Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lời nói đầu
Trong bối cảnh của sự hợp tác và liên kết giữa các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới yêu cầu phải có nguồn nhân lực có đủ trình độ và năng lực trong
các lĩnh vực và cơ cấu ngành nghề khác nhau. Trong thời gian qua, giáo dục bậc
đại học của chúng ta đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể trong việc xây dựng
một cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ. Cơ cấu thị trờng và những nhân tố
khách quan đã tác động mạnh đến việc hình thành và phát triển cơ cấu sinh viên
đào tạo bậc Đại học.Việc xây dựng một cơ cấu đào tạo đó có tính hiệu quả cao
với yêu cầu của nền kinh tế - xã hội là một vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có sự định
hớng bằng các chính sách điều chỉnh có chủ định của Nhà nớc trong hiện tại và
thời gian tới. Nhằm phân tích thực trạng cơ cấu sinh viên đào tạo bậc đại học của
Việt Nam hiện nay, sự tác động của cơ cấu sinh viên đó đến phát triển kinh tế và
sự tác động có ý thức của Nhà nớc đến cơ cấu sinh viên đó thông qua các chính
sách hỗ trợ kinh tế. Nên tôi đã chọn đề tài.
"Một số kiến nghị về chính sách hỗ trợ kinh tế nhằm điều chỉnh cơ cấu
sinh viên đào tạo bậc đại học cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của
Việt nam trong thời gian tới" làm luận văn tốt nghiệp.
Bố cục đề tài gồm :
Lời nói đầu
Chơng I : Sự cần thiết phải có một cơ cấu sinh viên bậc Đại học phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế và vai trò của các chính sách hỗ trợ kinh tế.
Chơng II : Thực trạng cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học của Việt nam
và các chính sách hỗ trợ kinh tế hiện nay.
Chơng III : Phơng hớng điều chỉnh chính sách hỗ trợ kinh tế nhằm tạo sự
phù hợp giữa cơ cấu sinh viên đào tạo Đại học với yêu cầu phát triển kinh tế.
Kết luận
Đây là một đề tài lớn, phức tạp liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau
của đời sống xã hội. Vì thế, luận văn không có tham vọng đa ra đợc những giải
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tế, tiến bộ khoa học kỹ thuật mang tính toàn cầu hiện nay.
Giáo dục luôn theo sát với sự vận động, phát triển của mỗi giai đoạn lịch
sử, đáp ứng một phần yêu cầu về nguồn nhân lực đợc đào tạo cho các lĩnh vực
kinh tế của xã hội đó. Đồng thời,hoạt động giáo dục là công cụ phục vụ mục tiêu
chính trị của mỗi giai cấp thống trị. Giáo dục đào tạo những con ngời có phong
cách đạo đức, lối sống và t tởng chính trị theo đờng lối của giai cấp thống trị.
Theo quy luật đó, nền giáo dục Việt Nam phải là công cụ phục vụ mục tiêu chính
trị của Đảng Cộng sản Việt Nam với giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân.
Trong gia đoạn hiện nay, mục tiêu chính của Đảng và Nhà nớc ta là tiến hành
công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nớc, rút ngắn khoảng cách của
sự phát triển giữa nớc ta với các nớc khác trên thế giới và trong khu vực. Vì thế,
việc xây dựng và đổi mới hệ thống giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có trình độ kỹ
thuật, quản lý cao và nâng cao mặt bằng dân trí nhân tài cho đất nớc...v.v là vấn
đề mang tính thiết yếu.
Hệ thống giáo dục Đại học là nhân tố cấu thành quan trọng của hệ thống
giáo dục. Nó đóng vai trò là cung cấp nguồn đầu vào lực lợng lao động có trình độ
kỹ thuật, quản lý cao cho nền kinh tế. Với vai trò đó, việc đổi mới hệ thống giáo
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
dục Đại học là vấn đề thiết yếu cần đợc chú trọng công cuộc đổi mới hệ thống
giáo dục, nhằm tạo ra sự thích ứng với nền kinh tế và mục tiêu của Đảng và Nhà
nớc.
Đổi mới hệ thống giáo dục bậc Đại học là đổi mới cơ cấu khối lợng, cơ cấu
sinh viên, cơ cấu giảng viên và những nội dung khác của hệ thống. Hệ thống giáo
dục bậc Đại học với tính chất là cung cấp nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật,
quản lý cao cho nhu cầu về nhân lực của các ngành kinh tế vì thế đổi mới và xây
dựng cơ cấu sinh viên phù hợp, hợp lý là điểm chủ yếu trong chiến lợc đổi mới.
