Đề tài: Tình hình hoạt động xuất khẩu tư bản của Vịêt Nam trong thời gian qua pot - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Tình hình hoạt động xuất khẩu tư
bản của Vịêt Nam trong thời gian qua
1
Mục lục
Trang
Lời mở đầu ………………………………………………………………… 1
Chương I: Cơ sở lý luận về Xuất khẩu tư bản 2
1 Khái niệm Đầu t ư nước ngoài, Xuất khẩu tư bản ………….…2
2 Sự cần thiết của hoạt động Xuất khẩu tư bản …………………2
A Tính tất yếu của Xuất khẩu tư bản của các nước đang phát triển 2
B Lợi ích của Xuất khẩu tư bản của các nước đang phát
triển………………… 4
3 Các hình thức Xuất khẩu tư bản của các doanh nghiệp nước đang phát
triển………… 5
4 Các loại hình doanh nghiệp thực hiện Xuất khẩu tư bản chủ
yếu………………………… 7
5 Những điều kện cần thiết để các doanh nghiệp tiến hành hoạt động Xuất
khẩu tư bản 8
A Về phía doanh nghiệp …………………………………………………… 8
B Về Nhà nước…………………………………………………………… 11
Chương II Thực trạng Xuất khẩu tư bản của các doanh nghiệp Việt
Nam 12
1 Những cơ hội và thách thức ………………………………………… 12
A Cơ hội………………………………………………………………13
B Thách thức………………………………………………………….15
2 Cơ chế chính sách khuyến khích Xuất khẩu tư bản của Vịêt
Nam……………… 18
3 Tình hình Xuất khẩu tư bản của các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua
……………………. 19

án môn học này em xin được tìm hiểu một cách có hệ thống hơn khái quát
Tình hình hoạt động xuất khẩu tư bản của Vịêt Nam trong thời gian qua và
những đánh giá một cách có khoa học những báo cáo nghiên cứu mới nhất về
tình hình xuất khẩu tư bản của Việt Nam.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN XUẤT KHẨU TƯ BẢN
4
1. Bản chất của xuất khẩu tư bản :
Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài ( đầu tư tư bản ra
nước ngoài) nhằm mục đích bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở
các nước nhập khẩu tư bản. Lênin khẳng định rằng , xuất khẩu tư bản khác về
nguyên tắc với xuất khẩu hàng hóa và là quá trình ăn bám bình phương. Vào
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến vì:
Một là , trong một số ít nước phát triển đã tích luỹ được một khối lượng
lớn tư bản kếch xù và một bộ phận đã trở thành “ tư bản thừa ” do không tìm
được nơi đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao ở trong nước.
Hai là, khả năng xuất khẩu tư bản xuất hiện do nhiều nước lạc hậu về kinh
tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới, nhưng lại rất thiếu tư bản. Các
nước đó giá ruộng đất lại tương đối hạ , tiền lương thấp , nguyên liệu rẻ, nên
tỷ suất lợi nhuận cao.
Ba là, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế – xã hội càng
gay gắt. Xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức gay gắt đó.
2. Các hình thức và hậu quả của xuất khẩu tư bản :
Xuất khẩu tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức, nếu xét cách thức đầu tư
thì có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
• Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí
nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư,
biến nó thành một chi nhánh của công ty mẹ. Các xí nghiệp mới được hình
thành thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương, nhưng cũng có những
xí nghiệp mà toàn bộ số vốn là của một công ty nước ngoài

