Hoạt động đối ngoại nhân dân của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Pdf 25


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
……oOo…… HOÀNG TRUNG PHƢƠNG
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI
MỚI

1.1.1. Khái niệm đối ngoại nhân dân
10
1.1.2. Chủ thể đối ngoại nhân dân
11
1.1.3. Cơ chế hoạt động đối ngoại nhân dân
12
1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của đối ngoại nhân dân
13
1.1.5. Phương thức hoạt động đối ngoại nhân dân
15
1.2. Khái quát những thành tựu trong hoạt động đối ngoại
nhân dân thời kỳ trƣớc đổi mới
18
1.2.1. Hoạt động đối ngoại nhân dân thời kỳ đấu tranh giành chính
quyền và kháng chiến chống Pháp
18
1.2.2. Hoạt động đối ngoại nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
24
1.2.3. Hoạt động đối ngoại nhân dân thời kỳ từ sau năm 1975 đến
khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới 1986
30
1.3. Bối cảnh quốc tế và trong nƣớc tác động đến việc đổi mới
đƣờng lối đối ngoại, trong đó có đối ngoại nhân dân
33
1.3.1. Bối cảnh quốc tế
33
1.3.2. Bối cảnh trong nước
39
CHƢƠNG 2: HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

72
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ
KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP TỤC ĐỔI MỚI
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
80
3.1. Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình hoạt động
đối ngoại nhân dân qua các thời kỳ
80
3.2. Một số khuyến nghị nhằm tiếp tục đổi mới và tăng cƣờng
hoạt động đối ngoại nhân dân
85
3.2.1. Những khuyến nghị mang tính định hướng chung
87
3.2.2. Những giải pháp cụ thể để tăng cường đổi mới một cách
hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân
89
KẾT LUẬN
99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
101
PHỤ LỤC

3
CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN
Association of Southeast Asian Nations

Tổ chức phi chính phủ
SNG
Cộng đồng các quốc gia độc lập
USD
United States Dollar
Đồng đô la Mỹ
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
TNC
Transnational Corporations
Công ty xuyên quốc gia
WTO
World Trade Organiration
Tổ chức thương mại thế giới

4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Đối ngoại nhân dân là các hoạt động không thuộc ngoại giao Nhà nước
và đối ngoại của Đảng mà do các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị - xã
hội nghề nghiệp và cá nhân thuộc các tầng lớp nhân dân thực hiện. Trong
nhiều thập niên qua, đặc biệt là từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi
mới toàn diện đến nay, hoạt động đối ngoại nhân dân giữ một vị trí, vai trò
quan trọng không thể thiếu trên mặt trận ngoại giao Việt Nam, góp phần
không nhỏ vào việc thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối đối ngoại
của Đảng và ngoại giao của Nhà nước ta.
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã khởi xướng sự nghiệp đổi mới, đánh

cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa khủng bố; nhiều quốc gia rơi vào
tình trạng mất ổn định chính trị, khủng hoảng kinh tế - xã hội; các tổ chức hoà
bình hữu nghị hoặc bị tê liệt, hoặc chậm được phục hồi. Cùng với đó là những
hậu quả tiêu cực của toàn cầu hoá dẫn tới tình trạng bất bình đẳng phân hoá
giầu nghèo trên thế giới và trong phạm vi các quốc gia ngày càng sâu sắc.
Đồng thời các thế lực đế quốc, thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược
"diễn biến hoà bình” và gây bạo loạn lật đổ đối với Việt Nam bằng nhiều
phương thức, kể cả thông qua con đường quan hệ nhân dân và hoạt động của
một số tổ chức phi chính phủ vv Tình hình đó đã phần nào gây cản trở đến
việc mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân của nước ta. Do đó, tiếp tục đổi
mới hoạt động của công tác đối ngoại nói chung, đối ngoại nhân dân nói riêng
là yêu cầu bức xúc được đặt ra trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế.
Chính vì vậy, việc phân tích một cách toàn diện về thực trạng hoạt
động đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới, từ đó rút những bài học kinh
nghiêm là rất cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ những nhận
thức trên đây, tác giả chọn đề tài "Hoạt động đối ngoại nhân dân của Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới" để viết luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ
quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động đối ngoại nói chung, đối ngoại nhân dân nói riêng là vấn đề
được đề cập trong khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu. Có thể chia
những công trình đó thành 02 loại:
Thứ nhất: Những công trình, bài viết đề cập đến một số nội dung của
hoạt đông đối ngoại nhân dân: 6
- Các cuốn sách: Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài tại

