Hoạt động ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế của Việt Nam từ năm 2001 đến nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ XUÂN TƯƠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC

HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế
Hµ Néi, 2010

35
1.3.2. Những nội dung cụ thể của ngoại giao phục vụ phát
triển kinh tế
37
Chương 2: Hoạt động ngoại giao phục vụ phát triển
kinh tế của nước ta thập niên đầu thế kỷ XXI
43
2.1. Khái quát hoạt động ngoại giao phục vụ phát triển kinh
tế ở nước ta từ năm 1945 đến năm 2000
43
2.2.Thực trạng hoạt động ngoại giao phục vụ phát triển
kinh tế ở nước ta thập niên đầu thế kỷ XXI
58
2.2.1. Những thành tựu
58
2.2.2. Những hạn chế
89
2.3. Một số kinh nghiệm rút ra trong thực hiện ngoại giao
phục vụ phát triển kinh tế
92
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp thúc đẩy
hoạt động ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế thời
gian tới
106
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại giao
phát triển kinh tế những năm tới
106
3.2.Các giải pháp thúc đẩy hoạt động ngoại giao phục vụ
phát triển kinh tế
112

quốc tế; tranh thủ và tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất
nước; Ba mục tiêu ấy liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
tạo thành một thể thống nhất nhằm làm cho đất nước hùng mạnh, phát triển,
trong đó sức mạnh kinh tế đóng vai trò rất quan trọng. Những mục tiêu trên
có thể nói là không thay đổi, song nội dung cụ thể của nó, nhất là phương
pháp tiến hành để đạt được những mục tiêu ấy không phải lúc nào cũng đứng
yên mà chúng chuyển hoá theo thời gian, tuỳ thuộc vào diễn biến của lịch sử,
hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của một quốc gia. Trong bối cảnh thế giới hiện
nay, mục tiêu tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển có tầm quan trọng
hơn bao giờ hết. Nội dung của mục tiêu này không chỉ thể hiện ở chỗ xây
dựng, duy trì các mối quan hệ quốc tế ổn định, thuận lợi cả về mặt chính trị
lẫn kinh tế và an ninh, mà còn ở chỗ tìm kiếm được nhiều đối tác, tiếp thị và
mở rộng thị trường. Yêu cầu về mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác ngày
nay đã quyết định việc lập cơ quan đại diện ngoại giao tuỳ thuộc vào nước sở
tại có phải là “đối tác sáng giá” hay không. Yêu cầu này càng trở nên cấp
bách khi cuộc chạy đua về kinh tế, cuộc cạnh tranh về đối tác và thị trường
đang diễn ra quyết liệt hơnhợn bao giờ hết. Hiện nay tất cả các nước phát
triển cũng như đang phát triển đều đứng trước thách thức về tụt hậu. Do đó,
mọi nước đều đặt ưu tiên cho phát triển kinh tế và hoạt động ngoại giao phải
phục vụ ưu tiên này.
- 2 -
Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hoá và khi
cạnh tranh kinh tế trở nên hết sức gay gắt, nhiều nước đã coi “Ngoại giao kinh
tế” như một chìa khoá mở cửa ra thế giới. Khái niệm “Ngoại giao kinh tế”
được hiểu là toàn bộ các hoạt động đối ngoại mang nội dung kinh tế. Đó
không chỉ là chính sách viện trợ và nhận viện trợ, chính sách thu hút đầu tư
nước ngoài, mà còn là những hoạt động mà thông qua đó có thể tác động tới
luật pháp, hay chính sách tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, đầu tư của các
nước khác, nhằm đem lại những lợi ích kinh tế gián tiếp như tạo môi trường
cho doanh nghiệp nước mình làm ăn, tạo tương quan có lợi về tỷ giá tiền tệ.

