38 luan van bao cao sự vận động của quan hệ nga mỹ sau chiến tranh lạnh và ảnh hưởng của quan hệ đó đến việt nam - Pdf 89

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử loài người, Ýt nhất từ thời cận đại, các nước lớn, các
cường quốc từng đóng vai trò quyết định trật tự thế giới và chi phối hệ thống
các quan hệ quốc tế (QHQT). Đường hướng vận động, phát triển của lịch sử
thế giới phụ thuộc chủ yếu vào tham vọng và lợi Ých chiến lược của các nước
lớn, vào sự hoà hoãn hoặc chiến tranh giữa các nước lớn. Thời kỳ chiến tranh
lạnh, Liên Xô và Mỹ đã tồn tại với tư cách hai siêu cường đứng đầu hai hệ
thống chính trị - xã hội đối lập, kiềm chế, chi phối lẫn nhau, đồng thời chi
phối đời sống chính trị thế giới và hệ thống các QHQT. Cuộc chiến tranh lạnh
kéo dài hơn bốn thập niên đó đã đặt cả thế giới vào tình trạng đối đầu căng
thẳng và thù địch.
Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, do tác động của hàng loạt các
nhân tố chủ quan và khách quan, bên trong và bên ngoài, cuộc chiến tranh
lạnh kết thúc, Liên Xô và trật tự thế giới hai cực tan rã. Từ thời điểm này,
cộng đồng các quốc gia - dân téc vận động và phát triển trong một hoàn cảnh
lịch sử rất mới và rất khác thời kỳ chiến tranh lạnh, vừa tạo ra những cơ hội,
vừa đặt ra những thách thức mới đối với họ. Tình hình thế giới sau chiến
tranh lạnh diễn biến phức tạp, diện mạo một trật tự thế giới mới thay cho trật
tự hai cực đã tan rã vẫn chưa định hình. Sau mấy thập niên chiến tranh lạnh,
một mặt các nước lớn nhỏ đều muốn có môi trường quốc tế hòa bình, ổn định
để phát triển, nên nhìn chung đều điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại
theo hướng tránh đối đầu, tăng cường hợp tác, liên kết, hội nhập trên các tầng
nấc khác nhau. Mặt khác, các nước - trước hết là các nước lớn - còng cạnh
tranh gay gắt với nhau nhằm giành giật vai trò, vị trí có lợi nhất cho mình
trong trật tự thế giới mới đang hình thành. Động thái quan hệ giữa các nước
lớn diễn ra hết sức phức tạp, chứa đầy những yếu tố khó lường. Trong khi đó,
1
các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn thời kỳ sau chiến tranh lạnh vẫn
đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội loài người.
Quan hệ giữa Nga và Mỹ - với tư cách là quan hệ giữa hai nước lớn -

Nga - Mỹ. Thực tế này đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết của
chính sách đối ngoại Việt Nam trong quan hệ với Nga và Mỹ. Việc nghiên cứu
sự vận động của quan hệ Nga - Mỹ sau chiến tranh lạnh và ảnh hưởng của
quan hệ đó đến Việt Nam không chỉ nhằm rót ra những bài học kinh nghiệm
cần thiết nhằm thúc đẩy quan hệ Việt - Nga và Việt - Mỹ, mà còn cung cấp
những luận cứ khoa học góp phần đưa phương châm đối ngoại cân bằng trong
quan hệ với các nước lớn vào thực tiễn hoạt động đối ngoại cho sát đúng với
từng nước lớn cụ thể.
