Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời tổng thống George W Bush - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Nguyễn Lan Hương SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA
KỲ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG GEORGE W. BUSH
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Thiết Sơn Hà Nội – tháng 4 năm 2008

31
1.1.2.4. Về quân sự
35
1.1.2.5. Về khoa học công nghệ
36
1.2. Giới thiệu sơ lƣợc về học thuyết Bush
37
1.2.1. Từ sự cạnh tranh giữa các cường quốc chuyển sang cuộc chiến chống khủng bố
40
1.2.2. Chính sách “rảnh tay” và học thuyết đánh đòn phủ đầu
42
CHƢƠNG 2. NHỮNG ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TỔNG THỐNG
GEORGE W. BUSH
46
2.1. Điều chỉnh về mục tiêu và các ƣu tiên trong chính sách đối ngoại
46
2.1.1. Thay đổi thứ tự các ưu tiên
46
2.1.1.1. Ưu tiên của Tổng thống Clinton
46
2.1.1.2. Ưu tiên của Tổng thống G. Bush
47
2.1.1.3. Sự điều chỉnh các ưu tiên của Tổng thống G. Bush
49
2.1.2. Từ „mở rộng các nền dân chủ thị trường‟ của Tổng thống Clinton sang cuộc
chiến chống khủng bố toàn cầu của Tổng thống G. Bush
55
2.1.2.1. „Mở rộng các nền dân chủ thị trường‟ của Tổng thống Clinton
55


82
2.3. Cơ sở của sự điều chỉnh chính sách của Tổng thống G.W. Bush
85
2.3.1. Quan điểm của Tổng thống Clinton: đánh giá tình hình quốc tế và vai trò của
Hoa Kỳ
86
2.3.2. Quan điểm của Tổng thống G.W. Bush: đánh giá tình hình quốc tế và vai trò
của Hoa Kỳ
87
2.3.3. Những điều chỉnh trong quan điểm nhận thức của Tổng thống G.W. Bush
89
CHƢƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔNG THỐNG G.W. BUSH ĐIỀU CHỈNH CHÍNH
SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ VÀI NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
95
3.1. Tác động của những điều chỉnh chính sách đối ngoại của Tổng thống G.W. Bush
95
3.1.1. Tác động tới thế giới
95
3.1.1.1. Tới nền kinh tế thế giới
95
3.1.1.2 . Tới an ninh quốc tế
101
3.1.2. Tác động tới khu vực Châu Á
104

3
3.1.3. Tác động tới Việt Nam
107
3.1.3.1. Lợi ích của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á
107

BTA: Hiệp định thương mại song phương
CSĐN: Chính sách đối ngoại
EU: Liên minh châu Âu
GDP: Tổng sản phẩm quốc dân
IMET: Chương trình Giáo dục và đào tạo quân sự quốc tế
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
LHQ: Liên hợp quốc
MCA: Quỹ thách thức thiên niên kỷ
NATO: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NDS: Chiến lược quốc phòng toàn dân
NSS: Chiến lược an ninh quốc gia
QDR: Tổng quan quốc phòng bốn năm một lần
WB: Ngân hàng thế giới
WMD: Vũ khí huỷ diệt hàng loạt
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều chỉnh chính sách đối ngoại là một hiện tượng dành được sự quan tâm
thích thú của nhiều nhà khoa học chính trị cũng như những người làm công tác thực
tiễn trong quan hệ quốc tế. Khi sự điều chỉnh chính sách đối ngoại diễn ra thường
kéo theo tác động lớn tới các chủ thể bên ngoài, nhất là khi sự điều chỉnh chính sách
đó lại là của một siêu cường như Hoa Kỳ.
Với tiềm lực kinh tế và chính trị của mình, Hoa Kỳ có vai trò rất quan trọng
trong việc định hình các mối quan hệ quốc tế. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi
xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia, việc hoạch định chính sách và điều chỉnh chính sách đối

