lời nói đầu
Trong bối cảnh của sự hợp tác và liên kết giữa các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới yêu cầu phải có nguồn nhân lực có đủ trình độ và năng lực trong
các lĩnh vực và cơ cấu ngành nghề khác nhau. Trong thời gian qua, giáo dục bậc
đại học của chúng ta đã đạt đợc một số thành tựu đáng kể trong việc xây dựng
một cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ. Cơ cấu thị trờng và những nhân tố
khách quan đã tác động mạnh đến việc hình thành và phát triển cơ cấu sinh viên
đào tạo bậc Đại học.Việc xây dựng một cơ cấu đào tạo đó có tính hiệu quả cao
với yêu cầu của nền kinh tế - xã hội là một vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có sự định
hớng bằng các chính sách điều chỉnh có chủ định của Nhà nớc trong hiện tại và
thời gian tới. Nhằm phân tích thực trạng cơ cấu sinh viên đào tạo bậc đại học của
Việt Nam hiện nay, sự tác động của cơ cấu sinh viên đó đến phát triển kinh tế và
sự tác động có ý thức của Nhà nớc đến cơ cấu sinh viên đó thông qua các chính
sách hỗ trợ kinh tế. Nên tôi đã chọn đề tài.
"Một số kiến nghị về chính sách hỗ trợ kinh tế nhằm điều chỉnh cơ cấu
sinh viên đào tạo bậc đại học cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế của
Việt nam trong thời gian tới" làm luận văn tốt nghiệp.
Bố cục đề tài gồm :
Lời nói đầu
Chơng I : Sự cần thiết phải có một cơ cấu sinh viên bậc Đại học phù hợp
với yêu cầu phát triển kinh tế và vai trò của các chính sách hỗ trợ kinh tế.
Chơng II : Thực trạng cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học của Việt nam
và các chính sách hỗ trợ kinh tế hiện nay.
Chơng III : Phơng hớng điều chỉnh chính sách hỗ trợ kinh tế nhằm tạo sự
phù hợp giữa cơ cấu sinh viên đào tạo Đại học với yêu cầu phát triển kinh tế.
Chơng I
Sự cần thiết phải có một cơ cấu sinh viên Đại học phù
hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và vai trò của các
chính sách hỗ trợ kinh tế
I - Cơ cấu sinh viên hợp lý với sự phát triển kinh tế xã hội :
1. Khái niệm và phân loại cơ cấu sinh viên :
Chúng ta phải xây dựng một cơ cấu phải đảm bảo về số lợng và nội dung với điều
kiện kinh tế. Trong điều kiện Việt nam, tầng lớp nông dân chiếm một số lợng lớn
trong tổng số dân cả nớc, thì lợng sinh viên xuất thân từ tầng lớp nông dân phải
chiếm một tỷ trọng tơng ứng, làm cho tỷ lệ sinh viên đó tơng xứng với vị trí của
lực lợng lao động nông nghiệp trong lực lợng lao động của toàn xã hội. Do tính
chất, vai trò của cơ cấu sinh viên đào tạo trong chiến lợc phát triển, đổi mới hệ
thống giáo dục bậc Đại học nên cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học phải có sự
nhìn nhận chuẩn xác.
Cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học là trạng thái cấu thành nội bộ của hệ
thống giáo dục bậc Đại học. Cơ cấu sinh viên đó bao gồm: Cơ cấu ngành nghề
theo khối trờng, cơ cấu phân theo địa lý, cơ cấu giới tính, cơ cấu văn hoá, cơ cấu
độ tuổi...
Việc phân tích cơ cấu sinh viên bậc Đại học xét trên tất cả về các khía cạnh
về cơ cấu là một vấn đề rộng và phức tạp. Vì thế, bài viết chỉ xin tập trung vào hai
khía cạnh lớn của cơ cấu sinh viên.
* Cơ cấu sinh viên theo khối trờng học.
* Cơ cấu sinh viên theo vùng .