Hồ Chí Minh: Những định hướng cơ bản và thành tựu, của tác giả Hà Văn
Thẩm, thông tin Nghiên cứu quốc tế, số 3/2007; Đảng lãnh đạo công tác 7
ngoại giao nhân dân qua các thời kỳ cách mạng, của tác giả Lê Thị Tình, Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 7/2002; Vài suy nghĩ về ngoại giao nhân dân với nhiệm
vụ phát triển kinh tế trong thời kỳ mới, của tác giả Phạm Quốc Trụ, Tạp chí
Hữu nghị, số 1/2008; Hoạt động đối ngoại nhân dân với công tác thông tin
đối ngoại, của tác giả Hồ Anh Dũng, Thông tin đối ngoại, số 7/2007; Đối
ngoại nhân dân góp phần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong tình hình mới, của tác giả Vũ Xuân Hồng, Tạp chí Hữu nghị, số
14/2004; Phát triển ngoại giao nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng
của tác giả Vũ Quang Vinh, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12/2006 v.v
Nhìn chung, các tài liệu thuộc nhóm này phần nào đã khắc hoạ được
những nét cơ bản của hoạt động đối ngoại nhân dân như: khái niệm, các tổ
chức chuyên trách, các hoạt động chủ yếu, thành tựu và kinh nghiệm bước
đầu, tuy nhiên phương pháp tiếp cận còn thiên sang tính chất bộ phận, lĩnh
vực đặc thù, thiếu sự bao quát rộng rãi vốn có của đối ngoại nhân dân. Có thể
nói rằng, cho đến nay hầu như chưa có những công trình nghiên cứu có tính
chất chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn hoạt động đối ngoại nhân dân
đôi lúc vẫn còn được hiểu chưa thoả đáng. Vì vậy, việc nghiên cứu về hoạt
động đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới là có tính cần thiết và không trùng
lặp với những công trình trước đó, vừa có thể kế thừa những kết quả của các
công trình đi trước về cơ chế và phương thức hoạt động, những thành tựu và
kinh nghiệm của hoạt động đối ngoại nhân dân, vừa tập trung đi sâu và nghiên
cứu vào hoạt động đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới, từ đó đề xuất những
kiến nghị và giải pháp phục vụ cho chính sách ngoại giao đa dạng hoá, đa
phương hóa với tinh thần “Việt Nam là bạn, đối tác tin cạy của tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”

so sánh, đối chiếu, phương pháp liên ngành Mọi nhận định, đánh giá trong
đề tài đều được xây dựng trên cơ sở phân tích, khái quát những dữ kiện thực
tế và kết quả của những công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần quan trọng vào việc
cung cấp các luận cứ khoa học để làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận và thực
tiễn đổi mới hoạt động đối ngoại nói chung và hoạt động đối ngoại nhân dân
nói riêng ở nước ta hiện nay, đồng thời góp phần vào việc thực hiện chủ
trương của Đảng về tổng kết công tác lý luận và thực tiễn thời kỳ đổi mới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9
Ngoài ra, đề tài còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu và giảng dạy những nội dung về quan hệ quốc tế và đường lối
đối ngoại của Đảng, góp phần vào việc nâng cao kiến thức cho đội ngũ những
người làm công tác đối ngoại, công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liêu tham khảo, nội dung
của luân văn có bố cục gồm 3 chương 10 tiết.