Chúng ta phải xây dựng một cơ cấu phải đảm bảo về số lợng và nội dung với điều
kiện kinh tế. Trong điều kiện Việt nam, tầng lớp nông dân chiếm một số lợng lớn
trong tổng số dân cả nớc, thì lợng sinh viên xuất thân từ tầng lớp nông dân phải
ợng sinh viên bậc Đại học thuộc khu vực đó, dựa trên sự phân định tiềm thức
thành thị- nông thôn của mỗi quốc gia.
1.3. Tiêu thức đánh giá tính hợp lý của cơ cấu sinh viên :
Nh trên đã phân tích, sự phát triển nền kinh tế đặt ra yêu cầu về sự phù hợp
của nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật, quản lý cao đối với hệ thống giáo dục
bậc Đại học, có nghĩa là phải có một cơ cấu sinh viên hợp lý.
Hiện nay còn có nhiều quan niệm khác nhau về tính hợp lý của cơ cấu sinh
viên. Trên khía cạnh nền kinh tế, cơ cấu sinh viên hợp lý là sự phù hợp với yêu
cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao. Tính hợp lý này của cơ cấu sinh viên
đào tạo bậc Đại học đợc đánh giá trên một số tiêu thức sau.
* Sự cân đối giữa số lợng đào tạo của hệ thống giáo dục bậc Đại học và sử
dụng của thị trờng lao động nhằm đảm bảo đào tạo đến đâu sử dụng với hiệu suất
tối đa đến đó. Tránh tình trạng thất nghiệp và chờ việc không tự nguyện của
nguồn nhân lực có trình độ ở mức cao.
* Cơ cấu sinh viên đó phải phù hợp yêu cầu của nền kinh tế với việc phát
triển các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nớc trong từng thời kỳ, để tạo ra sự phát
triển đầu tiên của ngành kinh tế mũi nhọn đó. Cơ cấu phải đáp ứng đợc về số lợng
chất lợng của nguồn nhân lực đó.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Cơ cấu sinh viên đó phải phù hợp với cơ cấu giai tầng xã hội. Cụ thể là
giữa khu vực thành thị và nông thôn, vùng kinh tế trọng điểm và không trọng
điểm, đảm bảo sự công bằng trong phát triển kinh tế xã hội.
* Tỷ trọng của số lợng sinh viên đào tạo trong các nhóm ngành đào tạo
phải có sự cân đối với yêu cầu của ngành đó trong từng giai đoạn phát triển của
nền kinh tế. Số lợng sinh viên phục vụ đúng chuyên ngành đào tạo phải cao.
2. Mối quan hệ giữa cơ cấu sinh viên :
2.1. Đặc điểm của cơ cấu sinh viên.
Cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học đợc cấu thành bởi các phân tử đó
chính là các sinh viên. Các sinh viên này tồn tại và phát triển dới sự tác động của
có một độ trễ tơng đơng với khoảng thời gian đó. Khoảng thời gian này đối với
các sản phẩm hàng hoá thông thờng thì nó vừa đủ khép kín một vòng đời sản
phẩm và bớc sang giai đoạn. Với sản phẩm giáo dục bậc Đại học thì đó chỉ là
khoảng thời gian trang bị kiến thức nhằm hoàn thiện sản phẩm. Nhân tố độ trễ tạo
ra khoảng cách giữa đào tạo hiện tại với nhu cầu trong thời gian tới là 4 - 5 năm,
do đó những gì mà cơ cấu sinh viên căn cứ để hình thành cơ cấu có hiện nay có
thể sau khi ra trờng không đúng nữa. Nguyên nhân về độ trễ làm cho chúng ta
phải có những dự báo dựa trên định hớng phát triển kinh tế trong khoảng thời gian
từ 4 - 5 năm hoặc dài hơn là từ 5 - 10 năm cho cơ cấu sinh viên.