1.2. Phân loại cơ cấu sinh viên :
1.2.1. Cơ cấu sinh viên theo khối trờng học.
Cơ cấu sinh viên theo khối trờng học là trạng thái khối lợng sinh viên cấu
thành hệ thống giáo dục đào tạo bậc Đại học của nhóm trờng dựa trên tiêu thức
phân định nhóm trờng bậc Đại học của mỗi quốc gia.
1.2.2. Cơ cấu sinh viên theo vùng.
Trong tiêu thức cơ cấu sinh viên phân theo vùng, cơ cấu sinh viên đợc phân
làm hai tiêu thức :
1.2.2.1 Cơ cấu sinh viên phân theo vùng kinh tế
Cơ cấu sinh viên phân theo vùng kinh tế là trạng thái số lợng sinh viên cấu
thành cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học dựa trên tiêu thức phân định địa giới
vùng kinh tế của mỗi quốc gia.
1.2.2.2. Cơ cấu sinh viên phân theo khu vực thành thị - nông thôn.
trong tơng lai là sản phẩm của hoạt động giáo dục đối với thị trờng lao động.
Những nguyên nhân đó của đối tợng sinh viên đã tác động và tạo ra cho cơ cấu
sinh viên đào tạo bậc Đại học những đặc điểm.:
*Cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học hình thành và phát triển một cách
khách quan theo yêu cầu của thị trờng lao động. Điều kiện phát triển và thay đổi
của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển khac nhau đòi hỏi một sự đáp ứng
khác nhau về nhân lực của hệ thống giáo dục bậc Đại học. Các nhóm ngành trong
nền kinh tế thay đổi làm cho nhu cầu về nhân lực có trình độ kỹ thuật, quản lý cao
trong nền kinh tế thay đổi. Điều đó tác động đến sự lựa chọn nhóm ngành theo
học của sinh viên và cơ cấu sinh viên đào tạo trong hệ thống giáo dục bậc đại
học.Sự lựa chọn nhóm ngành học của sinh viên căn cứ vào triển vọng của ngành
nghề đó với các điều kiện ở hiện tại nh thu nhập,mức sống,cơ hội thăng tiến...
Trong điều kiện của Việt Nam ở những năm đầu tiên của thập kỷ 90, cơ chế kinh
tế thị trờng thực sự phát triển trong nền kinh tế nớc ta. Thời gian này, các ngành
kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh phát triển mạnh mẽ tạo ra nhu cầu về đội ngũ
cán bộ quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh và sự am hiểu các chính sách
quản lý. Điều kiên đó đã tạo ra cho các cán bộ quản lý làm việc trong lĩnh vực này
có một điều kiện về thu nhập, đời sống, cơ hội thăng tiến cao. Sự thể hiện trong
thu nhập, đời sống v.v của nhóm ngành này là tiêu chí cho sinh viên trong thời
gian đó lựa chọn khối trờng kinh tế - luật để theo học. Việc theo học cao làm cho
cơ cấu sinh viên của khối trờng kinh tế -luật trong giai đoạn này tăng cao, đồng
thời nó cũng tác động đến tỷ trọng của cơ cấu sinh viên trong các khối trờng khác.
Vậy cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học cũng thành cách khách quan theo đúng
tính chất của sản phẩm (sản phẩm giáo dục) trong thị trờng (thị trờng lao động).
* Cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học có độ trễ cao trong quá trình sản
xuất của hệ thống giáo dục bậc Đại học. Khoảng thời gian cho ra đời một sản
phẩm của hệ thống giáo dục bậc Đại học là 4 - 5 năm do đó cơ cấu sản phẩm đó
có một độ trễ tơng đơng với khoảng thời gian đó. Khoảng thời gian này đối với
các sản phẩm hàng hoá thông thờng thì nó vừa đủ khép kín một vòng đời sản
phẩm và bớc sang giai đoạn. Với sản phẩm giáo dục bậc Đại học thì đó chỉ là
thông qua tính hiệu quả làm việc của các thành viên trong cơ cấu khi làm việc.