của TS Lê Khương Thuỳ (2003) … Tuy nhiên còn ít công trình nghiên cứu chính
sách đối ngoại Mỹ tập trung giai đoạn sau khi G. Bush lên nắm quyền. Chỉ có một
số bài báo và tạp chí nghiên cứu về chính sách đối ngoại của G. Bush: Chính sách
đối ngoại cứng rắn của chính phủ Bush và những hệ luỵ của Vũ Văn Hoà (2002),
Một số suy nghĩ về chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời kỳ tổng thống G. W. Bush
của Nguyễn Thái Yên Hương (2001), Điều chỉnh chính sách của Mỹ một năm sau
sự kiện 11/9 của Lê Linh Lan (2002), Chính sách đối ngoại Mỹ dưới chính quyền
tổng thống G.W. Bush trước vụ khủng bố 11/9 của Trần Bá Khoa (2001)… Hầu hết
các công trình này mới chỉ phác thảo được những đường nét cơ bản trong chính
sách đối ngoại của tổng thống G. Bush mà chưa nghiên cứu sâu sắc và tập trung vào
vấn đề điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong hai nhiệm kỳ của tổng
thống Bush, những tác động của nó đối với thế giới, khu vực và Việt Nam, đặc biệt
chưa làm bật được những nét điều chỉnh của tổng thống G. Bush so với B. Clinton.
Ngoài nước:
Có nhiều công trình nghiên cứu của cả các học giả trong và ngoài nước Mỹ
với nhiều quan điểm khác nhau về chính sách và điều chỉnh chính sách đối ngoại
của Hoa Kỳ: chẳng hạn những công trình nghiên cứu về học thuyết Bush, nghiên
cứu so sánh chính sách đối ngoại của Bush trong lịch sử chính sách đối ngoại Hoa
Kỳ, tác động của chính sách của Hoa Kỳ đối với việc mở rộng NATO, sự phát triển

7
ở Nam Mỹ, Châu Phi và Trung Đông, các vấn đề Mỹ và Đông Á, các mối quan hệ
giữa các nước lớn Những công trình trên nghiên cứu khá toàn diện chính sách và
điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, tác động của nó đến đời sống chính trị
và quan hệ quốc tế; nhưng vẫn còn ít công trình đề cập trực tiếp đến sự tác động của
chính sách của Mỹ đến sự phát triển ở khu vực Đông Nam Á và Việt Nam. Dưới
đây chúng ta sẽ điểm qua một số công trình nổi bật nghiên cứu những điều chỉnh
CSĐN của tổng thống G. Bush:
Các học giả ủng hộ học thuyết Bush đưa ra giải thích 11/9 đánh dấu sự bắt đầu
thời kì mới trong lịch sử: đe doạ mới đòi hỏi chiến lược an ninh quốc gia mới nhằm

vậy gây nguy hiểm cho lợi ích và lí tưởng của Hoa Kỳ.
Ngược với Kenedy và Leffler, John B. Judis, biên tập viên cho tờ New
Republic coi học thuyết Bush đánh dấu một sự thay đổi triệt để so với chủ nghĩa
Wilson [62]. Theo Judis, trong khi Bush cha và Clinton theo đuổi hứa hẹn về hoà
bình và sự thịnh vượng trong một trật tự thế giới mới với hệ thống an ninh tập thể
và nền kinh tế mở toàn cầu thì Bush lại chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Cộng hoà.
Ngược với Judis, John Lewis Gaddis phân biệt Bush với Wilson và di sản đối
ngoại của Hoa Kỳ từ thế kỉ XIX và XX. Trong cuốn Surprise, Security and the
American Experience (2004) ông phân tích sợi dây dẫn truyền thống này từ John
Quincy Adam tới Bush con [51, 52]. Dù đôi khi có chỉ trích Bush, Gaddis nói chung
ca ngợi NSS của Bush như sự tích hợp các truyền thống đối ngoại của Hoa Kỳ.
Giống như Kenedy, Gaddis tập trung vào mục tiêu hơn là biện pháp, ca ngợi các
mục tiêu do Bush đề ra mà không tính tới chi phí và khoảng cách giữa mong đợi và
kết quả thực tiễn. Gaddis bỏ qua những hậu quả nguy hiểm mà học thuyết Bush sẽ
mang lại. Gaddis cũng không giải thích tại sao những đe doạ sau 11/9 quá mới tới
mức cần từ bỏ chiến lược can dự và kiềm chế. Ông cũng không nhận thấy rằng lập
luận về sự kế thừa liên tục trong chính sách đối ngoại của Bush sẽ không phải là
luận điểm hợp lí để biện giải cho đại chiến lược mới của Bush, mà cần tìm ra sự
khác biệt giữa quá khứ và tương lai. Gaddis cũng không tìm ra được luận điểm biện
minh cho cuộc chiến tranh của G.W. Bush. Lôgic mà Gaddis tìm ra là sai lầm, lấy
người Mỹ làm trung tâm mà bỏ qua tác động với thế giới trong tương lai.