* Đặc điểm không tuân thủ một cách khách quan theo thị trờng lao động đó
chính là yếu tố đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục của ngời sinh viên trong cơ
cấu đào tạo. Những nhân tố đạo đức, lối sống v.v là nhân tố không định hình trong
sinh viên, nó luôn đợc chú trọng và xây dựng trong mỗi cá nhân ngày càng tốt hơn
và không có giới hạn nào cho mình. Do đó, thị trờng lao động không thể nêu ra
mức cầu là bao nhiêu với nhân tố đạo đức, lối sống v.v khi yêu cầu với nguồn lao
động có trình độ kỹ thuật, quản lý cao, và càng không thể tác động nhằm xây
dựng một định chuẩn về đạo đức, lối sống v.v gắn với cơ cấu nhân lực có trình độ
bậc Đại học. Nhân tố không định hình về đạo đức, lối sống v.v luôn thể hiện trong
những hoạt động của đời sống thờng ngày, tác động đến sự phát triển trong đời
sống văn hoá - tinh thần của xã hội.
Bên cạnh những đặc điểm về sự hình thành mang tính khách quan, độ trễ,
hay sự không định hình của đạo đức, lối sống của cơ cấu sinh viên, thì cơ cấu sinh
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
viên còn có những đặc điểm về giai tầng, trình độ nhận thức, độ tuổi v.v. Những
đặc điểm đó tạo cho cơ cấu sinh viên có đặc điểm giống đặc điểm của sản phẩm
thông thờng và cũng có sự khác biệt với các sản phẩm thông thờng trong thị trờng.
2.2. Vai trò của cơ cấu sinh viên hợp lý với sự phát triển kinh tế.
Vai trò của giáo dục với sự phát triển ngày càng thể hiện rõ thông qua các
dấu ấn trực tiếp của sản phẩm giáo dục trong bất kỳ một sản phẩm nào dới dạng
tế,mục đích tạo sự phát triển tốt hơn cho lĩnh vực đó trong những giai đoạn mà
yêu cầu phải có sự phát triển cao về số lợng và chất lợng.
- Cơ cấu sinh viên hợp lý góp phần giải quyết nạn thất nghiệp trong lực l-
ợng lao động làm phát triển về mặt xã hội. Đội quân thất nghiệp có trình độ có thể
ảnh hởng rất tiêu cực đến vấn đề xã hội.Đội ngũ này tham gia vào các tệ nạn xã
hội nh cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, gây rối kích động v.v làm cho xã hội ngày
càng phức tạp trong quá trình phát triển. Điều đó cũng xuất phát từ nguyên nhân
là họ chán nản trong cuộc sống bao nhiêu hoài bão và ớc vọng khi còn theo học
trở thành con số không khi ra trờng, bên cạnh đó gánh nặng về kinh tế trong cuộc
sống và tâm lý thất nghiệp của họ khi ra trờng đối với gia đình. Chính vì thế, một
cơ cấu sinh viên đào tạo hợp lý làm cho tỷ lệ thất nghiệp và chờ việc không tự
nguyện sau khi ra trờng giảm. Con số thất nghiệp qua đào tạo giảm cũng góp phần
giải quyết phần nào những tồn tại về mặt xã hội.
- Cơ cấu sinh viên hợp lý còn tác động đến sự phát triển về mặt xã hội
thông qua sự phù hợp cơ cấu giai tầng trong xã hội. Cơ cấu hợp lý tạo ra sự phát
triển bình đẳng trong mặt bằng dân trí giữa các giai tầng trong xã hội. Cơ cấu
sinh viên hợp lý đó góp phần rút ngắn khoảng cách về trình độ dân trí của khu vực
nông thôn - thành thị, vùng kinh tế trọng điểm với vùng kinh tế khó khăn bằng
chính lực lợng cán bộ có trình độ kỹ thuật và quản lý phù hợp với sự phát triển
của từng vùng kinh tế và khu vực khác nhau. Từ đó, nâng cao nhận thức trong mỗi
ngời dân về vai trò và quyền lợi của họ, đồng thời khuyến khích họ tham gia tích
cực hơn để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và xã hội.
