cho hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
27
1.1.1. Lợi ích của nhà đầu tư 27
1.1.2. Lợi ích của quốc gia nhận đầu tư 29
3.1. Trên phạm vi toàn cầu
56
3.1.1. Xu hướng dịch chuyển cơ cấu FDI theo vùng 56
3.1.2. Xu hướng dịch chuyển cơ cấu FDI theo ngành 57
3.1.3. Xu hướng dịch chuyển cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư 58 vii
3.2. Khu vực Đông Á – Đông Nam Á
59
3.3. Việt Nam
60
3.3.1. Xu hướng dịch chuyển cơ cấu FDI theo vùng 60
3.3.2. Xu hướng dịch chuyển cơ cấu FDI theo ngành 60 CHƢƠNG III: XÂY DỰNG ĐỊNH HƢỚNG CHIẾN LƢỢC CHO THU
HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN SAU KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2008-2009
62
1. Tổng quan về Định hƣớng chiến lƣợc cho thu hút Đầu tƣ trực tiếp
nƣớc ngoài tại Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế thế giới
2008-2009
62
1.1. Sự cần thiết phải có một định hƣớng chiến lƣợc
62
1.2. Mục đích của việc đề ra định hƣớng chiến lƣợc
thoái kinh tế thế giới để lại, xu hướng lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế đã cho thấy
những thay đổi nhất đinh. Đây là những thách thức, nhưng cũng chính là cơ hội cho
hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn tới. Bên
cạnh đó, trong mỗi quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế trong nước, vai trò
của FDI cũng đã có những thay đổi nội tại và giai đoạn này cũng không phải ngoại lệ.
Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu để tài “Định hƣớng chiến lƣợc cho thu
hút Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam thời kỳ sau khủng hoảng và suy
thoái kinh tế thế giới 2008-2009”. Đề tài gồm 3 chương với các nội dung tương ứng:
Chương I: Phân tích tổng quan về những tác động của cuộc khủng hoảng và suy
thoái kinh tế đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu; cùng với chính
sách đối phó của các quốc gia trên thế giới.
Chương II: Nghiên cứu bản chất của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, trên cơ
sở đó nhận định xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu và Việt Nam giai
đoạn sau khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới.
Chương III: Đề ra định hướng và kiến nghị các giải pháp chiến lược cho hoạt động
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam giai đoạn sau khủng hoảng và suy
thoái kinh tế thế giới.
Qua đề tài, chúng tôi muốn đưa ra những đánh giá về tình hình thu hút Đầu tư trực
tiếp nước ngoài trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, từ đó xây dựng
được bước đi cần thiết cho hoạt động thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo
phù hợp với xu hướng quốc tế và tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong
những giai đoạn tiếp theo. ix
CHƢƠNG I:
TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG VÀ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ
GIỚI 2007-2009 ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
TRÊN TOÀN CẦU
x
tăng trưởng trung bình 5% qua mỗi năm
1
. Các nền kinh tế mới nổi tại châu Âu cùng
các các nền kinh tế đang phát triển tại châu Á để lại dấu ấn mạnh mẽ khi luôn dẫn đầu
về tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu, và ngày càng thu hẹp dần khoảng cách với các
nền kinh tế phát triển. Tại châu Á, Trung Quốc và Ấn Độ phát huy triệt để sức mạnh
nội tại cùng những chính sách phát triển đúng đắn đã cho thấy những những bước tiến
vượt trội trong cả khu vực và trên thế giới. Hoạt động thương mại và đầu tư trên thế
giới cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao. Trong giai đoạn này, động lực phát triển trên hầu
khắp các nền kinh tế trên thế giới đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển đã kéo theo
sự tăng tốc nhanh chóng trong thương mại toàn cầu. Những số liệu về tăng trưởng về
hoạt động xuất nhập khẩu trên thế giới phản ánh rõ nét xu hướng thương mại trong
giai đoạn này.