Giáo dục bậc Đại học cung cấp cho nền kinh tế những con ngời lao động có trình
độ và khả năng thích ứng cao. Trình độ, năng lực, khả năng làm việc tốt đã mang
lại cho họ một năng suất cao trong lao động. Năng suất làm việc cao và tổ chức
công việc khoa học đã làm cho quy trình sản xuất đạt hiệu quả , tạo ra nhiều sản
phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội, nhờ đó quốc gia có thể đẩy mạnh tối
đa sự tăng trởng của mình và nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên trờng quốc
tế. Cơ cấu sinh viên đào tạo hợp lýkhắc phục sự thiếu hụtnguồn nhân lực có trình
độ kỹ thuật,quản lý cao trong hoạt động sản xuất của các ngành sản xuất. Điều đó
tạo ra sự phát triển cân đối về trình độ sản xuất của đội ngũ lao động trong các
ngành, đáp ứng yêu cầu phát triển cân đối với các ngành khác trong nền kinh tế.
Vì thực tế, trong nền kinh tế, các nhóm ngành sản xuất nằm trong sự liên hệ mang
tính tơng hỗ,một số ngành yếu kém trong trình độ sẽ gây ra tình trạng kém hiệu
quả trong sản xuất và không đáp ứng đợc yêu cầu của các nhóm ngành khác.
Nguyên nhân đó gây ra những cản trở trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia.
- Cơ cấu sinh viên đào tạo hợp lý tạo ra nguồn lực phát triển mới cho các
lĩnh vực khác của nền kinh tế. Hàng năm, lợng ngân sách Nhà nớc chi cho phát
triển giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng chiếm tỷ trọng lớn trong
đầu t phát triển. Cơ cấu sinh viên hợp lý sẽ tạo ra sự cân đối giữa đào tạo và sử
dụng giảm tối thiểu tình trạng thừa thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao giữa các
nhóm ngành. Điều đó tiết kiệm cho ngân sách đầu t giáo dục bậc Đại học và
đồng thời nguồn vốn đó có thể di chuyển sang các lĩnh vực khác của nền kinh
tế,mục đích tạo sự phát triển tốt hơn cho lĩnh vực đó trong những giai đoạn mà
yêu cầu phải có sự phát triển cao về số lợng và chất lợng.
- Cơ cấu sinh viên hợp lý góp phần giải quyết nạn thất nghiệp trong lực l-
ợng lao động làm phát triển về mặt xã hội. Đội quân thất nghiệp có trình độ có thể
ảnh hởng rất tiêu cực đến vấn đề xã hội.Đội ngũ này tham gia vào các tệ nạn xã
hội nh cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, gây rối kích động v.v làm cho xã hội ngày
càng phức tạp trong quá trình phát triển. Điều đó cũng xuất phát từ nguyên nhân
biến đổi mọi mặt của đời sống xã hội. Đổi mới và phát triển khoa học kỹ thuật
làm cho các yếu tố đời sống cơ cấu xã hội biến đổi về nội dung. Trong điều kiện
đó, sự hình thành và phát triển cơ cấu sinh viên đào tạo Đại học cũng không tránh
khỏi sự tác động của nhân tố khoa học kỹ thuật. Hàng loạt các ngành nghề đào tạo
mới ra đời nhằm tiếp thu những thành tựu của khoa học kỹ thuật và nâng cao đời
sống xã hội. Đáp ứng yêu cầu phát triển của những ngành nghề đó phải có một
đội ngũ lao động có trình độ và kỹ thuật cao, do đó đã tác động đến sự hình thành
và phát triển cơ cấu sinh viên trong các nhóm trờng Đại học. Trong thực tế, với
yêu cầu lực lợng cán bộ trong những ngành công nghiệp mới nh điện tử, viễn
thông thông tin học v.v đã thu hút một lợng lớn sinh viên theo học các ngành mới
này. Sự phát triển các ngành mới này làm cho số lợng sinh viên theo học các
ngành thuộc khối trờng kinh tế tăng lên, tỷ trọng cơ cấu sinh viên của khối trờng
này cũng tăng lên trong toàn bộ hệ thống giáo dục Đại học. Ngoài ra, trong bối
cảnh hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế trình độ quản lý kinh tế cũng mang
nhiều nội dung và sắc thái mới. Việc áp dụng tin học, các lý thuyết kinh tế mới
vào quản lý đã góp phần phát triển năng suất trong nghiều doanh nghiệp, đòi hỏi
sinh viên phải đợc trang bị một trình độ quản lý khoa học hơn, có áp dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật sẽ thu hút nhiều hơn lợng sinh viên theo học trong
các khối trờng kinh tế - luật.