Nhận thức đợc vai trò của cơ cấu sinh viên hợp lý trong sự phát triển kinh
tế xã hội làm cho các quốc gia luôn quan tâm chú trọng đến việc hình thành và
xây dựng một cơ cấu sinh viên hợp lý với giai đoạn phát triển của mình.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
II - Vai trò của các chính sách kinh tế đến việc hình thành một
cơ cấu sinh viên hợp lý :
1. Nhân tố chung tác động đến sự hình thành cơ cấu sinh viên.
Nhân tố xã hội : Sự tác động của các nhân tố xã hội trong việc hình
thành và phát triển cơ cấu sinh viên cũng thờng xuyên thay đổi trong
các giai đoạn phát triển khác nhau. Sự phát triển kinh tế xã hội theo h-
ớng kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa hoàn toàn khác so với định hớng phát triển kinh tế xã hội theo
cơ chế quản lý tập trung.Sự biến đổi làm thay đổi cơ cấu hành chính, các
khuôn khổ pháp luật để phù hợp với yêu cầu phát triển v.v. Điều này đòi
hỏi phải có một lực lợng lớn cán bộ am hiểu đợc luật pháp trong nớc
cũng nh luật pháp quốc tế. Điều đó đã thu hút sinh viên theo học các
trờng luật hay chuyên ngành về quan hệ quốc tế trong các nhóm trờng .
Nhân tố khác là mặt bằng dân trí, trong điều kiện xã hội mới, yêu cầu
đặt ra là phải có sự nâng cao trình độ dân trí trong các giai tầng xã hội.
Điều đó tác động đến cơ cấu sinh viên giữa các giai tầng xã hội và vùng
kinh tế. Số sinh viên của các vùng kinh tế, khu vực xét trên tiêu thức dân
số tăng lên.
Ngoài ra sự tác động của nhân tố xã hội đến cơ cấu sinh viên còn
thể hiện ở số lợng dân số, mức tăng dân số thông qua sự biến đổi về cơ cấu
giới tính, trình độ văn hoá, cơ cấu độ tuổi của cơ cấu sinh viên v.v.
* Nhân tố giáo dục : Quy luật của giáo dục hay quy luật trong đào tạo cũng
có sự tác động đến sự hình thành và phát triển cơ cấu sinh viên trong hệ thống
giáo dục bậc Đại học. Các quy luật đó nh quy luật xã hội hoá giáo dục, quy luật
học để tồn tại hay quy luật học để biết đã làm cho số lợng sinh viên tăng lên, đáp
ứng yêu cầu của các ngành khác nhau trong xã hội. Quy luật xã hội hoá giáo dục
làm tăng số lợng sinh viên và làm biến đổi cơ cấu sinh viên đào tạo theo yêu cầu
của xã hội. Điều này phản ánh qua sự đa dạng của các loại hình trờng đào tạo nh
dân lập, quốc lập, tại chức, trờng học buổi tối v.v... Quy luật học để tồn tại đã thu
hút sinh viên theo học các nhóm trờng khối ngành mà khả năng kiếm việc làm và
mức thu nhập cao trong xã hội. Do đó, cơ cấu sinh viên có sự biến đổi mạnh, thiên
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
làm cho cơ cấu sinh viên đào tạo Đại học có thể không đúng với yêu cầu của thị
trờng trong thời gian tới. Để cơ cấu đó phát huy hiệu quả cao trong việc đáp ứng
yêu cầu của thị trờng lao động thì Nhà nớc phải có sự can thiệp có chủ định nhằm
điều chỉnh cơ cấu sinh viên đó. Một trong những biện pháp xác định là chính sách
hỗ trợ kinh tế.
2.2.1. Chính sách đầu t giáo dục.
Giáo dục đào tạo theo nghĩa hẹp về học tập là bao gồm mọi dạng học tập
của con ngời dới bất kỳ hình thức nào. Trong phạm vi hẹp, giáo dục đào tạo đợc
chuyên môn hoá trong một tổ chức gọi là trờng học. Trong hệ thống giáo dục nớc
ta trờng học là trung tâm giáo dục quan trọng nhất, phổ biến và là nơi thu hút
nguồn đầu t ngân sách chủ yếu của Nhà nớc trong hoạt động đầu t cho giáo dục.
Hoạt động đầu t cho giáo dục luôn đợc các học giả đánh giá cao trong hoạt
động đầu t phát triển. Vì thế hoạt động đầu t giáo dục luôn đợc coi là sự đầu t cho
tơng lai. Grry Becher nhà kinh tế học Hoa Kỳ, giải thởng Nobel năm 1992, đã
khẳng định "không có nguồn đầu t nào mang lại nguồn lợi lớn nh đầu t giáo dục"
vì :
* Sản phẩm của hoạt động giáo dục có giá trị tiêu dùng cao.
* Làm năng suất lao động tăng cao.
* Làm giảm quá trình tái sản xuất dân số.