9
Về chủ nghĩa đơn phương và đa phương, cả Judis và Gaddis đều đúng khi cho
rằng Wilson theo thiên hướng chủ nghĩa đa phương còn Bush theo thiên hướng chủ
nghĩa đơn phương, nhưng Gaddis quên điều khác biệt quan trọng là Wilson kết hợp
cả chủ nghĩa đơn phương và đa phương trong khi Bush thích hành động một mình.
Robert A. Divine nhận thức được vấn đề tập trung vào mục tiêu trong khi hạ
thấp vai trò biện pháp thực hiện chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ [40]. Divine phê
phán Bush trong khi theo đuổi mục tiêu kiểu Wilson đã không tính tới những kết

Iraq. Nó khai thác các biện pháp kiểu Jackson để hoàn thành các mục tiêu kiểu
Wilson. Đồng thời Mead lại hi vọng rằng chi phí sẽ tránh được và giống Leffler
rằng đánh giá tốt sẽ bù đắp cho khiếm khuyết cố hữu của CSĐN của chính quyền
Bush [76].
Mead và Lefler cổ vũ cho rằng những mục tiêu kiểu Wilson của Bush là đúng
đắn và việc sử dụng vũ lực không bị hạn chế bởi luật quốc tế, không có khả năng
nào thách thức được CSĐN của chính quyền Bush. Tự Mead đã rời bỏ luận điểm đã
từng đưa ra là ủng hộ tính kiềm chế kiểu Jefferson coi nó như sửa đổi có lợi cho
việc giành quyền lực quốc tế của Bush. Mead trở nên quá cực đoan về những gì mà
ông ta từng chỉ trích sẵn sàng lạm dụng vũ lực nhân danh các giá trị của nền văn
minh phương Tây.
McDougall thì hoàn toàn nhận thức được tính thuyết phục của chủ nghĩa lí
tưởng trong lịch sử Mỹ, đặc biệt là trong chính sách đối ngoại Mỹ, ông chống lại
việc ủng hộ học thuyết Bush sau 11/9. Ông không tin rằng Hoa Kỳ nên thúc đẩy dân
chủ hoá Iraq. Cân bằng giữa mục tiêu và biện pháp, Hoa Kỳ nên theo đuổi một mục
tiêu hiện thực trong khả năng có giới hạn của mình [75].
Dù vấn đề chính sách đối ngoại của tổng thống G.W. Bush có mang tính cách
mạng hay không vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi trong giới học thuật thì rõ ràng
chính sách đó chắc chắn mang trong mình dấu ấn của hoàn cảnh quốc tế mới, môi
trường nội bộ Hoa Kỳ đang thay đổi, thể hiện dấu ấn cá nhân của tổng thống G.
Bush và những xu hướng nhận thức của giới lãnh đạo chính quyền G. Bush khác so
với chính quyền Clinton. Hoàn cảnh thay đổi, con người thay đổi mang lại sự điều