Vì tất cả những lẽ đó, Nghiên cứu sinh đã chọn đề tài "Sự vận động
của quan hệ Nga - Mỹ sau chiến tranh lạnh và ảnh hưởng của quan hệ đó
đến Việt Nam" làm đề tài luận án.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quan hệ giữa Nga và Mỹ không phải là một đề tài mới mẻ đối với giới
nghiên cứu ở nước ngoài, nhất là ở Nga và Mỹ. Các vấn đề như vai trò, vị thế
quốc tế của các nước lớn hiện nay và trong tương lai, chính sách đối ngoại
của Nga và của Mỹ, quan hệ Nga - Mỹ trong các lĩnh vực chính trị - đối
ngoại, kinh tế - thương mại, ... đã được Ýt nhiều đề cập trong nhiều công trình
nghiên cứu khác nhau của các tác giả nước ngoài. Trong các công trình này,
đáng chú ý là các cuốn sách: "Sự đảo lộn của thế giới địa - chính trị thế kỷ
XXI" của Maridôn Tuareno (Pháp); "Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu" của
Lý Thực Cốc (Trung Quốc); "Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc";
"Chuẩn bị cho thế kỷ XXI" của Pôn Kennơđy (Mỹ); "Dự báo thế kỷ 21" của tập
thể các tác giả Trung Quốc; "Bàn cờ lớn" của Z. Brzezinski (Mỹ); "Sự biến
đổi" của A.Côdưrép (Nga); "Nước Nga hướng về châu Á" của M. L. Titarencô,
v.v.. Ngoài ra, nhiều bài viết đề cập đến các khía cạnh cụ thể của đề tài đã được
3
đăng tải trên các Ên phẩm chuyên ngành của Nga như các tạp chí: Kinh tế thế
giới và QHQT; Mỹ: Kinh tế, Chính trị, Tư tưởng; Sinh hoạt quốc tế; Tư tưởng tự
do; Báo Độc lập, v.v.. Trong các Ên phẩm này, đáng chú ý nhất là tờ tạp chí
rất có uy tín, chuyên nghiên cứu về Mỹ ở Nga, tờ "Mỹ: Kinh tế, Chính trị, Tư

cứu Bắc Mỹ, Học viện QHQT (Bộ ngoại giao), Viện QHQT (Học viện CTQG
Hồ Chí Minh), các tạp chí chuyên ngành về QHQT, v.v.. Cố học giả Lê Bá
Thuyên với đề tài luận án PTS Lịch sử "Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động
của nó trong quan hệ quốc tế hiện nay" (bảo vệ năm 1995); cuốn sách "Hoa
Kỳ: cam kết và mở rộng", Nxb KHXH, Hà Nội, 1997; cũng như một số bài
viết của tác giả về chiến lược, chính sách đối ngoại của Mỹ đăng trên các tạp
chí chuyên ngành là những công trình có tính chất chuyên sâu nhất về đề tài này.
Còn việc nghiên cứu quan hệ Nga - Mỹ ở Việt Nam thì thực sự chỉ mới ở giai
đoạn ban đầu, số lượng các bài viết về chủ đề này rất hạn chế. Hơn nữa, các
công trình được công bố về quan hệ Nga - Mỹ mới chỉ dừng lại ở việc mô tả
thực trạng quan hệ Nga - Mỹ ở một vài lĩnh vực, chưa có tính hệ thống và
khái quát.
Chủ đề quan hệ Việt - Nga và Việt - Mỹ giành được sự quan tâm
nhiều hơn từ các nhà nghiên cứu Việt Nam. Trong số các công trình nghiên
cứu về các chủ đề này, đáng chú ý là các cuốn sách "Quan hệ kinh tế Việt
Nam - Liên bang Nga: Thực trạng và triển vọng" (Nxb KHXH, Hà Nội, 1995);
"Về mối quan hệ giữa Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn hiện nay"
(Nxb CTQG, Hà Nội, 1997); "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ" (Nxb Thế
giới, Hà Nội, 2000). Đây là những công trình công phu của các tập thể tác giả
và cá nhân về sự vận động khá phức tạp của các cặp quan hệ Nga - Việt và
Mỹ - Việt từ sau khi Liên Xô tan rã. Song do phạm vi nghiên cứu đặt ra, nên
quan hệ Nga - Việt và Mỹ - Việt chưa được xem xét từ góc độ quan hệ giữa các
nước lớn và một nước nhỏ trong bối cảnh thế giới mới sau chiến tranh lạnh.