Hình 1.1:
Tăng trƣởng thƣơng mại thế giới về trao đổi hàng hóa và dịch vụ (%), 2000-2007
(Tăng trưởng dựa trên giá trị xuất nhập khẩu)
Thương mại hàng hóa Thương mại dịch vụ
* Nguồn: Tổ chức Thương mại thế giới WTO
chi phí của việc đi vay giảm đi càng mở rộng tăng trưởng tín dụng. Người dân sử
dụng những khoản tiền vay từ nước ngoài này để tài trợ cho tiêu dùng của mình còn
các tổ chức tài chính dùng những khoản tiền này để đầu tư vào các chứng khoán thế
chấp.
Hoạt động cho vay dưới chuẩn, cho những đối tượng có khả năng trả nợ thấp, kèm
theo mức độ rủi ro cao, cũng phát triển nhanh trong thời gian này. Cùng với sự thông
thoáng trong hoạt động tín dụng, trong những năm trước cuộc khủng hoảng, chính phủ
Hoa Kỳ và các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư và các tổ chức được
tài trợ bởi chính phủ như Fannie Mae và Freddie Mac đã gia tăng lượng cho vay dưới
chuẩn đầy rủi ro này. Trong giai đoạn từ 2005 đến 2006, cho vay thế chấp dưới chuẩn
chiếm gần 20% các khoản vay thế chấp. Phần lớn người dân Hoa Kỳ mua nhà bằng
cách vay tiền ngân hàng với hợp đồng thời hạn từ 10 đến 30 năm. Khi thị trường nhà xii
đất phát triển, các ngân hàng và tổ chức tung ra các chương trình cho vay dưới chuẩn,
khuyến khích cả những đối tượng không đủ khả năng tài chính vay. Sau đó, các tổ
chức tài chính của phố Wall lại tập hợp những hợp đồng cho vay bất động sản này làm
tài sản đảm bảo cho việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế. Những trái phiếu
này được gọi là Mortgage Backed Securities - MBS là một công cụ tài chính phái sinh
được đảm bảo bởi các hợp đồng cho vay bất động sản có thế chấp. Những trái phiếu
này được các công ty tín nhiệm đánh giá cao. Do đó nó được các công ty bảo hiểm,
các quỹ đầu tư trên toàn thế giới mua vào mà không hề biết tài sản đảm bảo cho nó là
những hợp đồng cho vay thế chấp dưới chuẩn, đầy rủi ro. Ngoài ra, các tổ chức tài
chính và các công ty bảo hiểm quốc tế còn bán ra các hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi
Credit Default Swap - CDS trong đó bên bán CDS cam kết thanh toán cho bên mua
trong trường hợp người đi vay không thanh toán.
tài chính toàn cầu đã dẫn tới gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tăng
trưởng kinh tế thế giới trong năm 2008 giảm còn 1,7%, từ mức 3,5% trong năm 2007,
mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2003 trở lại đây. Hoa Kỳ cùng khu vực các quốc
gia phát triển khu vực Liên minh châu Âu EU cho thấy những dấu hiệu rõ ràng nhất
về một sự suy giảm tăng trưởng của nền kinh tế, với mức tăng trưởng trung bình cho
nhóm này chỉ khoảng 1% trong năm 2008, trong khi đó tỷ lệ này trong năm 2007 là
2,5%. Nền kinh tế châu Á cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP thấp ở mức 2% so
với 4,9% năm 2007. Tuy nhiên lại xuất hiện khoảng cách rất lớn về tốc độ tăng trưởng
giữa các nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Úc, Niu di lân với các nền kinh tế đang
phát triển trong khu vực châu Á. Tại châu Phi, tốc độ tăng trưởng cũng có dấu hiệu
chững lại với 5% năm 2008, giảm 0,7% so năm trước. Các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ
vẫn giữ được bước tăng trưởng ổn định do giá dầu cùng khí đốt có những diễn biến
tăng kéo dài từ đầu năm 2007 cho đến quý 2 năm 2008. Tác động từ thị trường tài
chính, giá cả ngành hàng năng lượng đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt đã chịu những biến
động bất thường. Giai đoạn giữa năm 2008 chứng kiến giá dầu leo thang lên mức trên