định, đối ngoại nhân dân lại đóng vai trò tiên phong, mở đường hoặc đặt nền
tảng cho việc thiết lập và phát triển quan hệ ngoại giao chính thức giữa các
quốc gia.
Ở Việt Nam, cùng với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, đối
ngoại nhân dân là một bộ phận cấu thành của ngoại giao Việt Nam hiện đại.
Là một kênh đối ngoại nữa không thể thiếu trong hoạt động đối ngoại của
Việt Nam. Đối ngoại nhân dân có quan hệ gắn bó chặt chẽ với đối ngoại Đảng
và ngoại giao Nhà nước. Nó triển khai hoạt động với các đối tác nước ngoài,
do các chủ thể nhân dân tiến hành theo chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thống nhất, toàn diện của
Đảng, chịu sự quản lý theo pháp luật của Nhà nước. Từ nhận thức, cách tiếp
cận và quan niệm như trên, có thể đưa ra khái niệm đối ngoại nhân dân ở
nước ta như sau: Đối ngoại nhân dân là một bộ phận cấu thành quan trọng
của công tác đối ngoại chung, gắn bó chặt chẽ với đối ngoại Đảng và ngoại
giao Nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực quan hệ với các đối tác nước ngoài 11
ở trong và ngoài nước, do các chủ thể nhân dân triển khai theo chủ trương,
chính sách đối ngoại của Đảng và đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập
trung thống nhất và toàn diện của Trung ương Đảng và chịu sự quản lý theo
pháp luật của Nhà nước.
Đối ngoại nhân dân là công tác “dân vận quốc tế” hết sức rộng rãi của các
đoàn thể, tổ chức nhân dân và các cá nhân, nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn
nhau, củng cố tình cảm hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc; gìn giữ và quảng
bá văn hoá dân tộc trong quá trình giao lưu quốc tế; tranh thủ sự đồng tình và
ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc của nhân dân ta; tranh thủ tối đa sự hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế về
tri thức khoa học - công nghệ; tranh thủ viện trợ phi chính phủ để phát triển kinh
tế - xã hội; tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới vì

Hội hữu nghị và các Ủy ban đoàn kết song phương giữa Việt Nam với các
nước là thành viên của Liên hiệp. Cho đến nay, nước ta đã thành lập được 46
Hội hữu nghị và Ủy ban đoàn kết song phương giữa Việt Nam với các nước.
Ngoài ra còn có 27 chi hội hữu nghị song phương tỉnh, thành phố trực thuộc
các Hội hữu nghị.
Trong những năm qua, lực lượng chủ yếu tham gia công tác đối ngoại
nhân dân đã không ngừng mở rộng. Chỉ tính ở cấp Trung ương, hiện nay
chúng ta đã có gần 350 tổ chức, bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
đoàn thể quần chúng (Tổng liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Cựu
chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ),
các tổ chức chính trị - xã hội (Liên hiệp các hôi khoa học- kỹ thuật, Liên hiệp
các Hội văn học- nghệ thuật, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị), các tổ chức
nghề nghiệp, xã hội, từ thiện - nhân đạo, tôn giáo… Đó là chưa kể hàng trăm
tổ chức có tên gọi và quy chế hoạt động là "phi chính phủ" cũng ở cấp trung
ương vào khoảng 2.000 tổ chức nhân dân ở cấp tỉnh.
Có thể phân loại các tổ chức tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân
thành 2 bộ phận sau:
Thứ nhất: Hoạt động của những tổ chức chuyên hoạt động đối ngoại
như các Hội hữu nghị song phương với nhân dân các nước, Uỷ ban Đoàn kết
nhân dân Á - Phi, Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam Hiện nay,
hoạt động đối ngoại chuyên trách này do Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt
Nam đảm nhiệm.
Thứ hai: Hoạt động đối ngoại của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã
hội, nghề nghiệp, tôn giáo có sự tham gia sâu rộng của quần chúng như 13
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và
các tỉnh, thành, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam các cấp, Hội Chữ thập đỏ, Hội Phật giáo, Hội Nông dân, Hội


14
tranh của nhà cầm quyền Mỹ, góp phần tạo sức ép chính trị buộc Mỹ phải
chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
Trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng chủ trương thực hiện đường
lối đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, kết hợp đối ngoại Đảng, ngoại giao
Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo thành sức mạnh tổng hợp trên mặt trận
đối ngoại nhằm thực hiện nhiệm vụ đối ngoại bao trùm: Giữ vững hoà bình,
mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); góp
phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Mục tiêu chung của đối ngoại nhân dân là làm cho nhân dân thế giới
hiểu rõ đất nước và con người Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Đối ngoại nhân dân góp phần tăng cường
tình đoàn kết hữu nghị hợp tác với nhân dân thế giới, tích cực tham gia hoạt
động trong các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đối ngoại nhân
dân tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới về vốn, chuyển giao công nghệ, kinh
nghiệm quản lý kinh tế và xã hội, giáo dục - đào tạo Đối ngoại nhân dân có
nhiệm vụ làm cầu nối giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân thế giới, phát
triển quan hệ song phương với các tổ chức tương ứng, tuyên truyền chính
sách đối ngoại của Việt Nam và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Tuy là đối
ngoại nhân dân, nhưng nó vẫn mang tính chất nhiệm vụ đại diện cho đất
nước, cho dân tộc trong quá trình giao lưu quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia
dân tộc của Việt Nam.
Để thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ và mục đích đã xác định trên,
đối ngoại nhân dân trước hết phải nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và chủ trương chính sách, đường lối đối ngoại và các quan điểm
chính thức của Đảng và Nhà nước trên các vấn đề quốc tế nhằm triển khai các