Đặc biệt ảnh hưởng của quan hệ Nga - Mỹ với tư cách là quan hệ giữa hai
5
nước lớn, đến Việt Nam, với tư cách là một nước nhỏ, trong thời kỳ sau chiến
tranh lạnh, hầu như chưa được nghiên cứu cả ở các nước ngoài cũng như ở Việt
Nam.
Tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án ở nước
ngoài và Việt Nam cho thấy sự cần thiết phải có một công trình nghiên cứu

các quốc gia - dân téc; về hòa bình và cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có
chế độ chính trị - xã hội khác nhau; tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp
tác quốc tế, v.v.. Luận án bám sát các quan điểm đánh giá tình hình quốc tế và
khu vực của Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện từ Đại
hội VI đến nay, coi đây là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận, định hướng
tư tưởng trong nghiên cứu một đề tài vào loại khó và nhạy cảm.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là phương pháp lịch sử
và phương pháp logic. Các phương pháp khác như phân tích và tổng hợp, so
sánh và đối chiếu, thống kê, v.v. được sử dụng như là những phương pháp hỗ
trợ cần thiết cho hai phương pháp chủ yếu nêu trên.
5. Những điểm mới về khoa học của luận án
- Nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống sự vận động của
quan hệ Nga - Mỹ từ sau khi Liên Xô tan rã đến cuối thập niên 90, trên cơ sở
đó bước đầu làm rõ tính chất quan hệ giữa các nước lớn và vai trò của các
nước lớn nói chung trong thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới hai cực sang trật tự
thế giới mới.
- Luận án đưa ra một số đánh giá bước đầu về ảnh hưởng của quan hệ
Nga - Mỹ đến Việt Nam, từ đó nêu một số kiến nghị nhằm xử lý đúng đắn các
mối quan hệ giữa Việt Nam với từng nước lớn cụ thể.
- Góp phần luận giải và làm sáng tỏ thêm chính sách đối ngoại độc lập
tự chủ, phương châm cân bằng trong quan hệ với các nước lớn của Việt Nam.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy và học tập, cũng như cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài danh mục các công trình khoa học của tác giả, tài liệu tham khảo,
luận án có 184 trang, gồm phần mở đầu, 3 chương với 8 tiết và phần kết luận.
8
Chương 1

niên 20 không thiết lập quan hệ với Liên Xô. Phải trải qua một quá trình đấu
tranh lâu dài của chính quyền Xô viết, và do tác động của rất nhiều nhân tố
khác nữa, mà tới tháng 11 năm 1933, Liên bang Xô viết và Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Cũng từ đây bắt đầu một
giai đoạn mới trong quan hệ ngoại giao giữa hai cường quốc, về sau là hai
siêu cường đứng đầu hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập trong QHQT thế
kỷ XX.
Từ khi chính thức công nhận lẫn nhau và thiết lập quan hệ ngoại giao,
quan hệ Xô - Mỹ vận động hoàn toàn không đơn giản trong tất cả các lĩnh vực
chính trị - quân sự, kinh tế - thương mại, văn hóa - khoa học - công nghệ.
1.1.1. Quan hệ Xô - Mỹ trong lĩnh vực chính trị - quân sự
Vào cuối những năm 30, trong bầu không khí nóng bỏng của QHQT
do việc hình thành ba lò lửa chiến tranh thế giới và do bản chất của chủ nghĩa
đế quốc, nhìn chung Mỹ thực hiện "chính sách trung lập", "không can thiệp",
thực chất là âm mưu mượn tay người khác đánh nhau để đứng giữa trục lợi.