Nếu xét về cách thức hoạt động , có các chi nhánh của các công ty
xuyên quốc gia , hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng hay các trung
tâm tín dụng và chuyển giao công nghệ, trong đó, hoạt động dưới hình thức
chuyển giao công nghệ là biện pháp chủ yếu mà các nước xuất khẩu tư bản
6
thường sử dụng để khống chế nền kinh tế của các nước nhập khẩu tư bản.
Xuất khẩu tư bản về thực chất là hình thức mở rộng quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế, là sự bành trường thế lực của tư bản tài chính
nhằm bóc lột nhân dân lao động thế giới, làm cho các nước nhập khẩu tư bản
bị bóc lột gía trị thặng dư, cơ cấu kinh tế què quặt, lệ thuộc vào nền kinh tế
nước tư bản chủ nghĩa. Từ đó làm cho mâu thuẫn kinh tế – xã hội gia tăng.
3. Những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn phát triển
hiện nay của chủ nghĩa tư bản
Ngày nay, trong điều kiện lịch sử mới, xuất khẩu tư bản đã có sự biến
đổi lớn .
Thứ nhất là hướng xuất khẩu tư bản đã có sự thay đổi cơ bản. Trước kia,
luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước
kém phát triển ( chiếm tỷ trọng trên 70% ). Nhưng những thập kỷ gần đây đại
bộ phận dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau.
Tỷ trọng xuất khẩu tư bản giữa ba trung tâm tư bản chủ nghĩa tăng nhanh, đặc
biệt dòng đầu tư chảy mạnh theo hướng từ Nhật Bản vào Mỹ và Tây Âu, cũng
như từ Tây Âu chảy sang Mỹ làm cho luồng xuất khẩu tư bản vào các nước
đang phát triển giảm mạnh, thậm chí chỉ còn 16,8%(1996) và hiện nay
khoảng 30%.
Trước tình hình đó, nhiều nhà lý luận tư sản cho rằng, xuất khẩu tư bản
không còn là thủ đoạn và phương tiện mà các nước giàu dùng để bóc lột các
nước nghèo. Theo họ, xuất khẩu tư bản đã trút bỏ bản chất cũ của nó và trở
thành hình thức hợp tác cùng có lợi trong mối quan hệ quốc tế.Sự hợp tác này
diễn ra chủ yếu giữa các nước tư bản phát triển với nhau. Đó là quan niệm
hoàn toàn sai lầm.

tránh khỏi. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị quy trình công
nghệ mới đã dẫn đến sự loại bỏ các thiết bị và công nghệ lạc hậu ra khỏi quá
trình sản xuất trực tiếp ( do bị hao mòn hữu hình và vô hình ). Đối với nền
kinh tế thế giới đang phát triển, những tư liệu sản xuất này rất có ích và vẫn là
8
kỹ thuật mới mẻ. Nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao, các tập đoàn
tư bản độc quyền đưa các thiết bị đó sang các nước đang phát triển dưới hình
thức chuyển giao công nghệ. Rõ ràng, khi chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại thì
xuất khẩu tư bản từ các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển
là điều không tránh khỏi. Xét trong một giai đoạn phát triển nhất định , có thể
diễn ra sự thay đổi tỷ trọng tư bản đầu tư vào khu vực nào đó của thế giới,
nhưng phân tích một thời kỳ dài hơn của quy mô thế giới cho thấy: xuất khẩu
tư bản vẫn là vũ khí chủ yếu mà tư bản độc quyền sử dụng để bành trướng ra
nước ngoài. Tình trạng nợ nần của các nước đang phát triển ở châu á, Phi ,
Mỹ Latinh là thực tế chứng minh cho kết luận trên.
Thứ hai là chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn , trong đó vai trò
các công ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt
là trong FDI . Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ các
nước đang phát triển mà nổi bật là các Nics châu á.
Thứ ba là hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan quyện giữa xuất
khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên. Chẳng hạn, trong đầu tư trực tiếp
xuất hiện những hình thức mới như BOT,BT sự kết hợp giữa xuất khẩu tư
bản với các hợp đồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám không ngừng
tăng lên.
Thứ tư là sự áp đặt mang tính thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được
gỡ bỏ dần và nguyên tắc cùng có lợi được đề cao.
Ngày nay , xuất khẩu tư bản luôn thể hiện kết quả hai mặt. Một mặt, nó
làm cho các quan hệ tư bản chủ nghĩa được phát triển và mở rộng ra trên địa
bàn quốc tế, góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động và
quốc tế hoá đời sống kinh tế của nhiều nước; là một trong những nhân tố cực