11
chỉnh chính sách đối ngoại mới. Ngay cả bản thân chính sách đối ngoại của tổng
thống G. Bush cũng đã có sự điều chỉnh trong quá trình triển khai trong thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần làm sáng tỏ tác động tình hình quốc tế,
trong nước, nhận thức giới lãnh đạo Mỹ dưới chính quyền G. Bush tạo ra những
điều chỉnh chính sách đối ngoại của chính quyền G.W. Bush giống và khác gì so với
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích thực trạng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai
đoạn hiện nay cũng như hệ thống hoá các luận điểm so sánh đối chiếu chính sách
đối ngoại của hai tổng thống G. Bush và B. Clinton. Luận văn đưa ra những giải
thích khoa học tại sao lại có những điều chỉnh đó trên cơ sở bối cảnh quốc tế, bối
cảnh nước Mỹ và nhận thức của giới lãnh đạo Mỹ dưới chính quyền Bush. Đây
cũng là căn cứ để đưa ra những dự báo về chiều hướng trong chính sách đối ngoại
của Hoa Kỳ trong thời gian tới, từ đó làm cơ sở đưa ra dự báo cho những tác động
của nó tới quốc tế và Việt Nam và đưa ra đối sách phù hợp. Luận văn đóng góp vào
việc nghiên cứu một hiện tượng đáng quan tâm trong quan hệ quốc tế - điều chỉnh
chính sách đối ngoại. Luận văn góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham
khảo phục vụ cho những độc giả quan tâm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu
luận văn gồm các phần chính:
Chƣơng 1: Bối cảnh điều chỉnh chính sách đối ngoại của tổng thống
George W. Bush. Chương này sẽ đề cập tới bối cảnh quốc tế (những vấn đề về kinh
tế, chính trị thế giới, quan hệ quốc tế) và trong nước của Hoa Kỳ (những vấn đề
kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, quân sự, khoa học công nghệ) làm cơ sở nền tảng
cho sự ra đời chính sách đối ngoại của Bush. Đồng thời chương này cũng sẽ giới
thiệu về chính sách đối ngoại của Bush để tạo cơ sở tìm hiểu về sự điều chỉnh chính
sách đối ngoại của G. Bush so với B. Clinton

13
Chƣơng 2: Điều chỉnh chính sách đối ngoại của tổng thống George W.
Bush. Nội dung phần này tập trung vào những điều chỉnh của G. Bush so với B.
Clinton trên cơ sở các vấn đề: về các mục tiêu, ưu tiên (thứ tự các ưu tiên, vấn đề
dân chủ và cuộc chiến chống khủng bố, thúc đẩy dân chủ) cũng như phương thức

Kinh tế thế giới hiện nay có hai đặc điểm chính. Đặc điểm thứ nhất là sự
chuyển hóa nền kinh tế thế giới sang nền kinh tế tri thức. Đặc điểm này đã đưa đến
những hệ quả sau đây: (i) tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thay đổi về
chất kéo theo sự thay đổi về phương thức sản xuất, cung cách quản lý, làm ăn, cách
sống; (ii) thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc ngay cả khi nền kinh tế có sự xáo
trộn khó lường; (iii) không làm triệt tiêu quy luật phát triển không đồng đều, mà
ngược lại, còn làm tăng thêm rõ hơn, càng phức tạp hơn, đồng thời làm tăng khoảng
cách giữa nước phát triển và đang phát triển; (iv) tạo cơ hội cho các nước khắc phục
sự nghèo nàn, lạc hậu, rút ngắn khoảng cách phát triển, nhưng đồng thời cũng tạo ra
những thách thức lớn do sự thiếu vốn, tình trạng nghèo nàn lạc hậu của khoa học kĩ
thuật và còn do các vấn đề xã hội; (v) làm cuộc chạy đua kinh tế, khoa học công
nghệ giữa các nước diễn ra quyết liệt hơn, biến nó thành cuộc chạy đua nổi trội,
điều đó buộc tất cả các nước đều phải điều chỉnh chiến lược phát triển mà trọng tâm
là sự cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục
Đặc điểm thứ hai, quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá có sự biến đổi về
chất, tăng cả về tốc độ, quy mô, về cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đa dạng, nhiều tầng

