Quan hệ chính trị Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2005 - Pdf 25


QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM – HOA KỲ
GIAI ĐOẠN 1995 – 2005

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Trần Nam Tiến

Hà Nội – 2010
1
MỤC LỤC

THỰC TRẠNG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - HOA KỲ
(1995 – 2005)
2.1. Hoạt động ngoại giao thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển 42
2.1.1. Giai đoạn 1995 – 2000 42
2.1.2. Giai đoạn 2001 – 2005 45
2.2. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nhằm giải quyết hậu quả chiến tranh 55
2.2.1. Vấn đề POW/ MIA 55
2.2.2. Vấn đề chất độc da cam/dioxin 60
2.3. Vấn đề người Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ 64
2.3.1. Quá trình hình thành cộng đồng người Vi
ệt ở Hoa Kỳ 64
2.3.2. Quan hệ của cộng đồng người Việt với quê hương 65
2.4. Một số vấn đề còn tồn tại trong quan hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ 69
2.4.1. Vấn đề về ý thức hệ và văn hóa 69
2.4.2. Vấn đề về dân chủ và nhân quyền 72
2.4.3. Sự khác biệt về thể chế 77
2.4.4. Di sản chiến tranh và nhóm người Việt chống lại chế độ trong nước 78
CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM VÀ TRIỂN VỌNG QUAN HỆ
CHÍNH TRỊ VIỆT NAM – HOA KỲ TRONG NHỮNG
THẬP NIÊN TIẾP THEO CỦA THẾ KỶ XXI
3.1. Thành tựu đạt được từ sự phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 85
3.1.1. Quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 85
3.1.2. Các quan hệ khác 88
3.2. Những đặc điểm trong quan hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ 92
3.2.1. Sự tác động của yếu tố lịch sử 92
3.2.2. Tính hai mặ
t của mối quan hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ 93
3.2.3. Mẫu số chung của sự gặp gỡ, hợp tác cùng phát triển giữa hai dân tộc 94
3.2.4. Quan hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ chịu sự tác động của tình hình thế giới

Nam có thể khai thác “Nhân tố nước lớn” trong từng mối quan hệ
cụ thể tạo điều
kiện thuận lợi phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Ngày 11-7-1995, Hoa Kỳ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt
Nam. Lịch sử quan hệ giữa hai nước đã bước sang một trang mới. Kể từ đó, quan hệ
chính trị giữa hai nước đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm (1995 – 2005), quan hệ chính trị Việt Nam –
Hoa Kỳ đã có những bước tiến đáng kể. Đây là kết quả của những nỗ lực không
ngừng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam và Hoa Kỳ
vẫn đang tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ giữa hai nước vì
5
lợi ích chung của nhân dân hai nước. Vậy, điều gì đã làm cho mối quan hệ chính trị
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong giai đoạn 1995 – 2005 lại có bước phát triển đặc
biệt đến như thế? Tại sao mối quan hệ này lại diễn ra như vậy? Những yếu tố nào đã
chi phối nó và chúng ta có thể rút ra được từ những bài học kinh nghiệm lịch sử gì?
Giải quyết được những vấn
đề nêu trên có vai trò rất quan trọng đối với việc tiếp tục
đẩy mạnh sự phát triển quan hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2005
là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn.
Về phương diện lịch sử, việc nghiên cứu mối quan hệ chính trị Việt Nam –
Hoa Kỳ sẽ góp phần nêu bật tính tất yếu và ý nghĩa chiến lược của mối quan hệ này,
đồ
ng thời góp phần khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và nhà nước
ta, giúp chúng ta hiểu rõ hơn những thành tựu về công tác đối ngoại của Đảng và
nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới.
Về thực tiễn, việc nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc củng cố và tăng
cường mối quan hệ chính trị, hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa
Kỳ
trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Quan hệ