đủ mạnh, nghĩa là phải có một nguồn vốn dồi dào, có đủ năng lực thực hiện
các hoạt động đầu tư nhằm thu được lợi nhuận.
- Các doanh nghiệp cần có KHCN có thể cạnh tranh trên thị trường nước
nhận đầu tư hoặc có bí quyết riêng trong sản xuất sản phẩm.
10
Cạnh tranh là 1 tất yếu trên thị trường, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp thể hiện chủ yếu ở hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh ở hiện
tại cũng như trong tương lai, các sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra có khả
năng cạnh tranh cao, được người tiêu dùng chấp nhận và bảo đảm được thị
trường tiêu thụ, doanh nghiệp được tổ chức hợp lý, năng động, áp dụng công
nghệ tiên tiến, có đội ngũ cán bộ và công nhân có trình độ chuyên môn cao,
có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn cho việc đầu tư theo chiều rộng và
chiều sâu. Để có thể thắng được đối thủ cạnh trạnh thì việc áp dụng nhiều
phương pháp quản lý mới nhằm rút gọn bộ máy, tái cấu trúc quá trình kinh
doanh, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động là cần thiết để xoá bỏ
những bất lợi. Tuy nhiên những cải thiện đó chỉ giúp cho các doanh nghiệp
tồn tại trong cạnh tranh mà chưa đảm bảo chiến thắng trong cạnh tranh. Muốn
có thể đánh bại được đối thủ trong cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải tạo ra
được lợi thế cạnh tranh cho mình và luôn thay đổi để tạo ra thị trường chứ
không chỉ tìm cách nâng cao thị phần, vượt qua những bất lợi. Bấtkỳ một
doanh nghiệp nào cũng đều có khả năng cạnh tranh, chỉ khác nhau là ở mức
độ mạnh hay yếu. Theo quy luật tất yếu của thị trường thì doanh nghiệp nào
có khả năng cạnh tranh mạnh hơn thì doanh nghiệp đó sẽ chiến thắng không
những ở thị trường trong nước mà cả ở ngoài nước. Năng lực cạnh tranh
mạnh mẽ bảo đảm cho doanh nghiệp có thể tồn tại và chiến thắng ở nơi mà
doanh nghiệp tiến hành đầu tư sản xuất. Như vậy khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp chính là điều kiện cần thiết cho doanh nghiệp tiến hành đầu tư ở
bất cứ đâu. Đối với các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển, với
xuất phát điểm thấp, thiếu vốn, thiếu trình độ tổ chức quản lý, công nghệ chưa
cao,… thì cần có một chiến lược cạnh tranh hợp lý, tạo ra nội lực từ trong

huống, nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực. Trước khi xuất
khẩu tư bản các doanh nghiệp cần phải xem xét kỹ trình độ của công nhân
viên rồi mới tiến hành hoạt động đưa họ ra nước ngoài, làm sao để họ có thể
12
thích ứng được với môi trường làm việc mới. Có như vậy thì hoạt động sản
xuất kinh doanh mới có thể thành công, đem lại hiệu quả.
B. Về nhà nước
- Tăng cường hoạt động thúc đẩy, hỗ trợ xuất khẩu tư bản của Nhà
nước bằng các biện pháp như ban hành các quy chế khuyến khích, hỗ trợ, tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu tư bản .
- Tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới về mọi mặt để
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện xuất khẩu tư bản một
cách thuận lợi hơn bằng việc ký kết các hiệp ước, các thoả thuận , cam kết về
hợp tác kinh tế giữa các nước. Như Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ
13
Chương II
Thực trạng xuất khẩu tư bản tại Việt Nam
1. Những cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt
động xuất khẩu tư bản
- Việc gia nhập WTO
Ngày 7/11/2006 vừa qua, Vịêt Nam chính thức trở thành thành chính thức
thứ 150 của tổ chức WTO qua 11 năm và hơn 200 cuộc đàm phán. Dù lâu
nhất, nhiều nhất trong các đàm phán giữa Việt Nam với các tổ chức quốc tế,
nhưng chúng ta vẫn kiên trì cho mục đích gia nhập tổ chức thương mại này.
Bởi đây thực sự là sân chơi lớn mang tính toàn cầu. Sau khi gia nhập, Việt
Nam sẽ tăng vị thế của mình trên trường quốc tế; có điều kiện chủ động tham
gia chính sách thương mại toàn cầu; đồng thời tập trung xây dựng, điều chỉnh
hệ thống luật pháp minh bạch, phù hợp xu thế chung, thu hút các nhà đầu tư
trong nước và ngoài nước