tựu đối ngoại trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ngoại giao Việt Nam đã
chuyển hướng mạnh sang phục vụ kinh tế, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là tạo
môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển kinh
tế, lấy việc mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại làm trọng tâm. Điều đó cũng
dễ hiểu, vì một khi đất nước đã giành được độc lập, thống nhất, nhưng vẫn
đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển so với nhiều nước
khác, thì nhiệm vụ trọng tâm của nước ta là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế -
xã hội. Và chính sách đối ngoại tất yếu phải phục vụ cho nhiệm vụ trọng tâm
này. Đó vừa là lợi ích tối cao của dân tộc, những đồng thời cũng là thước đo
hiệu quả mới của hoạt động đối ngoại.
Với ý nghĩa đó, Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu
phải gắn kết chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại, gắn ngoại giao với kinh
tế. Nội dung của hoạt động ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế được xác
định là: Thứ nhất, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho kinh tế đối ngoại
thông qua việc kiến tạo, duy trì khuôn khổ pháp lý song phương và đa
phương; Thứ hai, nghiên cứu, cung cấp thông tin và cơ hội hợp tác kinh tế;
Thứ ba, tham gia các hoạt động kinh tế ở tầm vĩ mô như vận động ODA, FDI (*)
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều cách gọi khác nhau về vấn đề này như: “Ngoại
giao kinh tế - Economy Diplomacy”, “Ngoại giao phục vụ kinh tế”, “Ngoại giao phục vụ phát triển
kinh tế” Những khái niệm đó dù có tên gọi khác nhau, nhưng về nội hàm là đồng nghĩa. Tuy
nhiên, luận văn sử dụng khái niệm “Ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế” để thống nhất với khái
niệm đã được Đảng ta sử dụng trong các văn kiện Đại hội, nhất là trong Nghị quyết Đại hội X.
- 4 -
hay tìm thị trường xuất khẩu…; Thứ tư, giúp các địa phương, các doanh
nghiệp thiết lập quan hệ kinh tế với đối tác nước ngoài; Thứ năm, tạo điều
kiện để người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp về nước; Thứ sáu, bảo vệ lợi
ích kinh tế của Nhà nước, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cũng

khởi đầu là gia nhập ASEAN, ASEM, APEC và nay là WTO, thì nhiệm vụ
ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế ngày càng có vai trò quan trọng và được
coi là một mục tiêu hàng đầu của hoạt động đối ngoại.
Chính vì vậy, việc phân tích một cách toàn diện về thực trạng hoạt
động ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế ở nước ta, nhất là trong bối cảnh
thực hiện chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, từ đó rút ra những kinh
nghiệm quý giá là rất cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ nhận thức trên đây, tác giả chọn đề tài “Hoạt động ngoại
giao phục vụ phát triển kinh tế của Việt Nam từ năm 2001 đến nay” để
viết luận văn thạc sĩ, chuyên ngành quốc tế học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Như đã nói, ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế không phải là vấn đề
mới mà đã được triển khai trong thực tiễn hoạt động đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta từ khá lâu. Do vậy, việc nghiên cứu về vấn đề này cũng đã được
các nhà nghiên cứu quan tâm chú ý. Trong nhiều công trình nghiên cứu về
đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nội dung
“Ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế” được dành một dung lượng khá thỏa
đáng. Có thể thấy điều đó qua một số công trình sau: Võ Văn Kiệt, Nền ngoại
giao đổi mới, Tuần báo Quan hệ Quốc tế, 1994; Võ Văn Đức, Kinh tế đối
ngoại của nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-
2010, Tạp chí Ngân hàng, số 8/2002; Học viện Quan hệ quốc tế, Ngoại giao
Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975 - 2002), Lưu hành nội bộ, Hà
- 6 -
Nội 2002; Đinh Xuân Lý, Quá trình hội nhập khu vực châu Á - Thái Bình
Dương theo đường lối đổi mới của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2003; Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Quá
trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2005; Phí Như Chanh, Phạm Xuân
Thâu, Phạm Văn Linh (chủ biên), Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb

30 năm Ngoại giao phục vụ kinh tế, Tuần báo Quốc Tế, số ra ngày 26/2/2004;
Ngoại giao phục vụ kinh tế: Chủ động, năng động và chuyển động, Báo Sài
Gòn giải phóngSGGP, số ra ngày 30/06/2004; Nga: Chuyển trọng tâm ngoại
giao kinh tế sang châu Á, Tin tham khảo đặc biệt, TTXVN, 10/8/2005 ; Vũ
Dũng, Ngoại giao với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Báo Đầu tư, số ra
ngày /2005; Nhật Bản với chính sách “Ngoại giao kinh tế”, TTXVN,
TLTKĐB, ngày 29/8/2006 ; Mỗi đại sứ Việt Nam phải có chương trình hành
động ngoại giao phục vụ kinh tế, báo Lao Động, số 332, ngày 02/12/2006;
Phạm Gia Khiêm , Nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao phục vụ kinh tế,
góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng, báo Nhân dân
số ra ngày /2006; Phạm Gia Khiêm, Ngoại giao kinh tế là nhiệm vụ trọng
tâm, báo Đầu tư, số ra ngày 02/01/2008; Kinh tế thế giới - kinh tế đối ngoại
của Việt Nam và ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế,
http://www.dei.gov.vn; Cộng hưởng sức mạnh ngoại giao và doanh nghiệp,
http://www.dei.gov.vn; 30 năm Ngoại giao phục vụ kinh tế,
http://www.dei.gov.vn; Nhìn lại một năm “Ngoại giao phục vụ kinh tế”,
http://www.dei.gov.vn; Ngoại giao thúc đẩy kinh tế phát triển,
http://www.dei.gov.vn v.v…
Tuy nhiên, cho đến nay chưa thấy xuất hiện một công trình có tính
chuyên sâu về chủ đề này. Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hoạt
động ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế của Việt Nam từ năm 2001
- 8 -
đến nay ” là có tính cấp thiết, kế thừa những kết quả của các công trình đi
trước, tác giả luận văn mong muốn tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa nhằm
mục đích làm rõ các luận cứ khoa học để làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận
và thực tiễn đổi mới hoạt động đối ngoại nói chung và thực trạng của hoạt
động ngoại giao phục vụ kinh tế nói riêng ở nước ta từ năm 2001 đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương quan điểm, nhận thức của Đảng và Nhà nước Việt

công bố liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Một mặt góp phần quan trọng vào việc cung cấp các luận cứ khoa học
để làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới hoạt động đối
ngoại nói chung và hoạt động đối ngoại phục vụ kinh tế nói riêng ở nước ta
hiện nay. Mặt khác, những kết quả nghiên cứu của đề tài cũng góp phần vào
việc thực hiện chủ trương của Đảng về tổng kết công tác lý luận và thực tiễn
thời kỳ đổi mới.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Đề tài còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy những nội dung về quan hệ quốc tế và đường lối
đối ngoại của Đảng, góp phần vào việc nâng cao kiến thức cho đội ngũ
những người làm công tác đối ngoại, công tác giáo dục tuyên truyền chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại
8. Kết cấu của luận văn :
- 10 -
Ngoài phần mở đầu , kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương 8 tiết

nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia. Cùng với đó, việc
kết thúc chiến tranh lạnh đã mở ra thời kỳ mới để các nước trên thế giới tập
trung sức người, sức của cho phát triển kinh tế trong nước và mở rộng quan
hệ kinh tế quốc tế. Việc tham gia mở rộng kinh tế đối ngoại không chỉ dừng
lại ở mức độ tham gia kiến tạo chính sách kinh tế đối ngoại, tạo môi trường
thuận lợi, tham gia giải quyết những bất đồng, khó khăn n… mà còn đi vào
những vấn đề rất cụ thể như xúc tiến thương mại, đầu tư, thu hút viện trợ
- 12 -
nước ngoài, du lịch, và môi giới những hợp đồng kinh tế lớn. Trong bối cảnh
đó, ngoại giao phục vụ kinh tế được phát triển mạnh mẽ với những nội dung
và hình thức mới. Nhiều nước đã coi ngoại giao phục vụ kinh tế như một chìa
khoá để mở cửa ra thế giới.
Vậy ngoại giao phục vụ kinh tế là gì? Có nhiều định nghĩa về khái
niệm này, ví dụ như: “Ngoại giao phục vụ kinh tế là lĩnh vực đặc biệt của
hoạt động ngoại giao, liên quan đến việc sử dụng kinh tế như là đối tượng và
phương tiện để cạnh tranh và hợp tác trong quan hệ quốc tế” [56, tr 52];
“Ngoại giao phục vụ kinh tế là đạt mục đích kinh tế bằng phương pháp ngoại
giao, không phụ thuộc vào việc ngoại giao có sử dụng những đòn bẩy kinh tế
để đạt được mục tiêu hay không” [25, tr 52] ngoại giao phục vụ kinh tế được
hiểu là hoạt động ngoại giao “nhằm thúc đẩy thương mại, hợp tác đầu tư, hợp
tác khoa học công nghệ, du lịch, lao động, dịch vụ, thu hút ngoại tệ, bảo vệ lợi
ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong hoạt
động kinh tế đối ngoại”