Chính H.Truman (lúc đó là Thượng nghị sĩ, đến 4/1945 là Tổng thống Mỹ),
ngay sau khi Đức tấn công Liên Xô, đã tuyên bố trắng trợn: "Nếu chúng ta
thấy Đức sẽ thắng thì chúng ta phải giúp Nga, còn nếu Nga sẽ thắng thì chúng
ta phải giúp Đức, và như vậy, mặc cho họ giết hại lẫn nhau càng nhiều càng
tốt" [113, tr. 435]. Chỉ khi phát xít Đức, Italia đã thôn tính nhiều nước ở châu
Âu, châu Phi, còn Nhật đánh chiếm Trân Châu, gây cho Mỹ những tổn thất
nặng nề, lợi Ých và an ninh Mỹ bị đe dọa, thì Mỹ mới tham chiến, cùng Liên
Xô và một số nước khác thành lập Mặt trận đồng minh chống phát xít
(1/1/1942). Sau đó Mỹ và Liên Xô ký Hiệp ước Xô - Mỹ về những nguyên tắc
10
tương trợ trong quá trình chiến tranh chống xâm lược (11/7/1942). Những
hành động đối ngoại này của hai nước đã góp phần tạo những biến chuyển
tích cực, có ý nghĩa to lớn trong việc đoàn kết và hợp tác chiến đấu giữa Liên
Xô và Mỹ nói riêng, các lực lượng chống phát xít nói chung trên toàn thế giới
để đánh bại chủ nghĩa phát xít.

với Liên Xô trong tất cả các lĩnh vực, trước hết là lĩnh vực chính trị - đối ngoại.
Trên cơ sở một học thuyết do G.Kennan, Chủ tịch ủy ban vạch chính
sách đối ngoại của Chính phủ, cựu đại sứ Mỹ tại Liên Xô đề ra, Tổng thống
Mỹ H.Truman tháng 3 năm 1947 đã cho ra đời một học thuyết đối ngoại
mang tên "Học thuyết Truman". Nội dung cơ bản của Học thuyết Truman là
Mỹ phải đảm trách sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự do, phải bằng mọi biện pháp
kinh tế, quân sự để giúp đỡ, trước mắt là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, sau nữa là
các dân téc trên thế giới chống lại sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản (CNCS).
Nếu G.Kennan được coi là "kiến trúc sư" cho chiến lược "Chiến tranh lạnh",
thì diễn văn của thủ tướng Anh W.Sớcsin tại Phuntơn ngày 5/3/1946 và Học
thuyết Truman được coi là châm ngòi nổ cho cuộc "chiến tranh lạnh" chống
Liên Xô và CNCS. (Theo một số tài liệu, "chiến tranh lạnh" - cold war - là từ
do Barút, tác giả của kế hoạch nguyên tử lực của Mỹ ở LHQ đặt ra, xuất hiện
lần đầu trên báo Mỹ ngày 26/7/1947. Nhưng rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
"chiến tranh lạnh" trên thực tế đã bắt đầu trước khi chiến tranh thế giới thứ hai
kết thúc, cụ thể là tại Hội nghị tam cường Mỹ - Anh - Xô tại Ianta tháng 2
năm 1945). Như vậy thế giới Phương Tây đứng đầu là đế quốc Mỹ đã chính
thức đề ra một chiến lược đối ngoại thù địch với Liên Xô và các nước XHCN.
"Đặc trưng tiêu biểu của chiến tranh lạnh là gây tình hình căng thẳng, đe dọa
dùng bạo lực, bao vây kinh tế, phá hoại chính trị, đẩy mạnh chạy đua vũ trang
và chuẩn bị chiến tranh, thành lập các khối liên minh xâm lược, tiến hành chiến
tranh tâm lý chống cộng" (Từ điển bách khoa Việt Nam, Tập 1, 1995, tr. 463).