việc thực hiện đầu tư tại Hoa Kỳ sẽ giúp doanh nghiệp Vịêt Nam tạo thế đứng
vững chắc trên thị trường này. Kinh nghiệm của các nước khác đã chỉ rõ điều
này. Như hãng Honda của Nhật Bản đã đầu tư rất nhiều vào các nhà máy lớn
ở Hoa Kỳ để không chỉ xuất khẩu xe hơi sang Hoa Kỳ mà còn coi đây là 1
trung tâm sản xuất của mình phục vụ cho thị trường Hoa Kỳ và các nước
khác. 1 ví dụ khác mà các doanh nghiệp Vịêt Nam có thể học hỏi , đó là
trường hợp hãng Haier của trung Quốc. Hãng này đã coi đầu tư vào Hoa Kỳ
là 1 cách làm có hiệu quả để củng cố vị thế của hãng tại Hoa Kỳ và là cách để
tránh các vụ kiện bán phá giá. Do đó các doanh nghiệp Vịêt Nam cần tìm hiểu
kỹ hơn cơ hội đầu tư vào Hoa Kỳ theo cam kết của hiệp định.
A Những cơ hội:
Doanh nghiệp Vịêt Nam có cơ hội lựa chọn địa chỉ đầu tư thích hợp, từ đó
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
15
Trong bối cảnh xu hướng tự do hoá đầu tư đang diễn ra mạnh mẽ như hiện
nay các quốc gia trên thế giới hầu hết đều thực thi những biện pháp khuyến
khích nhằm kêu gọi vốn đầu tư từ bên ngoài. Điều kiện đó đã mở ra cho các
doanh nghiệp Vịêt Nam cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng việc đầu
tư vào những nơi có khả năng mang lại tỷ suất lợi nhuận cao. Điểm đến của
đầu tư không bị bó hẹp trong khuôn khổ địa lý một quốc gia mà được mở
rộng ra các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới .
- Các doanh nghiệp Vịêt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ.
Hoạt động thương mại là một trong những bước cơ bản đầu tiên trong lộ
trình xâm nhập thị trường nước ngoài, nhưng để thực sự tồn tại lâu dài tại thị
truơng các nước trên thế giới, doanh nghiệp nhất thiết phải thành lập các chi
nhánh ở nước ngoài thông qua các hình thức như doanh nghiệp liên doanh
hay doanh nghiệp 100% vốn. Đây chính là kinh nghiệm thành công và lớn
mạnh của các công ty xuyên quốc gia trên thế giới.
Vịêt Nam đang trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các
sản phẩm của Vịêt Nam bước đầu nhận được sự đánh giá khá cao của người

nội địa cho các nước. Đây là thách thức trước tiên, bởi cả nước đang có số
lượng rất đông, hơn 230.000 doanh nghiệp, nhưng phần lớn là vừa và nhỏ,
năng lực cạnh tranh kém. Khi mở cửa hội nhập, vấn đề cạnh tranh giành
nguồn lực con người sẽ diễn ra khốc liệt. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt
Nam khá năng động và chuyển động rất nhanh khi môi trường kinh doanh
thay đổi. Vượt qua được thách thức của sự cạnh tranh, Việt Nam sẽ tạo được
môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng. Những doanh nghiệp nào trước
đây dựa dẫm vào sự hỗ trợ, ưu đãi của chính sách thì nay buộc phải vươn lên,
tự đứng bằng hai chân của mình
Các doanh nghiệp nước ngoài vào hoạt động ở Việt Nam sẽ dùng
lương, dùng các chính sách ưu đãi để thu hút lao động, nhất là lao động có
năng lực về làm việc cho mình. Thách thức này đòi hỏi các doanh nghiệp
trong nước phải có chiến lược đào tạo, có cơ chế phù hợp nhằm “chiêu hiền
17
đãi sĩ”, để giữ lao động. Đồng thời, phải có những đổi mới trong cách quản lý.
Xu thế hiện nay, Nhà nước tập trung quản lý ở tầm vĩ mô, xây dựng hệ thống
pháp luật, chính sách và kiểm tra việc thực hiện luật, chính sách đó; chuyển
quyền quản lý trực tiếp cho các hiệp hội ngành hàng, tạo điều kiện bảo vệ
được ngành hàng và hợp tác liên kết cùng phát triển. Thực tế đã cho thấy, khi
chúng ta chuyển quản lý trực tiếp việc xuất khẩu gạo cho hiệp hội thực hiện
đã tạo điều kiện để mọi thành phần đều có thể xuất khẩu gạo, thông qua sự
quản lý của hiệp hội. Xu thế này tạo nên sự hợp tác, liên kết rất quan trọng -
liên kết với nhau để tạo sức mạnh cho nhau và cùng phát triển.
Nếu biết và quyết tâm vượt qua tất cả những thách thức thì chúng ta sẽ
phát triển. Nhiều người cho rằng, thách thức cũng là cơ hội mới, cuộc sống
không có thử thách thì không còn là cuộc sống. Gia nhập WTO đem lại cho
chúng ta nhiều cơ hội và nhiều thách thức. Có tận dụng được cơ hội, có vượt
qua đựơc thách thức, biến thách thức thành cơ hội hay không hoàn toàn do sự
đổi mới trong nhận thức cũng như hành động của các cấp, các ngành, do sự
năng động của từng doanh nghiệp. Nhà nước mở cửa, có chính sách thu hút