lưu hữu nghị của các hội hữu nghị nằm trong Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị
ở Trung ương và các tỉnh thành, các đoàn thể chính trị, các tổ chức nhân dân
như các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật, trao đổi các đoàn, hội nghị,
hội thảo của các tổ chức này làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về truyền
thống dân tộc, bản sắc văn hóa, tinh thần hòa hiếu tạo được sự hiểu biết,
cảm thông và chia sẻ góp phần thúc đẩy công tác đối ngoại nhân dân, có điều
kiện phát huy tốt hơn, tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân các nước đối
với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Mặt khác, thông qua việc
tiếp xúc với các đối tác, ta có thể tìm kiếm cơ hội hợp tác, thu hút các nguồn
tài trợ nước ngoài cho các dự án hỗ trợ chính sách, chăm sóc sức khỏe y tế 16
cộng đồng, phát triển giáo dục với phương châm quản lý tốt, sử dụng đúng
mục đích nguồn tài trợ, sự giúp đỡ được đặt đúng nơi, đúng chỗ để phát huy
hiệu quả góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước.
Nội dung, phương thức hoạt động đối ngoại nhân dân rất phong phú và
đa dạng, nhưng dù thế nào cũng phải tuân thủ những phương châm nhất định
về mặt đối ngoại. Đó là:
- Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa
yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. Điều đó có nghĩa là đối ngoại nhân dân phải
nắm vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội, đồng thời rất
năng động và linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của
nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc
điểm của từng đối tác.
- Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, tích
cực thúc đẩy hợp tác, đa phương hoá quan hệ về chính trị, kinh tế, khoa học -
công nghệ, văn hoá - văn nghệ, giáo dục, y tế với các tổ chức chính trị, xã
hội, nghề nghiệp, phi chính phủ, quốc gia, khu vực và quốc tế, đồng thời đấu
tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp với từng đối tác, trên từng vấn đề,

thức cơ bản và phổ biến nhất trong hoạt động đối ngoại nhân dân được thực
hiện ở các cấp độ khác nhau, từ những cuộc đi thăm hữu nghị chính thức của
lãnh đạo các tổ chức, các chuyến trao đổi nghiên cứu của cán bộ chuyên viên
cho đến việc đi dự các hoạt động lớn như dự Đại hội, kỷ niệm ngày thành lập
hoặc đi ký kết thoả thuận song phương trên lĩnh vực cụ thể và các hoạt động
đa phương
- Phối hợp lực lượng tham gia với số lượng lớn vào các hoạt động có
quy mô quốc tế và thế giới như Đại hội phụ nữ thế giới, Liên hoan thanh niên,
sinh viên thế giới
- Tổ chức các hội nghị, hội thảo, lớp tập huấn ở trong và ngoài nước về
các chủ đề khác nhau.
- Tiếp nhận viện trợ, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, làm và thực hiện
dự án, dự các khoá đào tạo ngắn hạn và dài hạn ở trong và ngoài nước.
- Làm cầu nối cho quan hệ giữa các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp
trong và ngoài nước.
- Tham gia các cuộc triển lãm hội hoạ, nhiếp ảnh, tem, sách báo, các
liên hoan phim, các cuộc bình thơ văn, các ngày văn hoá Việt Nam, biểu diễn
văn nghệ ở nước ngoài. 18
- Thử nghiệm tổ chức lao động tình nguyện ở trong nước và tham gia
lao động tình nguyện ở nước ngoài.
- Thử nghiệm tổ chức ở trong nước một số hoạt động lớn có sự phối
hợp liên ngành của nhiều tổ chức.
- Tổ chức du lịch chuyên đề giới thiệu về Việt Nam cho các đối tượng
khác nhau.
- Tổ chức du lịch kết hợp chữa bệnh.
- Hoạt động lao động công ích, giao hữu thể thao với các cơ quan văn
phòng đại diện nước ngoài.