12
Như vậy, với sự ra đời của Học thuyết Truman, mối quan hệ đồng
minh giữa Liên Xô với Mỹ và các nước Phương Tây trong Mặt trận Đồng
minh chống phát xít đã chấm dứt; bắt đầu một tình trạng đối đầu ngày càng
căng thẳng, quyết liệt giữa hai cường quốc Xô - Mỹ. Cuộc đối đầu Xô - Mỹ
gay gắt và toàn diện trở thành trục trung tâm của chính sách đối ngoại hai siêu
cường và là yếu tố cơ bản chi phối các mối QHQT trong suốt nhiều thập niên
kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II. Các mối QHQT này được diễn đạt bằng

Ở châu Á, Mỹ đã từng bước biến Nhật Bản thành nước lệ thuộc Mỹ,
thành căn cứ quân sự khu vực Đông Bắc Á. Tháng 9/1951, với việc ký với
Nhật Hiệp ước hòa bình San Franxisco, Mỹ đã mở đường cho chủ nghĩa quân
phiệt Nhật ngóc đầu dậy. Đặc biệt, với việc ký Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật
(8/9/1951), Mỹ được phép bố trí các lực lượng vũ trang trên đất Nhật. Mặc dù
Mỹ - Nhật tuyên bố Hiệp ước này nhằm "duy trì hòa bình thế giới và an ninh
Viễn Đông", song thực chất đã chính thức hóa việc thiết lập các căn cứ quân
sự của Mỹ ở Nhật để trước hết phong tỏa, bao vây Liên Xô ở hướng châu Á -
Thái Bình Dương. Kể từ khi Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật được ký kết, Mỹ
thực tế đã sử dụng Nhật Bản phục vụ mục đích khống chế Liên Xô.
Ngoài Liên minh quân sù - chính trị Mỹ - Nhật, Mỹ còn thành lập các
liên minh quân sự song phương và đa phương khác ở khu vực: Mỹ - Philipin
(30/8/1951); Mỹ - Óc - NiuDilân (Hiệp ước an ninh Thái Bình Dương,
1/9/1951); Mỹ - Hàn Quốc (1/10/1953); Mỹ - Pakistan (19/5/1954); Mỹ - Đài
Loan (2/12/1954); nhất là khối SEATO (8/9/1954) gồm Mỹ, Anh, Pháp, Óc,
NiuDilân, Philippin và Thái Lan.
Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ đã từng bước hình thành thế
trận liên hoàn với các cấp độ khác nhau từ châu Âu - Đại Tây Dương (CA-ĐTD)
sang châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD) với mục đích bao vây, phong tỏa,
14
kiềm chế, tiến tới tiêu diệt Liên Xô, ngăn chặn CNCS. Mỹ đã chi những
khoản tài chính khổng lồ cho ngân sách quân sự hàng năm và viện trợ quân sự
cho các nước thành viên khối NATO, SEATO và các đồng minh song phương
khác. Thực chất chiến lược toàn cầu "Ngăn chặn" của Mỹ không chỉ nhằm
chống Liên Xô, chống CNCS, mà còn thực hiện các mục tiêu phát triển nước
Mỹ hùng mạnh cả về kinh tế, quân sự và chính trị làm chỗ dùa để thực hiện
tham vọng bá chủ thế giới của Mỹ. Chiến lược "Ngăn chặn" đã được nhiều
lần điều chỉnh qua các đời Tổng thống Mỹ từ 1947 đến 1991, song mục tiêu
đối ngoại xuyên suốt là thống trị thế giới và tiêu diệt CNCS thì không hề thay
đổi.

CHDC Đức), ở Mông Cổ và biên giới Xô - Trung [89, tr. 243].
Bảng 1.1: Tương quan vũ khí hạt nhân chiến lược
Đơn vị tính: chiếc
Khối
NATO
Khối
Vacsava
Tên lửa chiến lược ICBM
(loại đặt trên đất)
1.018 1.398
Tên lửa SLBM (loại đặt trên
tàu ngầm)
672 922
Máy bay chiến lược 518 160
Tàu ngầm chiến lược 36 62
Bảng 1.2: Tương quan vũ khí thông thường
Xe tăng Tàu chiến Đại bác
Trực
thăng tiêm
kích
Máy bay chiến
đấu
16
NATO (1990) 25.091 34.453 20.620 1.736 5.939
Vacsava (1989) 59.470 70.330 71.560 2.785 7.876
Trong đó Liên Xô 41.580 45.000 50.275 2.200 5.955
Các nước Đông Âu 17.890 25.330 21.285 585 1.921
Nguồn: Bảng 1.1 và 1.2: Dẫn theo C. M. Rôgốp, "Nga và Mỹ trước
ngưỡng cửa thế kỷ 21", Tạp chí Tư tưởng tự do, sè 5/97 (Tiếng Nga), tr. 95.