quốc gia đó đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm kinh doanh quốc tế và hiện
đang là chủ đầu tư lớn của khu vực. Việc thiếu kinh nghiệm trong triển khai
dự án ở nước ngoài khiến cho các nhà đầu tư Vịêt Nam lúng túng và gặp
nhiều khó khăn.
- Năng lực cạnh tranh tổng hợp cả các doanh nghiệp Vịêt Nam còn thấp
khiến khả năng xuất khẩu tư bản chưa cao.
Ngoài tiềm lực tài chính yếu, doanh nghiệp Vịêt Nam còn bộc lộ một số
hạn chế như mức độ áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất chưa cao, hệ
thống đại lý phân phối sản phẩm mỏng, chưa tạo dựng được thương hiệu có
danh tiếng… nhũng tồn tại này.khiến khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp Vịêt Nam xét về tổng thể được các tổ chức quốc tế đánh giá không
cao. Năng lực cạnh tranh yếu kém của doanh nghiệp là nguyên nhân chính
khiến năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế Vịêt Nam thấp. Theo công
19
bố của diễn đàn kinh tế thế giới, năng lực cạnh tranhh của cả nền kinh tế Vịêt
Nam đứng ở thứ hạng thấp và thiếu ổn định, năm 2000 là thứ 53/59, năm
2001 là 62/75, năm 2002 là 65/80. Năng lực cạnh tranh thấp khiến cho hiệu
quả kinh doanh cuả doanh nghiệp Vịêt Nam cả trong và ngoài nước chưa cao.
2 Cơ chế chính sách khuyến khích xuất khẩu tư bản của Việt Nam
Trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, thì các quốc gia đều phải
quan tâm đến hoạt động đầu tư. Tuy nhiên với các nước đang phát triển trong
đó có Vịêt Nam thì vấn đề quan tâm là làm sao có thể thu hút được nhiều vốn
đầu tư nước ngoài nhất và ít quan tâm hỗ trợ đến vốn đầu tư ra. Trong khi đó
thực tiễn chứng tỏ rằng hoạt động xuất khẩu tư bản càng tăng thì thị trường
sản xuất kinh doanh càng được mở rộng, cơ hội kinh doanh càng tăng và làm
động lực cho nền kinh tế trong nước phát triển. Do đó ở Vịêt Nam, tư duy về
hoạt động xuất khẩu tư bản ngày càng thay đổi theo hướng ngày càng hợp lý
hơn, đánh giá đúng mức hơn tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu tư bản ,
điều đó được thể hiện qua đường lối chính sách và các biện pháp hỗ trợ từ
phía nhà nước.