Hoạt động đầu t giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, đào tạo đội ngũ
lao động có trình độ cao sẽ khuyến khích phát triển sản xuất. Đồng thời với sự hỗ
trợ một cách nhất quán các chính sách kinh tế khác sẽ đem lại lợi ích cao nhất
cho xã hội.
Trong hoạt động đầu t giáo dục nguồn vốn đầu t đóng vai trò quan trọng.
Nguồn vốn đó đợc phân định theo hai tiêu thức đó là nguồn vốn đầu t từ ngân
sách Nhà nớc và nguồn vốn đầu t ngoài ngân sách.
Nguồn vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc tập trung xây dựng cơ sở vật chất
giáo dục, đào tạo "cú huých" ban đầu trong việc nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ
vực và vùng kinh tế đó theo học, dần dần khắc phục tình trạng mất cân đối giữa cơ
cấu sinh viên phân theo vùng kinh tế trọng điểm với các vùng kinh tế khác và khu
vực nông thôn thành thị. Đồng thời đối với vùng đã có trờng Đại học, có thể dùng
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nguồn vốn đầu t giáo dục Đại học để mở rộng và tăng quy mô đào tạo trong các
khối ngành thuộc các trờng.
Vậy hoạt động của các chính sách đầu t giáo dục bậc Đại học đã tác động
nhằm điều chỉnh cơ cấu sinh viên trong thời khối trờng và các vùng kinh tế,
thông qua việc sử dụng nguồn vốn đầu t để phát triển cơ sở hạ tầng và các điều
kiện mới cho việc học tập của sinh viên.
2.2.2. Chính sách khuyến khích hỗ trợ vật chất.
Giáo dục đào tạo Đại học là một trong những hoạt động tạo ra phúc lợi xã
hội mà mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hởng thụ lợi ích do nó đem lại.
Khi nền kinh tế phát triển thì hoạt động phúc lợi đó không chỉ phát triển về số l-
ợng mà còn tăng lên về chất lợng tạo ra lợi ích cao hơn cho mọi ngời. Nhng bên
cạnh đó, sự phân cực về đời sống trong nền kinh tế đã làm cho một số ngời không
đợc hởng hoạt động phúc lợi đó. Điều đó xảy ra với tầng lớp nông dân, gia đình ở
các vùng kinh tế có điều kiện khó khăn.Để khắc phục tình trạng này, chúng ta
phải có những biện pháp khuyến khích giúp đỡ vật chất, nhằm tạo tính công bằng
trong việc tham gia hởng thụ phúc lợi đó.
Trong thời gian hiện tại, chúng ta dùng chính sách khuyến khích vật chất
để làm điều đó .
Chính sách khuyến khích hỗ trợ vật chất nhằm tạo ra điều kiện hỗ trợ một
phần cho nhứng nhóm đối tợng có sự hạn chế trong hoàn cảnh sống, giúp họ khắc
phục những khó khăn trong học tập để tiếp thu những kỹ năng cần thiết cho sự
tham gia hoạt động sản xuất của họ sau này.
Các chính sách khuyến khích hỗ trợ vật chất chủ yếu gồm có :
* Chính sách miễn giảm học phí và học bổng hiện hành.
* Chính sách cho vay tín dụng sinh viên của hệ thống Ngân hàng.
vùng, khu vực này đã làm giảm sự cách biệt về tỷ trọng của cơ cấu sinh viên giữa
các vùng, khu vực. Qua đó tạo điều kiện về nhân lực có trình độ kỹ thuật, quản lý
cao cho các vùng kinh tế khó khăn và khu vực nông thôn. Đồng thời sự tăng tỷ
trọng cơ cấu sinh viên của các vùng còn tạo điều kiện nâng cao dân trí của vùng
đó và phát triển các điều kiện xã hội có liên quan.
Vậy chính sách khuyến khích hỗ trợ vật chất đã tác động đến việc điều
chỉnh cơ cấu sinh viên bằng cách giúp đỡ họ khắc phục những khó khăn trong
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
điều kiện tài chính để theo học. Nó khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các
đối tợng đều vào theo học các khối trờng thiết yếu cho sự nghiệp phát triển đất
nớc. Nó góp phần tạo ra cơ cấu sinh viên hợp lý giữa các khối trờng, khu vực
nông thôn - thành thị, các vùng kinh tế.