Nhân tố xã hội : Sự tác động của các nhân tố xã hội trong việc hình
thành và phát triển cơ cấu sinh viên cũng thờng xuyên thay đổi trong
các giai đoạn phát triển khác nhau. Sự phát triển kinh tế xã hội theo h-
ớng kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa hoàn toàn khác so với định hớng phát triển kinh tế xã hội theo
cơ chế quản lý tập trung.Sự biến đổi làm thay đổi cơ cấu hành chính, các
khuôn khổ pháp luật để phù hợp với yêu cầu phát triển v.v. Điều này đòi
hỏi phải có một lực lợng lớn cán bộ am hiểu đợc luật pháp trong nớc
cũng nh luật pháp quốc tế. Điều đó đã thu hút sinh viên theo học các
trờng luật hay chuyên ngành về quan hệ quốc tế trong các nhóm trờng .
Nhân tố khác là mặt bằng dân trí, trong điều kiện xã hội mới, yêu cầu
ngành đặt ra một yêu cầu mới về nguồn nhân lực cho sự phát triển của nó. Do đó,
nói thu hút một lợng lớn nguồn nhân lực theo học các khối trờng của mà ngành nó
cung cấp nhân lực . Sự tăng giảm đã làm cho cơ cấu sinh viên phân theo tiêu thức
các khối trờng thay đổi tơng ứng. Trong sự phát triển của nền kinh tế, các vùng
kinh tế và khu vực trọng điểm kinh tế luôn đợc coi trọng do đó nó thu hút một l-
ợng lớn lao động có trình độ tơng ứng vào đây. Làm cho cơ cấu đào tạo thay đổi
về khu vực ,vùng kinh tế.Sự thay đổi trong yêu cầu về nguồn nhân lực đã làm cho
cơ cấu đào tạo đa dạng hơn về trình độ văn hoá, lứa tuổi..., phát triển theo sự phát
triển của lĩnh vực mà nó liên quan.
Cơ cấu sinh viên bậc Đại học còn chịu sự tác động của các nhân tố khác
nh chính trị văn hoá truyền thống, sự hợp tác quốc tế v.v những nhân tố này làm
cho cơ cấu sinh viên phát triển để thích nghi với yêu cầu trong nền kinh tế. Sự
phát triển đó đã hình thành cơ cấu đào tạo bậc Đại học theo nhóm ngành và theo
một số tiêu thức nh khu vực vùng kinh tế.
2.2. Chính sách hỗ trợ kinh tế nhằm điều chỉnh cơ cấu sinh viên.
Cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học hình thành một cách khách quan theo
nhu cầu của thị trờng lao động ở thời hiện đại, và độ trễ của thời gian đào tạo đã
làm cho cơ cấu sinh viên đào tạo Đại học có thể không đúng với yêu cầu của thị
trờng trong thời gian tới. Để cơ cấu đó phát huy hiệu quả cao trong việc đáp ứng
yêu cầu của thị trờng lao động thì Nhà nớc phải có sự can thiệp có chủ định nhằm
điều chỉnh cơ cấu sinh viên đó. Một trong những biện pháp xác định là chính sách
hỗ trợ kinh tế.
2.2.1. Chính sách đầu t giáo dục.
Giáo dục đào tạo theo nghĩa hẹp về học tập là bao gồm mọi dạng học tập
của con ngời dới bất kỳ hình thức nào. Trong phạm vi hẹp, giáo dục đào tạo đợc
chuyên môn hoá trong một tổ chức gọi là trờng học. Trong hệ thống giáo dục nớc
ta trờng học là trung tâm giáo dục quan trọng nhất, phổ biến và là nơi thu hút
nguồn đầu t ngân sách chủ yếu của Nhà nớc trong hoạt động đầu t cho giáo dục.