Số Vốn
FDI
Tổng
VĐT
Tỷ trọng
VĐTRNN
/
TVĐT(%)
TỔNG
SỐ
154 621.8 6106 43209.8 43831.6 1.419
1 1989 1 0.6 67 525.5 526.1 0.114
2 1990 3 0.0 107 735.0 735.0 0.000
3 1991 3 4.0 152 1291.5 1295.5 0.309
4 1992 4 5.4 196 2208.5 2213.9 0.244
5 1993 5 0.7 274 3037.4 3038.1 0.023
6 1994 3 1.3 372 4188.4 4189.7 0.031
7 1998 2 1.9 285 5099.0 5100.9 0.037
8 1999 10 12.3 327 2565.4 2577.7 0.477
9 2000 15 6.9 391 2838.9 2845.8 0.242
10 2001 13 7.7 555 3142.8 3150.5 0.244
11 2002 15 172.8 808 2998.8 3171.6 5.448
12 2003 26 28.2 791 3191.2 3219.4 0.876
13 2004 17 11.6 811 4547.6 4559.2 0.254
14 2005 37 368.5 970 6839.8 7208.3 5.112
(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Qua bảng số liệu về tình hình xuất khẩu tư bản của Việt Nam trong
những năm qua, chúng ta thấy hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày
càng có xu hướng gia tăng cả về số dự án đầu tư và qui mô vốn đầu tư. Năm
2005 số dự án xuất khẩu tư bản nhiều nhất trong những nămqua là 37 dự án,

tư Việt Nam vì nguy cơ rủi ro rất cao. Trong khi đó nhà nước cũng chưa thực
22
sự quan tâm đến lĩnh vực đầu tư mới mẻ này, nên chưa có các cơ chế, chính
sách hướng dẫn, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư Việt Nam một cách hợp
lý, kịp thời, đầy đủ. Chưa thực sự tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt
Nam tham gia vào hoạt động đầu tư quốc tế. Tuy nhiên thông qua tỷ trọng
vốn xuất khẩu tư bản so với tổng số vốn đầu tư qua các năm, ta thấy rõ xu
hướng gia tăng của tỷ trọng vốn xuất khẩu tư bản , từ 0,114% năm 1989; đến
năm 1999 là 0,477%; đến năm 2005 là 5,112%. Qua đó cho thấy xu hướng
xuất khẩu tư bản ngày càng được đẩy mạnh., môi trường đầu tư quốc tế ngày
càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Việt Nam.
B Xuất khẩu tư bản phân theo ngành kinh tế (*)
Đơn vị: Triệu USD
Stt Ngành
Số DA
ĐTRNN
Số
DA
FDI
VĐT
RNN
VĐT FDI Tổng VĐT
VĐTRN
N/TVĐT
(%)
TỔNG SỐ 154 7279 621.8 66244.4 66866.2 0.9
1
Nông nghiệp và lâm
nghiệp
6 489 60.3 3202.7 3263.0 1.8

23
Tỷ trọng xuất khẩu tư bản của từng ngành
Đơn vị : Triệu USD
Stt Ngành
Số DA
ĐTRNN
VĐTRNN
Tỷ trọng VĐT
từng ngành(%)
TỔNG SỐ 154 621.8
1 Nông nghiệp và lâm nghiệp 6 60.3 9.6977
2 Thủy sản 3 8.2 1.3188
3 Công nghiệp khai thác mỏ 12 168.9 27.1631
4 Công nghiệp chế biến 57 68 10.9360
5
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và
nước
1 273.1 43.9209
6 Xây dựng 4 7.1 1.1418
7
Thương nghiệp; Sửa chữa xe có động cơ,
mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia
đình
19 8.7 1.3992
8 Khách sạn và nhà hàng 7 2.6 0.4181
9 Vận tải; kho bãi và thông tin liên lạc 10 3.4 0.5468
10
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh
tài sản và dịch vụ tư vấn
34 21.3 3.4255

3.4255% tổng số vốn xuất khẩu tư bản . Như vậy quy mô trung bình của mỗi
dự án là khá nhỏ. Đặc biệt số dự án lại chủ yếu tập trung trong ngành kinh
doanh tài sản và dịch vụ tư vấn
Như vậy qua số liệu về hoạt động xuất khẩu tư bản của các doanh
nghiệp Vịêt Nam tính đến thời điểm 06/04/2006 trên đã cho thấy các doanh
nghiệp Vịêt Nam đã đa dạng hoá các lĩnh vực xuất khẩu tư bản .
C Xuất khẩu tư bản phân theo đối tác đầu tư chủ yếu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status