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chơng II
Thực trạng cơ cấu sinh viên đào tạo
bậc đại học của Việt nam và các chính sách
hỗ trợ kinh tế hiện nay
Sự phát triển nhanh của các nớc Châu á và hệ thống giáo dục của các nớc
này đã đợc thế giới chứng kiến từ 3 thập kỷ gần đây. Số lợng trẻ em đến trờng
hàng năm và số lợng ngời theo học ở các cấp học hàng năm tăng lên, chất lợng
giáo dục đào tạo cũng không ngừng đợc nâng cao. Sự phát triển đó làm cho nhận
thức của học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học, sinh viên các trờng Đại học -
Cao đẳng ở một số nớc Châu á, đặc biệt ở khu vực Đông Nam á có thể ngang
hàng hoặc thậm chí cao hơn sơ với trình độ của các nớc phát triển (Điều kỳ diệu ở
Đông Nam á - Ngân hàng thế giới 1993).
Thế giới đang trong thời gian thực hiện bớc chuyển giao quan trọng từ nền
kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế thông tin trí tuệ. Hàm lợng trí tuệ trong các
loại hình hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng lên, điều đó đòi hỏi các nớc phải
sinh viên chính quy bậc Đại học tăng 2,7 lần . Năm học 1997 - 1998 con số đào
tạo bậc Đại học của chúng ta đạt ở mức 194.499 ngời, với mức 25,35 sinh viên
bậc Đại học lợng chính quy tên 1 vạn dân, và 74 sinh viên (cả chính quy và không
chính quy bậc Đại học - Cao đẳng) trên 1 vạn dân trong năm 1996. Trong khi đó,
số lợng này chỉ đạt 11,5 ngời và 29 ngời trong năm 1992.
Bên cạnh những thành tựu đã làm đợc, trong hệ thống giáo dục bậc Đại học
còn một số hạn chế.
* Sự mất cân đối trong cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học đang xảy ra.
Nhận định về vấn đề này, văn kiện Hội nghị lần thứ hai - Ban chấp hành Trung -
ơng khoá VIII có nêu : "Cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội, cơ cấu
vùng của đội ngũ sinh viên, học sinh các trờng Đại học có sự cha hợp lý". Cụ thể,
lợng sinh viên trong các khối trờng kinh tế - luạt, ngoại ngữ tăng nhanh ồ ạt,
trong khi đó lợng sinh viên theo học các khối trờng S phạm, khoa học cơ bản,
nông lân ngũ nghiệp hàng năm tăng chậm gây ra hiện tợng cơ cấu sinh viên của
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
các khối trờng kinh tế - luật chiếm tỷ trọng cao và các khối trờng khác thì ngợc
lại.
* Tỷ trọng đào tạo bậc Đại học không cần xứng với các cấp đào tạo khác.
Cơ cấu đào tạo lực lợng lao động có trình độ của ta theo cơ cấu Đại học - Cao
đẳng /Trung học chuyên nghiệp/Công nhân kỹ thuật đi theo hình tháp ngợc. Quy
mô đào tạo bậc Đại học trong cơ cấu chiếm tỷ lệ cao, trong khi lực lợng tốt nghiệp
trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật là ít. Trong các năm 1995 - 1996 cơ
cấu lao động có trình độ phân theo tiêu thức Đại học - Cao đẳng /Trung học
chuyên nghiệp/ Công nhân kỹ thuật của ta là 1/1,61/4,3 và trong năm 1997 thì cơ
cấu này là 1/1,33/4,17. Cơ cấu lao động của ta so với mức chuẩn về cơ cấu lao
động đợc đào tạo của các nớc phát triển là 1/4/10 thì chúng ta thừa một lợng lớn
cán bộ bậc Đại học trong cơ cấu lao động qua đào tạo và thiếu trầm trọng ngời
trực tiếp làm việc. Sự mất cân đối trong cơ cấu lao động qua đào tạo của chúng ta
vẫn tồn tại mà việc giải quyết nó còn gặp nhiều vấn đề, trong khi đó khối lợng
1
2
3
4
5
6
7
Kỹ thuật công nghệ
Khoa học cơ bản - Ngoại ngữ
Nông lâm ng nghiệp
Kinh tế - Luật
Y tế - thể thao
Văn hoá - nghệ thuật
S phạm
(Nguồn - Viện chiến lợc - Bộ kế hoạch đầu t )
Ngoài 7 nhóm trờng thì trong số lợng sinh viên đào tạo bậc Đại học còn có
số lợng sinh viên đào tạo trong khối Quân đội an ninh.