15
nhiều lớp. Toàn cầu hoá và khu vực hoá là hai quá trình có quan hệ tương hỗ biện
chứng, vừa xung đột, vừa bổ trợ thúc đẩy lẫn nhau, phản ánh tính đa dạng trong sự
phát triển của thế giới. Điều này dẫn tới các hệ quả: (i) thúc đẩy nền kinh tế thế giới
chuyển sang mô hình kinh tế tri thức; (ii) thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá diễn ra
trên nhiều lĩnh vực - chính trị, văn hoá, khoa học, giáo dục; (iii) làm tăng thêm sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các dân tộc, nhưng không làm triệt tiêu
mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa các quốc gia; (iv) tạo ra sự thách thức to lớn đối với
các quốc gia, dân tộc, gây nguy cơ làm xói mòn chủ quyền quốc gia; (v) tác động
mạnh tới nền chính trị quốc tế, trước hết là tác động tới khái niệm quốc gia (chủ
quyền, sức mạnh, lợi ích…); (vi) tạo ra khả năng kiềm chế xung đột và làm giảm
nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt.
Kinh tế là cơ sở hạ tầng, là nền tảng cho quan hệ chính trị, kinh tế thay đổi kéo

lớn về vũ khí hạt nhân chiến lược.
Thứ hai, việc tập hợp lực lượng: xuất phát từ lợi ích dân tộc, sự tăng cường
hợp tác của các nước có mục đích chung là tăng cường nội lực mà trước hết là để
phát triển kinh tế. Hình thức tập hợp lực lượng diễn ra gồm nhiều lớp đan cài, vừa
đấu tranh vừa hợp tác, vừa tranh thủ vừa kiềm chế trên quy mô toàn cầu. Hiện có
một số nét mới nổi trội - đó là sự cải thiện quan hệ trong tam giác Nga – Trung
Quốc – Ấn Độ. Tập hợp Nga – Trung Quốc được thực hiện thông qua Tổ chức Hợp
tác Thượng Hải. Tổ chức này có một cơ chế riêng, có Ban Thư ký và những thoả
thuận hợp tác cụ thể….Hiện nay thực tế đang hình thành tư tưởng thành lập khu vực
kinh tế Đông Á, bao gồm 10 nước Đông Nam Á cộng ba nước Đông Bắc Á là
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Tập hợp Á - Âu diễn ra thông qua cơ chế
ASEM. Trên thế giới đang diễn ra sự tập hợp lực lượng với những quan hệ nhằng
nhịt qua lại, liên kết với nhau trong từng vấn đề, trong từng thời điểm, ở từng địa
bàn… Điều đáng chú ý là mọi tập hợp bao giờ cũng ―liếc‖ về phía bên kia bờ Đại
Tây Dương, mà chưa ngoảnh mặt đi với Mỹ, vẫn coi Mỹ là đối tác quan trọng hàng
đầu. Điều này vừa là cơ hội vừa là thách thức cho Hoa Kỳ trong việc lựa chọn một
hình thức tập hợp lực lượng mới phù hợp với tình hình mới.

17
Thứ ba, nguy cơ chiến tranh huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, cục
bộ, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo gia tăng. Trong chiến tranh lạnh, trung bình
mỗi năm xảy ra khoảng 4 – 5 cuộc xung đột vũ trang, nhưng từ sau chiến tranh lạnh
tới nay, con số này đã tăng lên 34,5 cuộc. Số quốc gia có vũ khí hạt nhân hiện nay
khoảng 10 nước và có khoảng 30 quốc gia có công nghệ hạt nhân. Thông thường
các cuộc xung đột này thường xảy ra tại các quốc gia vùng xám. Vùng xám, vùng
bất ổn là khái niệm mới xuất hiện trong bối cảnh mới của các mối quan hệ quốc tế,
vì nó mang tính rộng rãi, phổ quát. Những vấn đề của vùng xám có sự giao thoa
giữa những vấn đề lớn của thế giới, giữa chiến tranh, xung đột và an ninh. Hiện vấn
đề này đang được đặt vào trọng tâm trong nghiên cứu lý thuyết quan hệ quốc tế.
Thứ tư, các vấn đề toàn cầu: môi trường, dịch bệnh, đói nghèo… trở thành sự