140 USD/thùng, nhưng sau đó lại tụt mạnh về mốc hơn 50 USD/thùng trong vòng gần
nửa năm sau. Những biến động này gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động
sản xuất kinh doanh trên toàn cầu, đặc biệt cũng gây ra sự bất ổn định về giá cả hàng
hóa tại nhiều nền kinh tế trên thế giới. Hoạt động thương mại quốc tế chịu tác động
của cuộc khủng hoảng và gián đoạn ngay từ giai đoạn cuối năm 2008. Tăng trưởng
thực tế khu vực thương mại hàng hóa giảm còn 2% từ 6% năm 2007, và thay đổi 15%
tính theo giá trị danh nghĩa. Khu vực thương mại dịch vụ cũng chỉ tăng trưởng ở mức
khiêm tốn. Đầu tư nước ngoài cũng cho thấy tình trạng thoái lui tại nhiều khu vực trên xiv
thế giới. Dòng vốn FDI toàn cầu kết thúc một thời kỳ dài tăng trưởng dương liên tục
với mức suy giảm 14% trong năm 2008. Có thể nói, những ảnh hưởng thực sự từ cuộc
khủng hoảng tài chính đã tác động một cách toàn diện đến nền kinh tế toàn cầu. Nền
2
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF - WORLD ECONOMIC OUTLOOK, April 2010 xv 2. Tác động của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế thế giới giai đoạn 2007-
2009 đến hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã có tác động mạnh mẽ đến
dòng vốn FDI toàn cầu trong hai năm 2008 và 2009. Giai đoạn này đánh dấu kết thúc
một chu kỳ tăng trưởng của hoạt đầu đầu tư trực tiếp nước ngoài, bắt đầu từ năm 2003
và kết thúc vào năm 2007. Dòng vốn FDI đạt đỉnh điểm vào năm 2007 với trên 1,9
nghìn tỷ USD. Tuy nhiên, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, dòng vốn
FDI toàn cầu đã sụt giảm 14% trong năm 2008, xuống còn gần 1,7 nghìn tỷ USD.
Bước sang năm 2009, khi mà nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy thoái trầm
trọng, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chứng kiến sự sụy giảm mạnh nhất
trong hơn một thập kỷ trở lại đây, ở mức âm 39%.
Nhóm các nền kinh tế phát triển vẫn dẫn đầu về khối lượng FDI toàn cầu nhưng phải
chịu những ảnh hưởng tiêu cực nhất từ cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Tốc độ
suy giảm dòng vốn FDI khu vực nhóm các nước phát triển trong hai năm liên tiếp
2008, 2009 lần lượt ở mức 25,3% và 41%. Tốc độ thoái lui đầu tư mạnh đã kéo thụt
lùi dòng vồn FDI vào các quốc gia phát triển, đồng thời cũng dần thu hẹp lại khoảng
cách với nhóm đi sau, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Tuy
nhiên, do những tác động ngày càng lan rộng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh
tế, trong năm 2009, dòng vốn FDI vào nhóm các nền kinh tế đang phát triển giảm
35%, mức sụt giảm mạnh nhất, kết thúc 6 năm có tăng trưởng dương liên tục.
cùng với nó là trên 810.000 các chi nhánh đang hoạt động tại nước ngoài. Những công
ty này giữ một vị trí quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển của nền kinh tế thế
giới. Vai trò của các TNCs được thể hiện thông qua hoạt động thương mại quốc tế,
phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ và đặc biệt
quan trọng là vai trò nổi bật trong hoạt động thúc đẩy đầu tư quốc tế. Trên thực tế, hầu
hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiên thông qua các TNCs, với tỷ lệ
chiếm tới trên 90% tổng FDI toàn thế giới
3
. Với tư cách là chủ thể quan trọng của
hoạt động đầu tư trên thế giới, TNCs là nhân tố đặc biệt quan trọng có vai trò mang
tính quyết định tới quá trình lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế. Do vậy, những ảnh
hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế đến hoạt động của các TNCs
có tác động đương nhiên đến khối lượng cũng như cơ cấu dòng vốn FDI toàn cầu.