Hoạt động đầu t cho giáo dục luôn đợc các học giả đánh giá cao trong hoạt
động đầu t phát triển. Vì thế hoạt động đầu t giáo dục luôn đợc coi là sự đầu t cho
số lợng và tỷ trọng trong nguồn vốn đầu t phát triển của ngân sách, nhằm đáp ứng
sự định hớng trong phát triển giáo dục của chúng ta hiện nay. Giáo dục đào tạo
bậc Đại học cũng chịu sự ảnh hởng đó. Nguồn vốn đầu t tăng giúp cho việc mở
rộng các cơ sở trờng lớp thu hút lợng lớn sinh viên theo học. Sự tăng lên về số l-
ợng sinh viên đã ảnh hởng đến cơ cấu sinh viên. Tỷ trọng sinh viên trong nhứng
nhóm ngành mới và những nhóm trờng có cơ sở thuận tiện thích ứng cao với nhu
cầu học tập của sinh viên sẽ tăng lên. Đầu t nguồn vốn xây dựng các khối trờng
trọng điểm qua việc tăng chỉ tiêu đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất cho sinh viên
v.v. Đó chính là sự tác động của hoạt động đầu t giáo dục tới cơ cấu sinh viên theo
khối trờng với cơ cấu sinh viên phân theo vùng, trong đó là cơ cấu sinh viên phân
theo khu vực thành thị - nông thôn và các vùng kinh tế thì chính sách đầu t giáo
dục bậc Đại học sẽ phát triển hình thức xây dựng các trờng Đại học tại chính khu
vực và vùng kinh tế đó. Qua cách làm đó đã thu hút lợng sinh viên trong các khu
vực và vùng kinh tế đó theo học, dần dần khắc phục tình trạng mất cân đối giữa cơ
cấu sinh viên phân theo vùng kinh tế trọng điểm với các vùng kinh tế khác và khu
vực nông thôn thành thị. Đồng thời đối với vùng đã có trờng Đại học, có thể dùng
nguồn vốn đầu t giáo dục Đại học để mở rộng và tăng quy mô đào tạo trong các
khối ngành thuộc các trờng.
Vậy hoạt động của các chính sách đầu t giáo dục bậc Đại học đã tác động
nhằm điều chỉnh cơ cấu sinh viên trong thời khối trờng và các vùng kinh tế,
thông qua việc sử dụng nguồn vốn đầu t để phát triển cơ sở hạ tầng và các điều
kiện mới cho việc học tập của sinh viên.
2.2.2. Chính sách khuyến khích hỗ trợ vật chất.
Giáo dục đào tạo Đại học là một trong những hoạt động tạo ra phúc lợi xã
hội mà mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hởng thụ lợi ích do nó đem lại.
Khi nền kinh tế phát triển thì hoạt động phúc lợi đó không chỉ phát triển về số l-
ợng mà còn tăng lên về chất lợng tạo ra lợi ích cao hơn cho mọi ngời. Nhng bên
cạnh đó, sự phân cực về đời sống trong nền kinh tế đã làm cho một số ngời không
đợc hởng hoạt động phúc lợi đó. Điều đó xảy ra với tầng lớp nông dân, gia đình ở
các vùng kinh tế có điều kiện khó khăn.Để khắc phục tình trạng này, chúng ta
Đối với sinh viên theo khu vực thành thị nông thôn hay vùng kinh tế, chính
sách khuyến khích hỗ trợ vật chất đã điều chỉnh cơ cấu sinh viên giữa các khu vực
và vùng kinh tế nhằm xây dựng một cơ cấu hợp lý với điều kiện kinh tế và yếu tố
xã hội. Thông qua các hình thức miễn giảm học phí, cho vay tín dụng với sinh
viên nghèo, thuộc khu vực nông thôn đã tạo điều kiện cho sinh viên thuộc các đối
tợng này khắc phục sự hạn chế trong điều kiện tài chính để theo học. Đồng thời,
các chính sách trên cũng tạo điều kiện cho họ vơn lên trong học tập với kết quả
cao. Sự tác động đó đã làm cho một lợng lớn đối tợng học sinh trong các khu vực
khó khăn, vùng kinh tế xa xôi theo học. Sự tăng lên về số lợng sinh viên trong các
vùng, khu vực này đã làm giảm sự cách biệt về tỷ trọng của cơ cấu sinh viên giữa
các vùng, khu vực. Qua đó tạo điều kiện về nhân lực có trình độ kỹ thuật, quản lý
cao cho các vùng kinh tế khó khăn và khu vực nông thôn. Đồng thời sự tăng tỷ
trọng cơ cấu sinh viên của các vùng còn tạo điều kiện nâng cao dân trí của vùng
đó và phát triển các điều kiện xã hội có liên quan.