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ chính trị Việt Nam - Hoa Kỳ (1995 - 2000) là một đề tài mới, được
dư luận quan tâm, nhưng đến nay trong giới khoa học v
ẫn chưa có một công trình
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Trên thực tế, “quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”
giai đoạn sau khi bình thường hóa cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu, các chuyên
gia ngoại giao đề cập đến nhưng chỉ là từng lĩnh vực riêng biệt. Mặc dù vậy, đó
cũng là những tư liệu rất quan trọng.
Về sách, có thể kể đến Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ
của Đỗ Đức Định
(Nxb. Thế giới, 2000); Quan hệ kinh tế của Mỹ và Nhật Bản với Việt Nam từ năm
1995 đến nay của Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thị Như Hoa (Nxb. Chính trị quốc
gia, 2001); The Effect of the United State Granting MFN Status to Vietnam của
Emiko Fukase - Will Martin (Nhóm nghiên cứu phát triển của Ngân hàng Thế giới,
Washington D.C., USA, 17-11-1998); Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau chiến tranh
lạnh (1990-2000) của Lê Văn Quang (Nxb. Đại học Quốc gia TP.HCM, 2005);
Quan h
ệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng về phía trước của Nguyễn Mại (Nxb. Tri thức,
2008); Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Thực trạng và triển vọng của Trần Nam Tiến
(Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2010)… Các công trình trên chủ yếu phân tích,
7
đánh giá về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên cơ sở tổng quan của mối quan hệ này,
trong đó có đề cập đến quan hệ chính trị giữa hai nước.
Về Báo, Tạp chí có những bài như Quan hệ Việt - Mỹ sau bình thường hóa
(Tạp chí Công tác tư tưởng văn hóa, số 6-1997) và Những ghi nhận sau bình thường
hóa Việt - Mỹ (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 1-1997) của Nguyễn Hữu Cát; Bướ
c
tiến mới quan trọng trong quan hệ Việt – Mỹ của Đỗ Lộc Diệp (Tạp chí Châu Mỹ
ngày nay, số 2-1998); Một số nét về quan hệ nông nghiệp giữa Mỹ và Việt Nam
trong thời gian gần đây của Nguyễn Điền (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 5-1997);

bức tranh toàn cảnh về quan hệ hai nước. Sau cùng, chúng tôi tham khảo tư liệu từ
mạng internet, đặc biệt là website chính thức của các cơ quan đối ngoại và kinh tế
củ
a hai nước như: http://www.state.gov, http://viet.vietnamembassy.us,
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov
,… Trong đó, trên website của Đại sứ
quán Hoa Kỳ tại Hà Nội, Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, và Thương vụ Việt
Nam tại Hoa Kỳ có dành hẳn một chuyên mục để để cập về quan hệ giữa Việt Nam
và Hoa Kỳ.
Nhìn chung, qua tiếp cận các nguồn tư liệu, chúng tôi nhận thấy, hiện vẫn
chưa có một công trình nào nghiên cứu tập trung hoặc chuyên sâu về quan hệ chính
trị Việt Nam - Hoa Kỳ
giai đoạn 1995 - 2005. Do đó, trên cơ sở kế thừa những công
trình đã có, chúng tôi cố gắng phát triển thêm những gì chúng tôi tiếp cận được để
hoàn tất công trình nghiên cứu này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ
chính trị Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2005. Qua đó, luận văn tập trung
phản ánh quan h
ệ Việt Nam với Hoa Kỳ trên lĩnh vực chính trị. Việc nghiên cứu này
nhìn từ phía Việt Nam, và một số vấn đề liên quan đến chính trị như: Ngoại giao,
quốc phòng, an ninh, người Việt Nam định cư ở Hoa Kỳ. Trong đó có đề cập đến
những vấn đề cụ thể như: Vấn đề POW/ MIA, chất độc dioxin, “Hội chứng Việt
Nam”…
Về mặt thời gian, đề tài tập trung nghiên c
ứu mối quan hệ chính trị Việt Nam
– Hoa Kỳ giới hạn trong vòng 10 năm (1995 – 2005) với hai giai đoạn cụ thể:
+ 1995 – 2000: Quan hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những bước cải
thiện đáng kể trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là việc Hoa Kỳ tuyên bố bình thường hoá
9