Ngoài ra, sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mỹ còn biểu hiện qua các cuộc

ch ỏng k cuc chy ua v trang quy mụ ton cu.
Nhng t nm 1981, khi R.Rigõn lờn lm Tng thng M, quan h
Xụ - M bt u cng thng tr li. V Tng thng thuc ng Cng hũa ny
ó thc hin hng lot cỏc ng thỏi i ngoi nguy him, nh b trớ tờn la
tm trung hin i "Pershing" v "Cruise" mt s nc chõu u, vch ra k
hoch "Chin tranh gia cỏc vỡ sao" hay "Sỏng kin phũng th chin lc"
(SDI) nhm phỏ th cõn bng quõn s vi Liờn Xụ. Nm 1985, chi phớ quc
phũng M lờn ti gn 400 t USD, chim 28% ngõn sỏch Liờn bang v 7%
GDP [5, tr. 3]. Cũn Liờn Xụ, theo ti liu ca M, cng chi phớ quc phũng
lờn ti gn 280 t USD, chim khong 50% ngõn sỏch Liờn bang v 10%
GDP hng nm [178]. Theo s liu ca c quan kim soỏt lc lng v trang
v gii tr quõn b M, chi phớ quc phũng tớnh theo u ngi ca M ln
hn 6 ln ch s chung ca th gii, ln hn 3 ln so vi cỏc nc Tõy u v
ln hn 6 ln so vi Nht Bn [178]. Hc thuyt quõn s ca Rigõn "Phn
ng linh hot mi" c mnh danh l "Hc thuyt chy ua v trang, khụi
phc v trớ ng u th gii"
6 lần so với Nhật Bản [178]. Học thuyết quân sự của Rigân "Phản ứng linh
18
hoạt mới" đợc mệnh danh là "Học thuyết chạy đua vũ trang, khôi phục vị
trí đứng đầu thế giới" ó dn n tỡnh trng ht sc phc tp v cng thng
trong quan h Xụ - M cng nh quan h gia nhiu nc khỏc trong sut
nhim k u ca Tng thng Rigõn.
Nm 1985 ỏnh du bc khi u quỏ trỡnh thay i cú tớnh cht bc
ngot trong chớnh sỏch i ngoi cng nh i ni ca Liờn Xụ.
M.Goúcbachp lờn nm quyn lónh o Liờn Xụ, vi "T duy chớnh tr
mi" ó cú nhng iu chnh chin lc i ngoi nhm chuyn bin quan h
t i u sang i thoi vi M. Rt nhiu cuc gp cp cao chớnh thc v
khụng chớnh thc gia M.Goúcbachp vi R.Rigõn ri vi G.Bus ó c
tin hnh. Cuc gp chớnh thc cp cao Xụ - M cú ý ngha quan trng u
tiờn l cuc gp gia M. Goúcbachp v R.Rigõn ti Rõygiavớch (Aixlen).

chiến lược" (START-1) được G.Busơ và M.Goócbachốp ký ngày 31 tháng 7
năm 1991. Theo các thỏa thuận đạt được giữa hai Tổng thống, Mỹ và Liên Xô
sẽ thủ tiêu khoảng 1/3 kho vũ khí hạt nhân chiến lược của mỗi bên trong vòng
7 năm tính từ ngày ký.