Vậy chính sách khuyến khích hỗ trợ vật chất đã tác động đến việc điều
chỉnh cơ cấu sinh viên bằng cách giúp đỡ họ khắc phục những khó khăn trong
điều kiện tài chính để theo học. Nó khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các
đối tợng đều vào theo học các khối trờng thiết yếu cho sự nghiệp phát triển đất n-
ớc. Nó góp phần tạo ra cơ cấu sinh viên hợp lý giữa các khối trờng, khu vực nông
thôn - thành thị, các vùng kinh tế.
chơng II
Thực trạng cơ cấu sinh viên đào tạo
bậc đại học của Việt nam và các chính sách
hỗ trợ kinh tế hiện nay
Sự phát triển nhanh của các nớc Châu á và hệ thống giáo dục của các nớc
này đã đợc thế giới chứng kiến từ 3 thập kỷ gần đây. Số lợng trẻ em đến trờng
hàng năm và số lợng ngời theo học ở các cấp học hàng năm tăng lên, chất lợng
giáo dục đào tạo cũng không ngừng đợc nâng cao. Sự phát triển đó làm cho nhận
thức của học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học, sinh viên các trờng Đại học -
Cao đẳng ở một số nớc Châu á, đặc biệt ở khu vực Đông Nam á có thể ngang
Số lợng đào tạo trong hệ thống giáo dục đào tạo bậc Đại học của chúng ta
đã đạt đợc một số kết quả khả quan trong thời gian qua. Theo số liệu thống kê của
Bộ giáo dục đào tạo thì trong giai đoạn từ 1991 - 1992 đến 1995 - 1997 số lợng
sinh viên chính quy bậc Đại học tăng 2,7 lần . Năm học 1997 - 1998 con số đào
tạo bậc Đại học của chúng ta đạt ở mức 194.499 ngời, với mức 25,35 sinh viên
bậc Đại học lợng chính quy tên 1 vạn dân, và 74 sinh viên (cả chính quy và không
chính quy bậc Đại học - Cao đẳng) trên 1 vạn dân trong năm 1996. Trong khi đó,
số lợng này chỉ đạt 11,5 ngời và 29 ngời trong năm 1992.
Bên cạnh những thành tựu đã làm đợc, trong hệ thống giáo dục bậc Đại học
còn một số hạn chế.
* Sự mất cân đối trong cơ cấu sinh viên đào tạo bậc Đại học đang xảy ra.
Nhận định về vấn đề này, văn kiện Hội nghị lần thứ hai - Ban chấp hành Trung -
ơng khoá VIII có nêu : "Cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội, cơ cấu
vùng của đội ngũ sinh viên, học sinh các trờng Đại học có sự cha hợp lý". Cụ thể,
lợng sinh viên trong các khối trờng kinh tế - luạt, ngoại ngữ tăng nhanh ồ ạt,
trong khi đó lợng sinh viên theo học các khối trờng S phạm, khoa học cơ bản,
nông lân ngũ nghiệp hàng năm tăng chậm gây ra hiện tợng cơ cấu sinh viên của
các khối trờng kinh tế - luật chiếm tỷ trọng cao và các khối trờng khác thì ngợc
lại.