2.1.1. Tác động làm thiếu hụt nguồn lực tài chính của các công ty, tập đoàn đa quốc
gia:
Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới đã trực tiếp ảnh hưởng đến nguồn lực tài
chính của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia. Những tác động của nó đến từ cả yếu
tố tài chính nội tại cũng như các yếu tố nguồn lực tài chính từ bên ngoài doanh nghiệp.
Một mặt, diễn biến trên thị trường tài chính thế giới cho thấy mức độ ngày một phức
tạp. Hàng loạt sự sụp đổ của các định chế tài chính lớn đã kéo theo khuynh hướng sụt
giảm mạnh trên các thị trường chứng khoán thế giới. Việc nhiều định chế tài chính giữ
3
World Investment Report 2009 - United Nations Conference on Trade and Development xviii
4
World Investment Report 2009 – United Nations Conference on Trade and Development xix
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế với những hậu quả nghiêm trọng để
lại trong ngắn hạn đã tác động tiêu cực đến triển vọng FDI trong hai năm 2008 và
2009. Diễn biến khó lường của nền kinh tế thế giới tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, gây ảnh
hưởng đến kế hoạch cũng như chiến lược đầu tư của các TNCs trong ngắn hạn cũng
như trong dài hạn. Những dự báo không khả quan về tiến trình phục hồi của nền kinh
tế toàn cầu, sự bất ổn định trên thị trường tài chính, và những thay đổi chính sách tạo
bất lợi cho nhà đầu tư khi các quốc gia gia tăng các biện pháp bảo hộ trong nước là
các mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng, tác động lớn đến hoạt động đầu tư nước ngoài
của các TNCs. Bên cạnh đó, những biến động giá bất thường của dầu mỏ, nguyên vật
liệu và sự không ổn định về tỷ giá cũng được coi là những mối đe dọa lớn tác động
đến dòng chảy FDI trong hai năm 2008 và 2009. Tâm lý e ngại do mức độ rủi ro kinh
doanh cao khi đưa ra quyết định đầu tư đã khiến dòng vốn FDI bị hạn chế về cả số
lượng cũng như quy mô, đồng thời phạm vi đầu tư cũng bị thu hẹp hơn.
Theo điều tra của UNCTAD về triển vọng đầu tư trong năm 2008, những tín hiệu thận
trọng trong đầu tư đã xuất hiện. Có 61% trong các công ty được điều tra vẫn gia tăng
các kế hoạch đầu tư vào năm 2008 so với năm 2007. Tuy nhiên, phần lớn trong đó chỉ
dự định tăng quy mô trên mức độ vừa phải. Những điều tra về triển vọng đầu tư trong
năm 2009 lại cho thấy dấu hiệu nghiêm trọng hơn khi mà tỷ lệ các công ty dự định
tăng vốn FDI chỉ là 22%, tụt quá xa so với tỷ lệ 61% có được trong năm 2008. Đa số
các công ty đều cho thấy những kế hoạch cắt giảm kế hoạch đầu tư, nhất là những kế
hoạch đầu tư ở nước ngoài. Những số liệu cũng cho thấy lo ngại của các TNCs về ảnh
bằng cách bán 7.3 tỉ đô la cổ phần. Những công ty đã có tình hình tài chính đáng lo
ngại từ trước khủng hoảng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bị mua lại với giá
rẻ. Chryler, Endesa, Volvo đều đã bị mua lại. Ngược lại, những công ty chịu ảnh
hưởng ít hơn, có nguồn tài chính dồi dào như Suez, Fiat, Roche tận dụng cơ hội để
mua lại các công ty khác và tăng lợi thế cạnh tranh.