hệ chính trị Việt Nam và Hoa Kỳ.
Chương 2: Thực trạng quan hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ (1995 – 2005)
Chương này giới thiệu toàn bộ diễn biế
n mối quan hệ chính trị Việt Nam -
10
Hoa Kỳ. Đặc biệt tập trung vào những sự kiện quan trọng của quan hệ hai nước
trong giai đoạn này, cụ thể là việc hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao và
các vấn đề nổi lên trong quan hệ chính trị Việt Nam và Hoa Kỳ. Bên cạnh đó,
chương này cũng chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ chính trị Việt Nam –
Hoa Kỳ.
Chương 3: Đặc điểm và triển vọng quan hệ
chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ trong
những thập niên tiếp theo của thế kỷ XXI
Chương này phân tích những thành tựu đạt được trên cơ sở sự phát triển của
quan hệ chính trị giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, từ đó rút ra những đặc điểm của mối
quan hệ này. Trên cơ sở đó, nêu ra triển vọng của mối quan hệ chính trị Việt Nam –
Hoa Kỳ. Và từ lĩnh vực chính trị
thúc đẩy các mối quan hệ khác phát triển. Để từ đó
có cái nhìn khách quan và đưa ra một số kiến nghị để mối quan hệ giữa 2 nước nâng
lên một tầm cao mới.

11
CHƯƠNG 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ
CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1995 – 20051.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.1.1. Sự vận động của thế giới đầu thập niên 90 của thế kỷ XX
Từ những năm cuối thập niên 80 đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến

Thứ hai, việc hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp
đổ là tổn thất lớn chưa từng có của phong trào cách mạng và phong trào xã hội chủ
nghĩa nói chung, chủ nghĩa xã hội hiện thực nói riêng. Các nước xã hội ch
ủ nghĩa
còn lại đứng trước thách thức hết sức gay gắt. So sánh lực lượng trên thế giới thay
đổi theo hướng bất lợi cho phong trào cách mạng và hòa bình trên thế giới. Sự tan rã
của Liên Xô không thể không kéo theo những trăn trở về lý tưởng, hoang mang về
niềm tin vào chủ nghĩa xã hội trong một bộ phận giai cấp công nhân, nhân dân lao
động. Chính trong bối cảnh đó, mô hình kinh tế thị trường và các giá trị dân chủ
phương Tây trở thành sự
lựa chọn của không ít quốc gia trên thế giới.
Thứ ba, thời kỳ sau chiến tranh lạnh, đấu tranh giai cấp và dân tộc, các cuộc
xung đột cục bộ, xung đột tôn giáo, sắc tộc trên thế giới không dịu đi mà tiếp tục
diễn ra gay gắt dưới những hình thức mới. Tình hình trên ở một mức độ nào đó đe
dọa an ninh của Hoa Kỳ, gây khó khăn cho việc thiết lập trật tự
thế giới mới của
Hoa Kỳ. Song song đó thế giới đang đứng trước hàng loạt vấn đề kinh tế, xã hội,
chính trị phức tạp như đói nghèo, bệnh tật, ô nhiễm… cùng với mâu thuẫn và những
xung đột tôn giáo, sắc tộc, biên giới làm cho nhiều khu vực trên thế giới mất ổn
định.
Thứ tư, đối với bản thân Hoa Kỳ, chiến tranh lạnh kết thúc, kinh tế lâm vào
tình trạng trì trệ, sức cạnh tranh của nền kinh tế giảm, thâm thụt cán cân buôn bán ở
mức báo động bởi vì trước đó là nguyên nhân quan trọng là chạy đua vũ trang tốn
kém đã trực tiếp tác động đến nền kinh tế Hoa Kỳ.
Về chính trị, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu tan
rã đã làm cho Hoa Kỳ mất đi một mối đe dọa rõ ràng, cụ thể
đối với sự sống còn của
chủ nghĩa tư bản. Hoa Kỳ đang rất cần xác định rõ những lợi ích cơ bản của mình
trong tình hình mới và những thách thức chủ yếu đối với những lợi ích đó để xây
dựng một chiến lược mới cho thời kỳ sau chiến tranh lạnh.