* Tỷ trọng đào tạo bậc Đại học không cần xứng với các cấp đào tạo khác.
Cơ cấu đào tạo lực lợng lao động có trình độ của ta theo cơ cấu Đại học - Cao
đẳng /Trung học chuyên nghiệp/Công nhân kỹ thuật đi theo hình tháp ngợc. Quy
mô đào tạo bậc Đại học trong cơ cấu chiếm tỷ lệ cao, trong khi lực lợng tốt nghiệp
trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật là ít. Trong các năm 1995 - 1996 cơ
cấu lao động có trình độ phân theo tiêu thức Đại học - Cao đẳng /Trung học
chuyên nghiệp/ Công nhân kỹ thuật của ta là 1/1,61/4,3 và trong năm 1997 thì cơ
cấu này là 1/1,33/4,17. Cơ cấu lao động của ta so với mức chuẩn về cơ cấu lao
động đợc đào tạo của các nớc phát triển là 1/4/10 thì chúng ta thừa một lợng lớn
cán bộ bậc Đại học trong cơ cấu lao động qua đào tạo và thiếu trầm trọng ngời
trực tiếp làm việc. Sự mất cân đối trong cơ cấu lao động qua đào tạo của chúng ta
2
3
4
5
6
7
Kỹ thuật công nghệ
Khoa học cơ bản - Ngoại ngữ
Nông lâm ng nghiệp
Kinh tế - Luật
Y tế - thể thao
Văn hoá - nghệ thuật
S phạm
(Nguồn - Viện chiến lợc - Bộ kế hoạch đầu t )
Ngoài 7 nhóm trờng thì trong số lợng sinh viên đào tạo bậc Đại học còn có
số lợng sinh viên đào tạo trong khối Quân đội an ninh.
Nhận định về các phân loại này ta thấy nó mang tính tổng quát vì trong
thực tế cách phân định cha phân loại đợc hoàn toàn về tính chất của các nhóm
ngành trong các trờng : Ví dụ khối ngành kinh tế thì xét trong một số trờng khoa
học kỹ thuật nh Giao thông, Xây dựng nhóm ngành đó là có. Nếu xếp trong khối
kinh tế thì không phù hợp vì 80% nội dung học là liên quan đến giao thông, xây
dựng do đó đặt nó trong khối trờng Giao thông và Xây dựng.
Bảng 2 : Số lợng sinh viên chính quy đào tạo bậc Đại học giai đoạn từ năm học 1993 - 1994 đến 1997 - 1998
Nguồn - Số liệu thống kê Đại học - Bộ giáo dục đào tạo
STT Khối trờng
1993 - 1994 1994 - 1995 1995 - 1996 1996 - 1997 1997 - 1998
Số lợng
(ngời)
Tỷ lệ
(%)
chính quy bậc Đại học qua các năm học 1993 - 1994 đến năm học 1997- 1998,số
lợng sinh viên đào tạo bậc Đại học đã có sự tăng cao. Với con số tuyệt đối, tổng
sinh viên đào tạo chính quy trong 7 khối trờng (chủ yếu) tăng gấp 2 lần và ở mức
xấp xỉ 100 ngàn ngời (99863 ngời) trong giai đoạn từ năm học 1993 - 1994 đến
năm học 1997 - 1998. Số lợng của một số khối trờng tăng cao nh S phạm tăng 2,87
lần, Kinh tế - luật tăng 2,13 lần, Kỹ thuật công nghiệp tăng 1,969 lần. Kết quả
đào tạo đó cho thấy.