[chưa phần tài liệu tham khảo,trang 9]… Tuy nhiên,
những khái niệm đó còn khá hẹp, chưa thực sự phản ánh đúng về hoạt động
ngoại giao phục vụ kinh tế. Có thể thấy, ngoại giao phục vụ kinh tế là hoạt
động nhiều phương diện, trong điều kiện hiện nay phát triển trên cơ sở song
phương, đa phương và vận hành ở các cấp độ khác nhau (đại vĩ mô, vĩ mô và
vi mô). Từ góc độ chủ thể, ngoại giao phục vụ kinh tế hướng tới thực hiện

Ở nơi nào có quan hệ chính trị tốt, quan hệ kinh tế cũng phát triển. Quan hệ
chính trị mở đường cho quan hệ kinh tế và quan hệ kinh tế hỗ trợ, tăng cường
liên kết quan hệ chính trị. Dưới quan điểm chính trị thực dụng, ngoại giao
không phải để nói chuyện chính trị suông. Mỗi chuyến đi của các nhà lãnh
đạo cao cấp không chỉ bàn chuyện quan hệ chung chung mà là tìm kiếm cơ
hội làm ăn, vận động hành lang cho lợi ích kinh tế của nước mình và mở
- 14 -
đường cho các doanh nghiệp khai thác thị trường. Mỗi nhà lãnh đạo khi đó đã
trở thành các “salesman”, “marketer” tầm cỡ quốc gia.
1.1.2. Những nhiệm vụ chính của ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế
Những nhiệm vụ chính của ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế là :
Thứ nhất, nghiên cứu kinh tế thế giới, khu vực, các tổ chức kinh tế
quốc tế, kinh tế các nước và quan hệ kinh tế quốc tế, kinh tế Việt Nam để
góp phần hoạch định đường lối chủ trương, chính sách kinh tế, nhất là lĩnh
vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực. Hơn nữa, ngoại
giao tìm hiểu nhu cầu, khả năng về các mặt của các đối tác và trên cơ sở khả
năng, nhu cầu của các bộ, ngành trong nước, để từ đó kiến nghị chủ trương,
chính sách phù hợp cho từng nước, từng đối tác. ở Ở nhiệm vụ này, các lĩnh vực
cần tập trung quan tâm như: đóng góp triển khai chiến lược hội nhập kinh tế
quốc tế; thu hút ODA, FDI, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và các hình thức đầu
tư, viện trợ quốc tế khác; thúc đẩy chuyển giao công nghệ; quảng bá văn hóa dân
tộc Việt Nam, thúc đẩy du lịch quốc tế vào nước ta, tranh thủ sự đóng góp của
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho công cuộc xây dựng và phát triển
đất nước;
Thứ hai, tham gia xây dựng khung pháp lý, các văn bản pháp quy về
kinh tế vĩ mô nói chung và văn bản chuyên ngành, đặc biệt là việc cung cấp,
gợi ý về kinh nghiệm của các nước.
Thứ ba, chuẩn bị đàm phán, tham gia đàm phán, hoặc ký kết các hiệp
định, thỏa thuận chính phủ (song phương, đa phương) giữa ta với các nước, làm
nền tảng pháp lý cho quan hệ hợp tác quốc tế; đồng thời theo dõi, đôn đốc việc

kinh tế đối ngoại, của sự phát triển đất nước. Kinh tế đối ngoại còn tính được
FDI, ODA… năm nay bao nhiêu, chứ môi trường thuận lợi có ý nghĩa thế nào
- 16 -
trong sự phát triển kinh tế đất nước thì khó cân đo đong đếm được, nhưng rất
quan trọng. Điều then chốt nhất của ngoại giao là làm sao tạo được môi
trường, mối quan hệ với các nước khác, gây dựng sự thân thiện và lòng tin
đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho sự hoạt động của các bộ ngành khác,
phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng với quốc tế [chưa có tên của tài liệu tham
khảo, trang 421].
1.21.2. Quan điểm và nhận thức của Đảng - Nhà nước ta về ngoại giao
phục vụ phát triển kinh tế
1.2.11.2.1. Quan điểm cơ bản về ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế của
Đảng Cộng sản Việt Nam
Trên cơ sở yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, từ rất sớm Đảng và Nhà
nước ta đã nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc
mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm đưa sự nghiệp phát triển đất nước hòa vào
xu thế phát triển chung của thế giới. Đảng ta luôn chú trọng việc kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, coi đây là một trong những nguyên
tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình. Cũng chính vì vậy, công cuộc
giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo Vệ Tổ quốc của nhân dân ta trải qua các
thời kỳ lịch sử khác nhau đã luôn giành được sự đồng tình, ủng hộ, sự giúp đỡ
rộng rãi của nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Tư tưởng mở cửa về kinh tế, hội nhập với kinh tế thế giới của Đảng và
Nhà nước ta đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong Thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp
quốc (12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố: “Việt Nam
sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. Đồng
thời, Người khẳng định: “Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư
của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ
của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho

- 18 -
hiệp định, hiệp ước hữu nghị và hợp tác. Với tư cách là một thành viên của
cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã tích cực phát triển quan
hệ và tham gia vào các cơ chế hợp tác của các nước xã hội chủ nghĩa trong
khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế. Sự phát triển quan hệ hợp tác kinh tế
với các nước xã hội chủ nghĩa mặc dù còn mang nặng tính bao cấp nhưng đã
góp phần rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng kinh tế, xã hội và bảo vệ
Tổ quốc. Mặt khác, Việt Nam cũng từng bước cải thiện quan hệ hợp tác kinh
tế với nhiều nước tư bản chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi,
thúc đẩy mối quan hệ kinh tế trong các cơ cấu hợp tác đa phương giữa các
nước đang phát triển như Phong trào không liên kết, Nhóm G77 v.v Tuy
nhiên, quá trình hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam thời kỳ chiến tranh lạnh
do chịu sự chi phối của cuộc đối đầu Đông - Tây, đặc biệt là nhân tố ý thức hệ
tư tưởng, nên còn những hạn chế nhất định, chưa đạt tới hiệu quả như mong
muốn.
Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải đưa nền
kinh tế nhanh chóng vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng và phá thế bao vây
cấm vận kinh tế của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, đường lối mở rộng
quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được bổ sung, hoàn
thiện, đồng thời được thực hiện tích cực hơn. Đại hội VI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (1986) đánh dấu một mốc quan trọng trong công cuộc đổi
mới toàn diện, đồng thời mở ra bước ngoặt trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam. Đại hội xác định phương hướng và nội dung
của quan hệ kinh tế đối ngoại trong thời kỳ mới. Đại hội chỉ rõ: “Muốn
kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải
tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ yếu là với Liên
Xô, Lào và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ
nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ
thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các
- 19 -

biến rất phức tạp, quan hệ quốc tế về mặt địa - kinh tế và địa - chính trị đã
thay đổi căn bản. Trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của các nước
nảy sinh và phát triển xu thế đa phương hóa, đa dạng hóa. Về mặt kinh tế, thế
giới trở thành một thị trường, vận động theo các quy luật thị trường, các nước
vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau trong xu thế liên kết khu vực, quốc tế
hóa, toàn cầu hóa ngày càng gia tăng. Để hòa nhập và tồn tại, phát triển trong
điều kiện quan hệ quốc tế mới, tìm lối thoát cho những khó khăn trong nước,
cũng như các nước khác, Việt Nam phải tiếp tục điều chỉnh chính sách đối ngoại
của mình. Phát triển tư tưởng đổi mới của Đại hội VI (1986), trong Cương
lĩnh của mình, Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) đã nêu rõ đường lối đối ngoại
mở rộng “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [ 18, trang 147], mở ra bước đột
phá trong việc thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế. Đại hội nêu chủ
trương gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải quyết tốt mối
quan hệ giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản
xuất nội địa. Đây là một trong những nội dung chủ yếu của hội nhập kinh tế
quốc tế, là bước phát triển lôgic tất yếu sau khi chúng ta đã cơ bản thống nhất
được thị trường trong nước theo cơ chế một giá. Mục tiêu của chính sách đối
ngoại là “tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc đi lên xã hội chủ nghĩa… Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả
các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở
những nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [ 57, trang 326]. Chính sách kinh tế
đối ngoại cũng được xác định là: “Đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ
kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc
lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi” [57, trang 363]. Tháng 6/1992, Ban
Chấp hành trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 3 đi sâu triển khai chính sách
đối ngoại và kinh tế đối ngoại trong tình hình mới. Trong đó, chính sách đối
ngoại của ta đã có sự chuyển dịch đáng kể. Cùng với việc khẳng định mối quan
- 21 -
hệ truyền thống với các nước XHCN thì nhận thức về tầm quan trọng của quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status