Nhận định về các phân loại này ta thấy nó mang tính tổng quát vì trong
thực tế cách phân định cha phân loại đợc hoàn toàn về tính chất của các nhóm
ngành trong các trờng : Ví dụ khối ngành kinh tế thì xét trong một số trờng khoa
học kỹ thuật nh Giao thông, Xây dựng nhóm ngành đó là có. Nếu xếp trong khối
kinh tế thì không phù hợp vì 80% nội dung học là liên quan đến giao thông, xây
dựng do đó đặt nó trong khối trờng Giao thông và Xây dựng.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Bảng 2 : Số lợng sinh viên chính quy đào tạo bậc Đại học giai đoạn từ năm học 1993 - 1994 đến 1997 - 1998
Nguồn - Số liệu thống kê Đại học - Bộ giáo dục đào tạo
1993 - 1994 1994 - 1995 1995 - 1996 1996 - 1997 1997 - 1998
Số lợng
(ngời)
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Qua số liệu thống kê của Bộ Giáo dục - Đào tạo về lợng sinh viên đào tạo
chính quy bậc Đại học qua các năm học 1993 - 1994 đến năm học 1997-
1998,số lợng sinh viên đào tạo bậc Đại học đã có sự tăng cao. Với con số
tuyệt đối, tổng sinh viên đào tạo chính quy trong 7 khối trờng (chủ yếu) tăng
gấp 2 lần và ở mức xấp xỉ 100 ngàn ngời (99863 ngời) trong giai đoạn từ năm
học 1993 - 1994 đến năm học 1997 - 1998. Số lợng của một số khối trờng
tăng cao nh S phạm tăng 2,87 lần, Kinh tế - luật tăng 2,13 lần, Kỹ thuật công
nghiệp tăng 1,969 lần. Kết quả đào tạo đó cho thấy.
- Sự đáp ứng của hệ thống giáo dục bậc Đại học với yêu cầu về lao
động có trình độ kỹ thuật, quản lý cao của nền kinh tế trong giai đoạn hiện
tại. Nó thể hiện ở sự tăng cao của sinh viên trong khối Kinh tế - luật, Kỹ
thuật công nghiệp. Nền kinh tế mở cửa, hợp tác đầu t với nớc ngoài đã thu
hút một lợng lớn các công ty và tổ chức nớc ngoài liên kết và hợp tác làm ăn
với chúng ta. Điều đó làm cho nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ kỹ
thuật cao tăng lên nhằm đáp ứng yêu câù về trình độ trong việc sử dụng các
thiết bị máy móc có liên quan, do đó nó làm cho số lợng sinh viên đào tạo
bậc Đại học trong khối trờng Kỹ thuật công nghiệp tăng cao. Số lợng sinh
viên đào tạo của khối trờng này trong năm học 1993 - 1994 chỉ là 29344 ngời
thì đến năm 1997 - 1998 con số đó lên đến 57789 ngời. Trong đó, số lợng
sinh viên đào tạo trong các nhóm ngành công nghệ mới nh tin học, điện tử,
bu chính viễn thông v.v tăng cao hàng năm trong tổng số sinh viên của khối
trờng. Về quản lý kinh tế, nhu cầu về lực lợng cán bộ quản lý có trình độ
chuyên môn cao cũng đã đợc đáp ứng phần nào với sự tăng lên của số lợng
sinh viên đào tạo của khối trờng này, Trong năm học 1993 - 1994, số lợng
sinh viên trong khối kinh tế - luật là 19537 ngời thi đến năm học 1997 - 1998
con số đó lên đến 41625 ngời. Điều đó cho thấy sự đáp ứng nhu cầu về nhân
lực qua đào tạo bậc Đại học của giáo dục bậc Đại học thông qua sự chuyển
hớng sang đào tạo mạnh nguồn nhân lực mà thị trờng lao động cần.
- Số lợng sinh viên đào tạo tăng lên cũng phản ánh một phần sự tăng
1993
1994
1995
1996
1997
94,663
104,558
128,739
151,860
194,499
-
10,48
23,13
17,96
8,08
8,07
8,84
9,5
9,34
8,15
(Nguồn:Niên giám thống kê năm 1997
Số liệu thống kê Bộ Đại học )
25