Tuy nhiên, do tác động của hàng loạt nhân tố, cả chủ quan lẫn khách
quan, cả bên trong lẫn bên ngoài, siêu cường Liên bang Cộng hòa XHCN Xô
viết - mét trong những nhà nước hùng mạnh bậc nhất trong nền chính trị thế
kỷ XX - đã phải chấm dứt sự tồn tại của mình vào cuối năm 1991. Tính từ
thời điểm lịch sử này, 15 nước Cộng hòa Xô viết chính thức trở thành các
quốc gia độc lập, có chủ quyền, những chủ thể pháp lý quốc tế mới, được
Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế thừa nhận.
Sù tan rã của Liên bang Xô viết và sự ra đời của 15 quốc gia độc lập
trong không gian hậu Xô viết cũng đồng nghĩa với sự tan rã của trật tự thế giới
hai cực để bắt đầu cho quá trình tìm kiếm, kiến tạo một trật tự thế giới mới.
20
Như vậy, cuộc "chiến tranh lạnh" do giới cầm quyền Mỹ phát động
sau chiến tranh thế giới thứ hai, kéo dài hơn 4 thập niên giữa hai siêu cường
Xô - Mỹ đứng đầu hai khối đối địch, có đặc trưng cơ bản là tình trạng đối đầu
và không khí thù địch, từ đây chấm dứt. Kể từ thời điểm này, trong lĩnh vực
quan hệ quốc tế bắt đầu một thời kỳ mới - thời kỳ "sau chiến tranh lạnh".
1.1.2. Quan hệ kinh tế - thương mại và khoa học - kỹ thuật Xô - Mỹ
Quan hệ kinh tế - thương mại chính thức giữa Liên Xô và Mỹ được đánh
dấu bằng "Hiệp định về quan hệ thương mại Xô - Mỹ" ký ngày 13 tháng 7
năm 1935. Sau một thời gian thực hiện, Hiệp định thương mại Xô - Mỹ năm 1935
được điều chỉnh, rồi được thay bằng Hiệp định thương mại ký ngày 4 tháng 8
năm 1937. Hiệp định thương mại Xô - Mỹ năm 1937 ghi rõ rằng Mỹ và Liên Xô
sẽ giành cho nhau quy chế tối huệ quốc (MFN) vô điều kiện và không hạn chế
trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến thuế quan mậu dịch, thuế doanh thu, thể
lệ và thủ tục xuất khẩu, đến việc bán và sử dụng hàng Nga ở Mỹ và Liên Xô.
Phía Mỹ bảo đảm rằng mọi ưu tiên, ưu đãi nêu trên, đã hoặc sẽ được Mỹ

Vật cản nghiêm trọng trong việc phát triển quan hệ kinh tế - thương
mại bình thường giữa Liên Xô và Mỹ còn do có những barie đủ loại, trước hết
là trong các bộ luật của Mỹ. Các bộ luật này đưa ra nhiều điều kiện chính trị
khác nhau làm hạn chế đáng kể quan hệ kinh tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực
công nghệ cao. Chẳng hạn, điều luật Giắcxơn - Vanich khét tiếng ra đời năm
1974, bổ sung cho phần II của Luật thương mại Mỹ, nhằm ngăn cấm giành cho
các nước XHCN quy chế tối huệ quốc (MFN) trong thương mại và ngăn cản các
nước này tham gia vào các chương trình kinh tế đối ngoại của chính phủ Mỹ,....