Campuchia, ủng hộ cuộc chiến đấu chống phát xít của nhân dân Liên Xô,
Trung Quốc, gắn cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống Nhật - Pháp với cuộc
chiến đấu của các lực lượng đồng minh chống phát xít. Những hoạt động đối
ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân thời kỳ này đã tranh thủ được sự ủng
hộ và giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc cách
mạng nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho thắng lợi của Cách mạng tháng
Tám 1945.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ
cộng hòa mới được thành lập, trong hoàn cảnh khó khăn của ta lúc đó, chưa
thể có quan hệ ngoại giao chính thức với một quốc gia nào, công tác đối ngoại
nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng. Theo Người thì đó là
một giải pháp phát triển đa dạng mối quan hệ giữa các dân tộc, một cách thức
khai thác nguồn lực trong nhiều hoàn cảnh, là tiền đề và cầu nối quan trọng
dẫn đến quan hệ chính thức giữa các chính phủ và phát triển nhiều quan hệ
phi chính phủ. Công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ này đóng vai trò quan
trọng trong việc thực hiện đường lối chính sách đối ngoại kháng chiến, trước
hết là vận động quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước
đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta với phương châm “làm cho nước
mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết”.
Cho đến trước năm 1950, Việt Nam chưa được một quốc gia nào trên
thế giới công nhận về mặt ngoại giao. Trước tình hình đó, hoạt động đối ngoại
nhân dân đã được tiến hành một cách chủ động, sáng tạo nhằm đạt mục tiêu
cách mạng là làm cho Việt Nam “độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn”, cô lập thực
dân Pháp và quân đội của Tưởng Giới Thạch, xây dựng quan hệ thân thiện với
tất cả các nước. Thực hiện chính sách đối ngoại của nước Việt Nam độc lập,
chính phủ Việt Nam đã tiến hành các hoạt động bày tỏ thái độ hữu nghị với
các nước coi trọng nền độc lập của Việt Nam, hữu nghị và hợp tác trên cơ sở
bình đẳng với các nước trong Đồng minh chống phát xít, tranh thủ sự giúp đỡ
công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ này bao gồm:
- Nêu cao tính chất chính nghĩa, nhân đạo và triển vọng nhất định thắng
lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, vạch rõ tính chất phi nghĩa, 21
tàn bạo và triển vọng nhất định thất bại của cuộc chiến tranh xâm lược của
thực dân Pháp.
- Làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ nhân dân Việt Nam, giữ vững
đường lối độc lập, tự chủ, tự lực tự cường đồng thời rất coi trọng đoàn kết
quốc tế. Nhân dân ta coi sự ủng hộ và đoàn kết quốc tế là sự đóng góp to lớn
vào cuộc kháng chiến của nhân dân ta và coi thắng lợi của Việt Nam là đóng
góp tích cực vào thắng lợi chung của nhân dân thế giới.
- Khẳng định cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân
Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập, tự do và giành lại hòa bình là một bộ
phận của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thực dân Pháp gây chiến tranh xâm lược
không chỉ Việt Nam mà cả Lào, Campuchia, xâm phạm lợi ích của nhân dân
tiến bộ Pháp, của nhân dân các nước thuộc địa Pháp và nhân dân yêu chuộng
hòa bình, công lý toàn thế giới. Vì vậy, nhân dân Việt Nam chung sức với
nhân dân Lào, Campuchia trong kháng chiến; nhân dân Việt Nam và nhân dân
Pháp, nhân dân các nước thuộc địa Pháp và nhân dân thế giới ủng hộ lẫn nhau
và đoàn kết với nhau [43, tr. 20].
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ II (1951), nhiệm vụ đối
ngoại nhân dân được vạch rõ: “Đoàn kết chặt chẽ với Liên xô, Trung Quốc và
các nước dân chủ nhân dân khác, tích cực ủng hộ phong trào giải phóng thuộc
địa và nửa thuộc địa. Mở rộng quan hệ ngoại giao nhân dân; giao thiệp thân
thiện với chính phủ nào tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, đặt quan hệ ngoại
giao với các nước đó theo nguyên tắc tự do, bình đẳng và có lợi cho cả hai bên”
[3, tr.126]. Cùng với mặt trận đoàn kết toàn dân trong nước, đã hình thành mặt