2.2. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đến dòng vốn
FDI theo từng khu vực trên thế giới:
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế có tác động sâu sắc đến môi trường
đầu tư và kinh doanh trên toàn thế giới, tuy nhiên với các mức độ khác nhau tùy thuộc
vào từng khu vực kinh tế cũng như từng quốc gia cụ thể. Chính những khác biệt này
cũng tác động đến chiều hướng dòng chảy FDI trong giai đoạn 2008 và 2009. Khác
với cuộc khủng hoảng Đông Á 1997, khi khu vực các nước đang phát triển chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất, làm mất dần sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, thì cuộc khủng xxi
hoảng năm 2008 lại đánh dấu chiều hướng hoàn toàn trái ngược. Cuộc khủng hoảng
vừa qua xuất phát và ảnh hưởng trực tiếp đến một hệ thống các quốc gia phát triển, tác
động mạnh mẽ làm suy giảm sức thu hút của môi trường đầu tư tại các quốc gia này.
Thực tế cũng cho thấy dòng vốn FDI chảy vào khu vực các nền kinh tế phát triển dẫn
đầu xu hướng suy giảm trên toàn cầu. Trong khi đó, với những tác động gián tiếp và ít
nghiêm trọng hơn từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới, các nền kinh tế đang phát triển và
các nền kinh tế chuyển tiếp tỏ ra hấp dẫn tương đối về môi trường thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài.
2.2.1. Khu vực các nền kinh tế phát triển: Bắc Mỹ, khu vực EU, các quốc gia phát
triển tại châu Á, khu vực Cộng đồng các quốc gia độc lập châu Âu CIS, các quốc gia
đa quốc gia ít khả năng đầu tư ra nước ngoài hơn. Dòng FDI xuất ra nước ngoài từ
Hoa Kỳ giảm cho dù lợi nhuận tái đầu tư của các chi nhánh ở nước ngoài vẫn ổn định.
Điều tương tự cũng xảy ra với khối đồng tiền chung Euro, trong đó ở Anh các TNCs
cắt giảm tới 60% các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, trong số những nước phát triển,
Nhật Bản là một ngoại lệ. Các doanh nghiệp Nhật Bản có tình hình tiền mặt dồi dào, tỉ
lệ nợ trên vốn nằm trong mức an toàn. Tận dụng cơ hội giá trị các công ty suy giảm,
các doanh nghiệp Nhật Bản tăng cường các thương vụ mua bán và sáp nhập. Vì vậy là
FDI đầu tư ra nước ngoài của Nhật tăng mạnh, trong đó giá trị các vụ M&A đạt 54 tỉ
đô la năm 2008. Nhật Bản trở thành một nước đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ
FDI xuất của thế giới.
2.2.2. Khu vực các nền kinh tế đang phát triển Đông, Nam và Đông Nam Á, Tây Á,
Châu Phi, Châu Mỹ La tinh:
Trong năm 2008, các nước đang phát triển chưa chịu tác động trực tiếp của cuộc
khủng hoảng kinh tế bởi hệ thống tài chính ở các quốc gia này có sự liên kết chưa chặt
chẽ với hệ thống tài chính của Hoa Kỳ và châu Âu, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn giữ
ở mức cao. Do vậy, dòng vốn FDI nhập vào các nước đang phát triển vẫn chưa chịu
ảnh hưởng lớn như ở các nước phát triển. Lượng vốn FDI vào các nước này trong năm
2008 vẫn tăng ở mức 17%, không bằng mức tăng trưởng trong năm 2007, nhưng lại
tốt hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng âm tại các quốc gia phát triển. Bước sang
năm 2009, nền kinh tế thế giới lâm vào suy thoái, nó nhanh chóng tác động mạnh đến
dòng vốn FDI vào các quốc gia đang phát triển. Gánh chịu mức sụt giảm mạnh 35%
trong năm 2009, khu vực các nền kinh tế đang phát triển đã chấm dứt 6 năm đạt tốc độ
tăng trưởng dương về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Dòng FDI xuất của các nước đang phát triển tăng 3% trong năm 2008 và bắt đầu giảm
từ quý I năm 2009. Các nước đang phát triển ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong luồng
FDI xuất của thế giới, tăng từ 13% năm 2007 lên 16% năm 2008; trong đó nổi lên như
Trung Quốc, Ấn Độ,…
tâm lý an toàn hơn, thúc đẩy hoạt động đầu tư. Hơn nữa, nhiều chính phủ cũng tìm
kiếm sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài cho những gói cứu trợ trong từng
ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Bên cạnh chính sách giải cứu cho ngành tài chính, chính
phủ cũng thực hiện những chương trình đầu tư công cộng lớn, chủ yếu là xây dựng cơ
sở hạ tầng, không chỉ xây dựng niềm tin cho nền kinh tế mà còn mở ra cơ hội đầu tư
của các nhà đầu tư, đặc biệt là các TNCs. Một số quốc gia, chủ yếu là các nền kinh tế
phát triển như Hoa Kỳ hay các quốc gia châu Âu, thực hiện các chính sách tài chính, xxiv
tiền tệ nới lỏng nhằm thúc đẩy sự lưu thông dòng vốn, tác động không nhỏ đến dòng
chảy của FDI. Những biện pháp nhằm tạo điều kiện tín dụng trở nên dễ dàng hơn có
thể kích hoạt động đầu tư trở lại.