Về quan hệ khoa học - công nghệ Xô - Mỹ, thì trong bối cảnh đối đầu
gay gắt giữa hai khối, quan hệ đó không thể không mang tính chất hạn hẹp,
tạm thời. Các trí tuệ siêu việt ở cả hai nước thường chỉ chú ý tập trung nghiên
cứu làm sao đạt được ưu thế quân sự so với phía bên kia. Tuy nhiên, hai nước
22
cng ó ký c mt s Hip nh v hp tỏc trong lnh vc khoa hc, k
thut, cụng ngh, nht l t nhng nm 70. Chng hn, nm 1972 ký Hip
nh v hp tỏc khoa hc - k thut; nm 1973 ký Hip nh v hp tỏc trong
lnh vc s dng nng lng nguyờn t vo mc ớch hũa bỡnh; nm 1974 ký
Hip nh v hp tỏc nghiờn cu v s dng khong khụng v tr vo mc
ớch hũa bỡnh, v.v. Chuyn bay v tr m hai nc thc hin nm 1975 theo
chng trỡnh nghiờn cu v tr "Soiuz - Apollon" ó i vo lch s nh l
nh cao ca quan h hp tỏc Xụ - M him hoi.
V tng th, t nm 1933 n 1991, Liờn Xụ v M ó ký cỏc hip
nh, hip c trong cỏc lnh vc kinh t - thng mi, khoa hc - k thut -
cụng ngh nh sau:
Bng 1.3: Quan h kinh t - thng mi Xụ - M 1933-1991 qua cỏc hip
nh ó ký
qua các hiệp định đã ký
Thng mi Ti chớnh
ỏnh
cỏ

được ký mà không được thực hiện.
Trong lĩnh vực quan hệ kinh tế đối ngoại, có một điểm rất đáng chú ý
là tình trạng biệt lập, đóng cửa, đóng khung quan hệ kinh tế trong khối SEV
(Hội đồng tương trợ kinh tế) của Liên Xô. Tất nhiên, có tình trạng này là do
Mỹ và các nước Phương Tây thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, phong
tỏa kinh tế Liên Xô và các nước XHCN, vốn sinh sau đẻ muộn lại bị chiến
tranh tàn phá nặng nề. Hoàn cảnh lịch sử đó đã đẩy lùi khả năng mở rộng
quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học - công nghệ của Liên Xô với
Mỹ nói riêng, với thế giới bên ngoài khối SEV nói chung. Song điều đáng nói
là, khi đóng khung quan hệ kinh tế - thương mại trong khối SEV, Liên Xô đã
thực hiện quan hệ đó chủ yếu theo kiểu bao cấp nên vừa kém hiệu quả, vừa
lãng phí các nguồn lực. Hậu quả là Liên Xô đánh mất các lợi thế so sánh
trong phân công lao động quốc tế; nền kinh tế Liên Xô tụt hậu ngày càng xa
so với Mỹ và các nước tư bản phát triển.
Đó là di sản quan hệ chính trị - quân sự, kinh tế - thương mại và khoa
học - kỹ thuật song phương mà Nga và Mỹ kế thừa khi bước sang thời kỳ "sau
chiến tranh lạnh". Rõ ràng chỉ để vứt bỏ những chướng ngại vật mà "chiến
tranh lạnh" để lại không thôi cũng đã cần không Ýt nỗ lực và thời gian của cả
hai nước. Thế mà bức tranh thế giới thời kỳ "sau chiến tranh lạnh" lại có một
đặc điểm nổi bật là rất không rõ ràng. Đúng như một học giả Phương Tây đã
nhận xét, "Với việc chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới trở nên Ýt nguy hiểm
hơn, nhưng đồng thời cũng Ýt ổn định hơn và khó tiên đoán hơn" [137]. Sù
tan rã nhanh chóng của Liên Xô trong tư cách một cơ cấu địa - chính trị ổn
định trong khi chưa có một cơ cấu chuyển tiếp thích hợp khiến cho các mối
QHQT bị xáo trộn, gây khó khăn rất lớn cho nhiều nước, trước hết là LB Nga
và các nước Cộng hòa Xô viết cũ. Các mối quan hệ giữa LB Nga và Mỹ còn
24
liên quan chặt chẽ đến thực trạng chính trị, kinh tế, xã hội của từng nước, đến ý
đồ và tham vọng của ban lãnh đạo từng nước trên trường quốc tế, đến các lĩnh
vực quan hệ đa phương khác, đến những thay đổi to lớn đã và đang diễn ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status