Loan. Sau vụ tấn công khủng bố 11/9, Mỹ càng quan tâm hơn tới khu vực này do
tồn tại các vấn đề liên quan tới người Hồi giáo và các nhóm khủng bố được cho là
có quan hệ với Al Qaeda.
1.3.1.2. Các xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế và quan hệ giữa các nước lớn
Chính những đặc điểm lớn về kinh tế, chính trị, an ninh trên đã tác động đến
sự hình thành các xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Bên cạnh một số xu thế
chính được hình thành sau chiến tranh lạnh, các xu thế sau đây vẫn tiếp tục phát
triển: Xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác; Xu thế vừa hợp tác vừa đấu tranh trong
sự cùng tồn tại hoà bình; Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá trong lĩnh vực kinh tế và
đời sống; Ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và
can thiệp từ bên ngoài của các dân tộc được nâng cao. Điều này làm tăng tính dân
chủ hoá trong quan hệ quốc tế…hiện nay. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, một
số xu thế nổi trội trong quan hệ quốc tế như sau:
Thứ nhất quan hệ quốc tế tiếp tục có xu hướng mở rộng và ngày càng phức
tạp. Xu hướng này được định hình là vì những yếu tố tác động chủ yếu tới quan hệ
quốc tế trong giai đoạn tới đều mạnh lên. Quan hệ quốc tế được định hình và phát
triển dựa trên hai nhóm nhân tố: nhóm nhân tố điều kiện và nhóm nhân tố tác động.
Nhóm nhân tố điều kiện gồm có: (i) Sự thừa nhận của các quốc gia về việc mở
rộng quan hệ quốc tế là hữu ích và cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mỗi

19
quốc gia; (ii) Những thể chế quốc tế, những tập quán quốc tế đã hình thành đủ điều
kiện cho việc phát triển quan hệ quốc tế; (iii) Hạ tầng cơ sở kỹ thuật cho việc mở
rộng quan hệ quốc tế như: thông tin, giao thông vận tải phát triển vượt bậc.
Nhóm nhân tố tác động gồm có: (i) Sự chủ động của các công ty tư bản mở
rộng hoạt động ra toàn thế giới ngày càng mạnh mẽ hơn. Xu hướng mở rộng này đã
tiến tới một cao trào được gọi là toàn cầu hoá từ sau chiến tranh lạnh; (ii) Chính
sách đối ngoại thúc đẩy sự thiết lập một trật tự thế giới mới của Mỹ đang được triển
khai tích cực; (iii) Chính sách cạnh tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc khác
như Tây Âu, Trung Quốc cũng được thể hiện quyết liệt; (iv) Chính sách mở rộng

gian mới này đang được các chủ thể phi nhà nước sử dụng với nhiều mục đích khác
nhau, trong đó có cả mục đích tốt và xấu. Đáng chú ý là các phong trào khủng bố sử
dụng rất nhiều website để tuyển mộ nhân lực và tuyên truyền.
Cho dù có những thay đổi sâu sắc như vậy trong hệ thống thế giới, song việc
bảo vệ và kiểm soát các không gian địa lý có vẻ vẫn tiếp tục là những động cơ nổi
bật của các nhà nước. Các nhà nước vẫn tồn tại trong các không gian vật lý và tiếp
tục chịu trách nhiệm bảo vệ chúng khỏi các mối đe doạ từ bên trong và bên ngoài.
Các nhà nước thực hiện việc bảo vệ các không gian này theo nhiều cách khác nhau,
phụ thuộc vào việc nhận thức mối đe doạ, các phương tiện bảo vệ sẵn có, và những
đánh giá của họ về môi trường an ninh nói chung. Sau khi Liên Xô tan rã, các nước
công nghiệp hoá nhanh chóng xác định lại môi trường an ninh và có những bước đi
cẩn trọng nhằm củng cố và cơ cấu tổ chức lại bên trong để giải quyết tốt hơn các
mối đe doạ mới nổi lên.
Các chủ thể phi nhà nước cũng phát triển với những tổ chức khủng bố có cơ
cấu tổ chức toàn cầu, đổi mới sự tuyên truyền, tăng ngân sách ngày càng nhiều dành
cho công nghệ và thậm chí chúng áp dụng cả những công nghệ mới nhằm tăng khả
năng giết hại con người, làm tăng hiệu quả trong cơ cấu tổ chức của chúng. Một số
tổ chức khủng bố hiện có khả năng giết hại dân thường hàng loạt và gây ra sự đổ vỡ
chiến lược.

21
Thứ hai, sự chi phối của nhân tố Mỹ và quan hệ nước lớn. Hiện nhân tố Mỹ
đang chi phối quan hệ quốc tế. Mặc dù sự chi phối này không tuyệt đối song vẫn đạt
tới mức định hình quan hệ quốc tế. Đặc điểm này hình thành từ điều kiện thuận lợi
cũng như CSĐN của Mỹ. Chính sách đối ngoại của Mỹ có những điểm mới, song
về cơ bản vẫn duy trì hai mục tiêu, mà mục tiêu bao trùm thứ nhất là xác lập địa vị
thống trị thế giới, thứ hai là không để cho một quốc gia nào hiện nay cũng như
trong tương lai gần có thể tranh chấp địa vị thống trị số 1 của Mỹ. Về phương cách,
Mỹ sử dụng ba trụ cột chính là: sức mạnh quân sự, thị trường tự do và cái gọi là dân
chủ, nhân quyền để thống trị thế giới.

chính phủ Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc và Nga. Tuy nhiên, xung đột giữa các
cường quốc vẫn còn nằm trong giới hạn, khó xảy ra đổ vỡ lớn vì cả Nga, Trung
Quốc và Mỹ đều không muốn đối đầu trực tiếp với nhau. Nga và Trung Quốc cần
tranh thủ Mỹ, còn Mỹ tuy có phần lấn át, song cũng cần sự hỗ trợ của Nga và Trung
Quốc trong một số vấn đề quốc tế.
Những thay đổi và tính phức tạp trong quan hệ giữa các nước lớn bị chi phối
bởi nhiều nguyên nhân, nhưng nổi bật nhất là do tương quan lực lượng giữa các
nước lớn đang thay đổi. Mỹ tuy ở thế mạnh hơn các đối thủ khác, nhưng cũng có
mặt hạn chế, khó có thể áp đặt sức mạnh của mình. Quan trọng hơn là Mỹ chưa chịu
từ bỏ ý đồ thiết lập bá quyền lãnh đạo thế giới, và để thực hiện ý đồ này, Mỹ luôn
thay đổi chiến lược cũng như sách lược Nhiều sự kiện cho thấy những bất ổn trong
quan hệ Mỹ – Nga, Mỹ – Trung đều bắt nguồn hoặc có nguyên nhân sâu xa từ sự
thay dổi trong chính sách của Mỹ. Nhiều xung đột, điểm nóng trên thế giới đều có
bàn tay can thiệp hoặc dính líu của Mỹ. Điều đó làm Nga và Trung Quốc lo ngại,
phản ứng lại Mỹ.
Trong quan hệ tứ giác Trung – Mỹ – Nga – EU cũng có những chiều hướng
thay đổi. EU (nhất là Pháp và Đức) thể hiện tính độc lập hơn với Mỹ, nhưng không
đối đầu với Mỹ, đồng thời vừa kiềm chế vừa tranh thủ Nga và Trung Quốc; ngược
lại, Nga và Trung Quốc cũng tranh thủ EU. Nga vừa đấu tranh chống lại mưu toan
của Mỹ và Tây Âu lấn át Nga ở Đông Âu và các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ,
vừa tìm cách hội nhập vào châu Âu và hợp tác với NATO. Sự điều chỉnh chiến lược

23
của các nước lớn đã tạo ra thế cân bằng mới trong quan hệ Nga – Mỹ, Mỹ – Trung,
Mỹ – Nhật – EU, Trung – Nhật…Quan hệ giữa các nước lớn luôn chuyển động,
biến đổi, thăng trầm, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh nhau, tất cả chỉ vì lợi ích
của riêng mỗi nước.
Trong tương lai gần, chắc chắn Mỹ vẫn còn giữ được vị trí siêu cường và chưa
thể có nước nào vượt qua được. Tuy vậy, tương quan lực lượng thay đổi ngày càng
sâu sắc do tác động của qui luật phát triển không đồng đều trong điều kiện ngày nay

nhiệm chức năng này (ví dụ Anh ở Sierra Lêon, Úc ở Đông Timor), điều này chứng
tỏ sự có lựa chọn trong việc sử dụng sức mạnh bá quyền của Hoa Kỳ.
Bản chất thay đổi của các cuộc xung đột và bản chất thay đổi của các chủ thể
trong môi trường quốc tế đang làm thay đổi môi trường an ninh quốc tế. Trong khi
xung đột vũ trang giữa các cường quốc không nổ ra thì sự mất ổn định kinh niên
dưới các hình thức xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo, phe phái lại tăng lên. Sự
phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt, sự tồn tại của những nhà nước có các hành vi
nằm ngoài tiêu chuẩn hành vi, sự nổi lên của mạng lưới khủng bố toàn cầu là những
điểm được đặc biệt nhấn mạnh trong một loạt các văn kiện của chính quyền Bush.
Khía cạnh đa chiều của các cuộc xung đột quốc tế không tránh khỏi tạo ra sự
lỏng lẻo và mơ hồ, khiến khó tạo ra các ưu tiên chính sách, tính phức tạp của thế
giới sau chiến tranh lạnh và những chiều hướng quan hệ quốc tế. Đặc biệt với Hoa
Kỳ, nó nêu lên một số vấn đề về bản chất chính sách bá quyền Hoa Kỳ nên thế nào,
liệu thời khắc một cực kéo dài bao lâu, các lợi ích quốc gia và ưu tiên của Hoa Kỳ
nằm ở đâu và những mối đe doạ nào gây ảnh hưởng cho các lợi ích quốc gia và ưu
tiên đó. Kết quả là, chính sách của Hoa Kỳ thiếu sự cố kết và trong nhiều trường
hợp mang tính phản ứng lại hơn là đi tiên phong thực hiện. Đặc trưng nổi bật của
việc Hoa Kỳ miễn cưỡng và can dự có lựa chọn vào quan hệ quốc tế liên tục làm gia
tăng mối lo ngại giữa các đồng minh của Mỹ về khả năng quyền lực lớn của Mỹ cho
phép Mỹ lui về tình trạng biệt lập nhằm giảm chi phí của việc trở thành bá quyền,
đồng thời tìm kiếm và áp đặt đơn phương các giải pháp một khi các lợi ích sống còn
của Hoa Kỳ bị đe doạ. Chính sách của chính quyền Bush mới càng làm tăng thêm

Trích đoạn Bối cảnh nước Mỹ Chủ nghĩa đơn phương và phương châm rảnh tay hành động Chuyển từ chiến lược kiềm chế sang chiến lược đánh đòn phủ đầu Điều chỉnh công cụ quân sự trong chính sách đối ngoạ Cơ sở của sự điều chỉnh chính sách của Tổng thống G.W Bush
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status