dân Pháp cô lập, đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Giữa ba nước Đông Dương, ngoài tình hữu nghị là tình đoàn kết chiến
đấu của những người cùng một chiến hào. Hội nghị nhân dân ba nước được tổ
chức tại Việt Bắc ngày 11/3/1951 đã lập ra Mặt trận đoàn kết, Liên minh nhân
dân Việt Nam - Lào - Campuchia trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tương trợ
và hợp tác, tôn trọng quyền tự quyết, chủ quyền và lợi ích chính đáng của
nhau. Tháng 9/1952, ba nước Đông Dương lại họp Hội nghị đoàn kết, khẳng
định tăng cường quan hệ hữu nghị, cùng nhau tiếp tục kháng chiến và cùng
giành thắng lợi.
Những năm đầu kháng chiến, Đảng ta đã cử nhiều cán bộ đi một số
nước châu Á, châu Âu, Liên Xô, Trung Quốc nhằm vận động xây dựng quan
hệ với các tổ chức quần chúng nhân dân các nước đó, với các tổ chức dân chủ
quốc tế và dự một số hội nghị quốc tế Sau khi Liên Xô, Trung Quốc và các
nước XHCN Đông Âu công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta 23
(1950), nhân dân ta đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ về chính trị và giúp đỡ
quý báu về vật chất của nhân dân các nước XHCN.
Với nhân dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Các bạn hãy
góp sức với dân tộc chúng tôi: chúng ta hãy đánh quỵ bọn thực dân. Chúng ta
hãy cùng nhau xây dựng hòa bình, dân chủ và hòa khí giữa hai dân tộc”. Nhân
dân tiến bộ Pháp đứng về phía Việt Nam không chỉ vì thấy rõ quyền độc lập
của Việt Nam là chính đáng mà còn muốn xây dựng tình hữu nghị và quan hệ
thân thiện giữa hai dân tộc Pháp - Việt. Phong trào đấu tranh của nhân dân
Pháp đòi chính phủ Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam diễn ra liên
tục, biểu thị tình hữu nghị, đoàn kết mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam. Các
hoạt động chống chiến tranh liên tiếp xảy ra, như đình công không sản xuất và
vận chuyển vũ khí sang Đông Dương, quăng vũ khí xuống biển Ở các nước
thuộc địa của Pháp như Algeri, Tuynidi có phong trào chống bắt lính đưa

thắng lợi chung của phong trào nhân dân thế giới đứng về phía chính nghĩa
Việt Nam, hữu nghị với Việt Nam, ủng hộ Việt Nam đấu tranh vì độc lập.
Hoạt động đối ngoại nhân dân trong thời kỳ này, khi Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà còn non trẻ bị địch bao vây về mọi mặt, kể cả ngoại giáo. Trong
bối cảnh quốc tế hết sức bất lợi, công tác đối ngoại nhân dân đã góp phần giải
thích cho thế giới biết rằng Việt Nam thật sự trở thành một nước tự do, độc
lập; toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem tất cả tinh thần, lực lượng, tính
mạng và của cải vật chất để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
1.2.2. Hoạt động đối ngoại nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
Những kinh nghiệm hoạt động đối ngoại nhân dân trong kháng chiến
chống Pháp đã được vận dụng và phát triển đến trình độ cao trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Hoạt động đối ngoại nhân dân đã hỗ trợ cho hoạt
động đối ngoại qua các giai đoạn đấu tranh đòi thi hành đúng Hiệp định
Geneva (1954-1956), đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang kết hợp với
hoạt động du kích tự vệ ở miền Nam (1957-1960), đồng khởi và đấu tranh
làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (1960-1964), đấu tranh chống
“chiến lược chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến tranh bằng không quân
và hải quân đối với miền Bắc (1965-1969), làm thất bại chiến lược “Việt Nam
hóa chiến tranh” và tiến hành “vừa đánh vừa đàm” (1969-1972) và cuối cùng
giải phóng hoàn toàn miền Nam 1975.
Thời kỳ này, nội dung, phương pháp và hình thức vận động quốc tế
cũng như đấu tranh ngoại giao rất đa dạng. Nội dung công tác vận động quốc
tế bao gồm:

Trích đoạn Phong trào hòa bình Quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nƣớc Những thành tựu Những hạn chế và Nguyên nhân chính của những tồn tạ Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình hoạt động đối ngoại nhân dân qua các thời kỳ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status