nhau và điều đó trong nhiều trường hợp làm phương hại đến lợi ích các nước vừa và
nhỏ. Bởi vậy các nước vừa và nhỏ thường thực hiện chính sách duy trì quan hệ cân
bằng với các nước lớn. Bên cạnh đó tìm cách tận dụng cả những cơ hội nảy sinh
chính từ những mâu thuẫn trong quan hệ giữa các nước lớn với nhau.
Chiến lược
đối ngoại của các nước lớn, đặc biệt là của Hoa Kỳ có ảnh hưởng
sâu sắc đối với hòa bình, an ninh và sự phát triển của các nước trong khu vực và trên
thế giới. Bất kỳ nước nào cũng phải tính đến các nước lớn trong việc hoạch định
14
chính sách đối ngoại của mình và có đối sách xử lý các vấn đề trong quan hệ với các
nước lớn. Những động thái trên đây tác động mạnh mẽ đối với Việt Nam, vừa là cơ
hội, vừa là thách thức lớn, buộc chúng ta phải nhận thức đầy đủ và có đối sách thích
hợp với xu thế chung, và với từng nước lớn đặc biệt là với Hoa Kỳ.
Chiến lược toàn cầu của Hoa K
ỳ sau chiến tranh lạnh được định hình dưới
chính quyền Tổng thống Bush (cha), thông qua việc điều chỉnh trong chiến lược
“Vượt trên ngăn chặn”. Báo cáo Chiến lược an ninh quốc gia vào tháng 8/1991 đã
nhấn mạnh mục tiêu của Hoa Kỳ là vượt trên ngăn chặn, tìm kiếm sự hòa nhập của
Liên Xô vào hệ thống quốc tế, thúc đẩy tự do dân chủ và cải cách chính trị - kinh tế
ở Liên Xô; thiết lập trật tự
thế giới mới và vai trò lãnh đạo không thể thiếu của Hoa
Kỳ. Dưới chính quyền Bill Clinton, với bản đánh giá từ dưới lên trên (tháng 9-
1993), chiến lược đối ngoại mới “Cam kết và mở rộng” của Hoa Kỳ (1995) và
Chiến lược An ninh quốc gia cho thế kỷ XXI (1997) đã từng bước xác định toàn
diện chiến lược an ninh để bảo vệ lợi ích quốc gia. Đặc biệt vào năm 2000, Hoa Kỳ
đưa ra “Chiến l
ược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới” đã xây dựng một cách hệ
thống, toàn diện các quan điểm chiến lược mang tính toàn cầu cho thời kỳ sau chiến
tranh lạnh [22, tr.17].
Cũng như các chiến lược trước đó, một trong những cơ sở để xây dựng chiến

hoạt động kinh tế của khu vực”. Với lợi ích chiến lược đó, mục tiêu an ninh của Mỹ
trong khu vực được chú trọng là: Một là, Duy trì liên minh an ninh của Mỹ với
Australia, Thái Lan, Philippnines; Hai là, Duy trì dàn xếp an ninh với Singapore và
các nước ASEAN khác;
Ba là, Khuyến khích sự nổi lên của một AESAN hùng
mạnh, liên kết có khả năng tăng cường an ninh và thịnh vượng khu vực [22, tr.22].
Như vậy, chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh được xây
dựng hết sức toàn diện, bao gồm tất cả các mặt quân sự, kinh tế, chính trị tư tưởng.
1.1.3. Tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á
1.1.3.1. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời vào ngày 1-10-1949. Trung
Quốc được xem là một quốc gia xã hội chủ nghĩa rộng lớn với dân số đông nhất trên
thế giới. Tháng 12-1978, Hội nghị Trung ương 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã
đi vào lịch sử đất nước Trung Hoa, khi quyết định chuyển trọng tâm công tác của
toàn Đảng từ chỗ coi đấu tranh giai cấp là chính sang lấy xây dựng kinh tế là nhiệm
vụ trọng tâm, m
ở đầu cuộc cải cách và mở cửa, dân chủ hóa đời sống chính trị và
16
xóa bỏ kinh tế kế hoạch để phát triển đất nước. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sự
đối đầu Xô – Mỹ đã chi phối hầu hết các quan hệ quốc tế. Đồng thời do tính chất áp
đặt của trật tự 2 cực đã tạo ra những mâu thuẫn nội bộ trong mỗi khối, đặc biệt là
khi tương quan lực lượng đã thay đổi, hai cực suy yếu tương đố
i trong khi các đối
tác khác đang lớn mạnh dần lên thì ý thức độc lập dân tộc, đòi hỏi sự bình đẳng
trong quan hệ quốc tế của các nước ngày càng được nâng cao. Tình hình này tác
động mạnh mẽ đối với Trung Quốc. Thêm vào đó, tình hình nội bộ Trung Quốc
phần lớn thời gian của giai đoạn chiến tranh lạnh có nhiều bất ổn, kinh tế không
phát triển. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã có những b
ước điều chỉnh chiến lược
đối ngoại và tư duy phát triển nền kinh tế rất linh hoạt.

Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) được thành lập
vào tháng 11-1989 trong bối cả
nh xu hướng liên kết kinh tế phát triển mạnh mẽ,
phát triển kinh tế, đẩy mạnh tự do hóa thương mại và đầu tư, nâng cao năng lực
cạnh tranh… trở thành những ưu tiên trong quan hệ hợp tác ở khu vực châu Á –
Thái Bình Dương. Trong tình hình ấy, APEC ra đời và đáp ứng kỳ vọng vào các nền
kinh tế khu vực là thiết lập một cơ chế hợp tác nhằm nắm bắt những cơ hội, ứng phó
với những thách thức mới do những chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực,
đẩy mạnh tự do hóa thương mại và đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền
vững của các nền kinh tế thành viên.
Trong những năm qua, APEC đã trải qua nhiều cột mốc đáng nhớ, từ chỗ là
diễn đàn cấp bộ trưởng, sau bốn năm hoạt động, năm 1993 tạ
i Hoa Kỳ, APEC nâng
cấp thành hội nghị cấp cao hằng năm từ chỗ chỉ có 12 thành viên, đến nay APEC đã
mở rộng gồm 21 nền kinh tế có trình độ phát triển đa dạng, không chỉ có các nền
kinh tế phát triển cao như: Hoa Kỳ, Canada, Hàn Quốc, mà có cả những nền kinh tế
mới nổi như Trung Quốc, Nga… vì vậy, hợp tác APEC có những nét đặc thù dựa
trên nguyên tắc “Đồng thuận, tự nguyện và không ràng buộc”. Nă
m 1994, tại Hội
nghị cấp cao APEC lần thứ 2 tại Bogor (Indonesia), lãnh đạo các nền kinh tế APEC
đưa ra tuyên bố Bogor, xác định mục tiêu và tầm nhìn dài hạn của APEC đến năm
2020 với hai dấu mốc quan trọng là thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư tại
châu Á – Thái Bình Dương đối với các nền kinh tế phát triển vào năm 2010 và các
nền kinh tế đang phát triển vào năm 2020.
Hợp tác APEC với ba trụ cột là tự
do hóa, thuận lợi hóa thương mại, đầu tư
và hợp tác kinh tế kỹ thuật, đã giành được nhiều thành tựu to lớn. APEC đã trở
18
thành một diễn đàn liên khu vực quan trọng, kết nối nhiều nền kinh tế năng động và
đóng góp cho sự phồn vinh và phát triển bền vững trong khu vực cũng như trên thế

, có chế độ nhà nước, chế độ chính trị
và trình độ phát triển kinh tế khác nhau, với số dân trên 500 triệu người. Trong các
nước Đông Nam Á chỉ có Lào là không tiếp xúc với biển còn lại 10 quốc gia đảo

(*)
Brunei, Campuchia, Indonesia, Đông Timor, Lào, Myanmar, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam và
Singapore.
19
hoặc nằm trên bán đảo, có tiếp xúc với biển Đông, Ấn Độ Dương hoặc Thái Bình
Dương. Do đó, Đông Nam Á được xem là chiếc cầu nối đại dương, nằm ở vị trí
trọng yếu, nơi nối liền các mạch giao thông giữa các châu lục và đại dương. Trong
bối cảnh của những thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển nổi bật
nhất của
Đông Nam Á được đánh dấu bởi sự hình thành và hoạt động của Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngày 8-8-1967 tại Bangkok (Thái Lan), các
Ngoại trưởng của 5 nước Đông Nam Á là Malaysia, Indonesia, Thái Lan,
Philippines và Singapore đã tuyên bố thành lập ASEAN. Sau đó là lần lượt gia nhập
tổ chức này là Brunei (1984), Việt Nam (1995), Lào và Myanmar (1997), và
Campuchia (1999). Thời kỳ chiến tranh lạnh, Đông Nam Á trở thành một trong
những địa bàn tranh giành ảnh hưởng chủ yếu giữa hai siêu cường là Xô – Mỹ. Các
nước trong khu vực, tr
ực tiếp hay gián tiếp đều bị lôi cuốn hoặc chịu ảnh hưởng của
những tính toán trong chiến lược toàn cầu của hai siêu cường. Các nước Đông Nam
Á do đó đứng trước nhiều thách thức của một thế giới đối cực toàn diện.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế đối đầu Đông - Tây không còn, song Đông Nam
Á vẫn là nơi được sự “quan tâm” của nhiều nước lớn. Các nước lớn tìm cách can dự