Tại khu vực các nền kinh tế đang phát triển, những gói kích cầu đầu tư cũng như tiêu
dùng công cộng đã được tung ra nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hoạt động đầu tư
công cũng được đẩy mạnh nhằm nâng cao triển vọng của nền kinh tế cũng như niềm
tin của các nhà đầu tư tạo ra những lợi thế thu hút dòng vốn FDI. Những chính sách
ưu đãi về thuế cũng như những điều kiện đảm bảo của chính phủ nhiều quốc gia cũng
tạo ra tâm lý an toàn hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hoạt động đầu tư.
Trên phạm vi toàn cầu, những hiệp định thương mại được ký kết nhằm rỡ bỏ những
rào cản trong hoạt động buôn bán hàng hóa, dịch vị quốc tế. Nhiều sáng kiến chung về
cung cấp bảo hiểm cho hoạt động đầu tư cũng như xuất nhập khẩu cho các doanh
nghiệp nước ngoài cũng góp phần cải thiện dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
nhiều khu vực.
Tuy vậy, nhiều biện pháp nhằm giải cứu nền kinh tế trong nước cũng tác động tiêu
cựu đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Việc nhiều quốc gia phải quốc hữu hóa các
nguyên tắc không phân biệt đối xử, buộc các nước kí kết phải đối xử công bằng với
các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Một loạt những ví dụ cho những nỗ
lực này như: Cộng đồng chung châu Âu EC kí hiệp định thành viên kinh tế với 15
CARIFORUM States với việc nhấn mạnh vai trò của tự do hóa đầu tư; ASEAN cũng
kí kết hiệp định với Nhật Bản trong việc hợp tác đầu tư; Hội đồng hợp tác vùng vịnh
(GCC) lần đầu tiên kí kết hiệp định với Singapore và giữa các nước thành viên với
nhau; Hoa Kì kí kết Hiệp định khung thương mại và đầu tư với Cộng đồng các quốc
gia Đông Phi và Hiệp định hợp tác thương mại và đầu tư với Cộng đồng các quốc gia
Nam Phi. Những hiệp định này thiết lập khung cơ sở cho việc quản lý thương mại và
quan hệ đầu tư giữa các bên tham gia và được cho là biện pháp để xúc tiến đầu tư.
Tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Washington D.C. vào ngày 14 tháng 11 năm 2008,
các nhà lãnh đạo của các nước này đã tuyên bố trong vòng 12 tháng, các nước này sẽ
hạn chế việc đưa ra các rào cản đầu tư, thương mại. Tuyên bố này còn được tái khẳng
định tại hội nghị thượng đỉnh G20 2 tháng 4 năm 2009 với lời cam kết không sử dụng
các biện pháp bảo hộ tài chính đặc biệt là các điều luật nhằm hạn chế dòng lưu chuyển
vốn trên thế giới.
3.1.2. Chính sách trên cấp độ quốc gia: