Vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
I. Thực trạng của đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
1. Trước khi mở cửa
Chỉ sau hai năm sau ngày thống nhất đất nước. Ngày 18-7-1977 chính phủ
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành điều lệ về đầu tư của nước
ngoài ở CHXHCN Việt Nam trong đó: "Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam hoan
nghênh việc đầu tư của nước ngoài ở trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
của Việt Nam và hai bên cùng có lợi". Để khuyến khích đầu tư của nước ngoài vào
Việt Nam, bản điều lệ cũng đã đưa ra nhiều hình thức ưu đãi đối với đầu tư của
nước ngoài ở Việt Nam và đây như là một tín hiệu tích cuực rất đáng quan tâm.
Tuy nhiên sau khi bản điều lệ ra đời thì không có đối tác nào bỏ tiền vào nơi đang
nằm trong tình trạng chiến tranh, tình hình an ninh không ổn định. Hơn nữa tình
hình kinh tế Việt Nam lúc đó rất nhiều khó khăn, sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng
yếu kém, các dịch vụ không phát triển, hệ thống pháp luật vừa thiếu vừa không phù
hợp về các thông lệ quốc tế, vừa quan điểm không rõ ràng về đường lối tổng thể
phát triển kinh tế.
2. Sau khi mở cửa
Sau khi ban hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 12/1987, năm đầu tiên
thực hiện (1988) đã có 37 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với tổng
số vốn đầu tư là 366 triệu USD. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời phù
hợp với xu hướng của sự hợp tác nhiều mặt, nhiều chiều, tuỳ thuộc lẫn nhau giữa
các quốc gia, trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. Tuy nhiên sau hai năm thực hiện
đầu tư nước ngoài cũng đã bộc lộ một số quan điểm chưa phù hợp với điều kiện
thực tế và thông lệ quốc tế. Vì vậy chúng ta đã thực hiện hai lần sửa đổi. Luật bổ
sung thứ nhất được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 30-6-1990 và luật sửa đổi thứ hai là vào 23-12-1992. Trên cơ sở nhận thức
ngày càng đúng đắn về hoạt động đầu tư nước ngoài, chúng ta đã có quan điểm rõ
ràng về thu hút và sử dụng nguồn lực bên ngoài để phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế. Chúng ta coi trọng nguồn lực trong nước là
quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nền
kinh tế.
hàng đầu với 1224 dự án và 10394 triệu USD vốn đăng ký còn hiệu lực, tiếp theo
là Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương. Khu vực phía Bắc thu hút được ít hơn, trong
đó đáng kể là Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh với tổng số 634 dự án,
9.625 triệu USD vốn đăng ký còn hiệu lực.
b) Những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định có ba hình thức chủ yếu là: Xí
nghiệp liên doanh , xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp tác kinh doanh trên cơ sở
hợp đồng và hình thức ký hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao(BOT).
Với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam.
+ Hình thức xí nghiệp liên doanh.
Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất
trong thời gian qua, bởi vì:
Một là, họ tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác
Việt Nam trên thị trường mà họ chưa quen biết.
Hai là, các nhà đầu tư nước ngoài muốn san sẻ rủi ro với các đối tác Việt
Nam do môi trường đầu tư Việt Nam còn nhiều bất trắc.
Ba là, hình thức này có khả năng thuận lợi hơn để các nhà đầu tư nước ngoài
mở rộng phạm vi và lãnh thổ hoạt động kinh doanh so với hình thức 100% vốn đầu
tư nước ngoài.
Mặt khác, nhà nước cũng tạo điều kiện và giúp đỡ các doanh nghiệp trong
nước liên doanh với nước ngoài nhằm sử dụng có hiệu quả mặt bằng và nhà xưởng,
máy móc thiết bị hiện có.
Hiện nay, hình thức này chiếm 66,4% trong tổng số 815 xí nghiệp liên doanh
đã được cấp giấy phép, 51% số vốn đăng ký và 30% số dự án.
+ Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Hình thức này ngày càng phát triển trong những năm gần đây, từ 5% năm
1989 đến 27% năm 1995 trong tổng số các dự án đã được cấp giấy phép.
Hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài
lựa chọn ngày càng nhiều vì nó có phần dễ thực hiện và thuận lợi hơn cho họ.
nhưng bằng hình thức đầu tư này, về phía nước nhận đầu tư thường chỉ nhận được
kinh doanh với nước ngoài (chiếm 96% số dự án và 99% tổng số vốn đầu tư). Tình
hình này phản ánh tình trạng thực tế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn
nhỏ bé, trình độ sản xuất và năng lực quản lý còn yếu kém.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có chính sách thích hợp để khuyến khích
phát triển DNTN và đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Nhà nước đối với các DNTN.
Đối tác nước ngoài:
Thời kỳ đầu mới thực hiện luật đầu tư nước ngoài chủ yếu là các công ty
nhỏ, thậm chí cả công môi giới đầu tư vào nước ta. phần lớn là công ty thuộc khu
vực Đông á-TBD và Tây- Bắc âu.
Về khu vực các nước đầu tư vào Việt Nam thì khu vực Đông Bắc á(gồm
Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông) chiếm 55,4% số dự án và 40,8 vốn đăng ký của
tất cả dự án đang còn hiệu lực. Đầu tư các nước ASEAN vào Việt Nam từ năm
1997 trở lại đây có chiều hướng suy giảm do tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính- tiền tệ khu vực và những hạn chế về khả năng phục hồi kinh tế (Singapore,
vẫn giữ vị trí hàng đầu với 236 dự án và 7,2 tỷ USD vốn đăng ký). Đầu tư các
nước Châu Âu như Pháp, Hà Lan vẫn nằm trong số 10 nước đầu tư lớn nhất vào
Việt nam, Hoa Kỳ đứng ở vị trí 13 với hơn 1,1 tỷ USD vốn đăng ký trong năm
2002.
d) Thực trạng đầu tư của mỹ vào Việt Nam.
Tính đến ngày 31-8-2001, Mỹ có dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư
đăng ký là 1058 triệu USD và vốn đầu tư thực hiện đạt 489,4 triệu USD, Mỹ có 82
dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm 58,6% tổng số vốn đầu tư là 306,2 triệu
USD, tiếp đến là ngành dầu khí, công nghiệp nhẹ, xây dựng và thực phẩm. Nông,
lâm nghiệp có 16 dự án chiếm 13,5% tổng vốn đầu tư.
Theo hình thức đầu tư, Mỹ có 83 dự án 100% vốn nước ngoài (chiếm 64,3%
tổng số dự án), với tổng số vốn đầu tư là 554,3 triệu USD (chiếm 52,4% tổng vốn
đầu tư); Tiếp theo là hình thức liên doanh có 33 dự án (25,6%) với vốn đầu tư là
369,8 triệuUSD (34,9%) và hợp đồng hợp tác liên doanh có 11 dự án (10,1%) với
tổng vốn đầu tư là 134,1 triệu USD (12,7%).
Các dự án đầu tư của Mỹ đầu tư tại 26 tỉnh thành phố nhưng tập trung chủ
năm 2001 thì nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh từ 1988 đến
1995 cả về số lượng dự án cũng như vốn đăng ký.