- Sự đáp ứng của hệ thống giáo dục bậc Đại học với yêu cầu về lao động có
trình độ kỹ thuật, quản lý cao của nền kinh tế trong giai đoạn hiện tại. Nó thể hiện
ở sự tăng cao của sinh viên trong khối Kinh tế - luật, Kỹ thuật công nghiệp. Nền
kinh tế mở cửa, hợp tác đầu t với nớc ngoài đã thu hút một lợng lớn các công ty và
tổ chức nớc ngoài liên kết và hợp tác làm ăn với chúng ta. Điều đó làm cho nhu
cầu về nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao tăng lên nhằm đáp ứng yêu câù về
trình độ trong việc sử dụng các thiết bị máy móc có liên quan, do đó nó làm cho
số lợng sinh viên đào tạo bậc Đại học trong khối trờng Kỹ thuật công nghiệp tăng
cao. Số lợng sinh viên đào tạo của khối trờng này trong năm học 1993 - 1994 chỉ
là 29344 ngời thì đến năm 1997 - 1998 con số đó lên đến 57789 ngời. Trong đó,
số lợng sinh viên đào tạo trong các nhóm ngành công nghệ mới nh tin học, điện
tử, bu chính viễn thông v.v tăng cao hàng năm trong tổng số sinh viên của khối tr-
ờng. Về quản lý kinh tế, nhu cầu về lực lợng cán bộ quản lý có trình độ chuyên
môn cao cũng đã đợc đáp ứng phần nào với sự tăng lên của số lợng sinh viên đào
tạo của khối trờng này, Trong năm học 1993 - 1994, số lợng sinh viên trong khối
kinh tế - luật là 19537 ngời thi đến năm học 1997 - 1998 con số đó lên đến 41625
ngời. Điều đó cho thấy sự đáp ứng nhu cầu về nhân lực qua đào tạo bậc Đại học
của giáo dục bậc Đại học thông qua sự chuyển hớng sang đào tạo mạnh nguồn
nhân lực mà thị trờng lao động cần.
- Số lợng sinh viên đào tạo tăng lên cũng phản ánh một phần sự tăng một
cách có chiều sâu trong trình độ dân trí của ngời dân. Vì trong khoảng thời gian tr-
ớc trong quan niệm học của các cái nhân là để biết đọc, viết theo nghĩa thông
22
1997
94,663
104,558
128,739
151,860
194,499
-
10,48
23,13
17,96
8,08
8,07
8,84
9,5
9,34
8,15
(Nguồn:Niên giám thống kê năm 1997
Số liệu thống kê Bộ Đại học )
* Cách tính tốc độ tăng liên hoàn
Pt - P(t-1)
23
t=
P(t-1)
Trong đó :
t : là tốc độ tăng liên hoàn (%)
Pt : là số lợng sinh viên năm t (ngời).
P(t-1) : là số lợng sinh viên năm t -1 (ngời).
Tốc độ tăng liên hoàn của số lợng sinh viên đào tạo bậc Đại học tăng khá
cao thúc đẩy sự tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo của chúng ta hàng năm trong việc
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Theo FM Harbison, tốc độ tăng nhu cầu lao
Bảng 4 : Biểu đồ tỷ trọng cơ cấu sinh viên các khối trờng qua các năm
Sự cha phù hợp đó thể hiện qua một số nhóm trờng nh Nông lâm ng nghiệp,
Khoa học cơ bản, Kinh tế - Luật. Trong điều kiện hiện tại của nớc ta và trong thời
gian tới ,vai trò của nông nghiệp và các ngành lâm, ng nghiệp vẫn chiếm một vị trí
quan trọng trong phát triển nền kinh tế, vì số lợng dân số ở vùng nông thôn chiếm
80% và lực lợng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp xấp xỉ 72% lực lợng lao
động của cả nớc. Nhng cơ cấu đào tạo đội ngũ có trình độ chuyên môn cao trong
lĩnh vực này lại chiếm tỷ trọng không cao. Số lợng sinh viên đào tạo trong khối tr-
ờng Nônglâm ng nghiệp trong năm học 1993 - 1994 chỉ đạt 9701 ngời trong tổng
số 94.636 sinh viên của cả nớc, đến năm học 1997 - 1998 con số đó cũng chỉ đạt
16596 ngời trong tổng 194.499 ngời. Số lợng đào tạo đó làm cho tỷ trọng của cơ
cấu sinh viên đào tạo trong khối trờng này chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn hệ
25
0%
20%
40%
60%
80%
100%
1993-
1994
1994-
1995
1995-
1996
1996 -
1997
1997-
1998
Sư phạm