vào khu vực nhằm duy trì, bảo vệ và thúc đẩy lợi ích của họ. Để bảo vệ lợi ích của
mình ở khu vực, Hoa Kỳ đã và đang tăng cường duy trì, thiết lập quan hệ trên các
lĩnh vực quan trọng với nhiều nước Đông Nam Á và kể cả các nước châu Á – Thái

Nam Á là một điểm nóng trước kia đ
ã nhanh chóng trở thành địa bàn qui tụ các nỗ
lực quan hệ giữa các nước. Với những chuyển động tích cực trong đời sống an ninh
chính trị và kinh tế ở Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh, đã tới quá trình quan hệ
hợp tác quốc tế của khu vực. Biểu hiện rõ nhất là việc Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu,
Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều nước khác quan tâm và hướng tới thị trường Đông
Nam Á, Thúc đẩy giao lưu chuyể
n vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ buôn bán với
khu vực.
Những chuyển biến tích cực của các nước Đông Nam Á đã làm cho vị trí
chiến lược của khu vực này phát triển mạnh mẽ. Đặc điểm hàng đầu hiện nay là sự
phát triển tích cực các nỗ lực hợp tác và liên kết khu vực. Cũng do đó, các thành
viên của hiệp hội đã và đang thu được nhiều thành quả tốt đẹ
p trong phát triển kinh
tế- xã hội và an ninh chính trị. 21
1.2. Tình hình và chính sách đối ngoại của Việt Nam
1.2.1. Tình hình Việt Nam
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức mới. Trên thế giới, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa tư bản có nhiều diễn biến phức tạp; hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa
lâm vào khủng hoảng về kinh tế-xã hội. Ở trong nướ
c, tư tưởng chủ quan, say sưa
với thắng lợi, nôn nóng muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian
ngắn, dẫn đến việc bố trí sai cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cộng với những khuyết
điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ,
làm cho kinh tế - xã hội rơi vào trì trệ, khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp rấ
t

Tổ quốc; giữa kinh tế và quốc phòng - an ninh - đối ngoại và đã kịp thời ngăn chặn,
dập tắt một số vụ gây rối, bạo loạn chính trị của các đối tượng phản động trong và
ngoài nước. Về đối ngoại, đến năm 2001, Việt Nam đã có quan hệ
ngoại giao với
167 nước trong tổng số hơn 200 nước trên thế giới; có quan hệ thương mại với 221
nước và vùng lãnh thổ; đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN)
và Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC).
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, về mặt đối ngoại, Việt Nam đã và
đang thúc đẩy xây dựng quan hệ hữu nghị với các nước trong khu vực, tăng cường
hợp tác để duy trì một môi trường hòa bình, ổn định lâu dài phục vụ công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội đất nước. Từ mối quan hệ hợp tác nhiều mặt với các nước, vị
thế và uy tín của Việt Nam sẽ ngày càng được đề cao trong khu vực cũng như trên
trường quốc tế. Trên cơ sở đường lối đối ngoại và nhu cầu phát triển của đất nước
trong thời kỳ m
ới, Việt Nam nhận thấy Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan
trọng, có nhiều tiềm năng để Việt Nam thiết lập và mở rộng quan hệ.
1.2.2. Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Hoa Kỳ
Bước vào nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, trong quá trình thực hiện
phương châm “đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế với tinh thần Việt Nam
muốn là bạn v
ới tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc
lập và phát triển”, chúng ta đặc biệt coi trong quan hệ với các nước lớn, trong đó có
Hoa Kỳ. Thực tế, tuyên bố của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton này 11-7-1995 cũng
như tuyên bố của Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt ngày 12-7-1995 mới chỉ là sự
chính thức xác định việc bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ về mặ
t ngoại
giao. Từ các tuyên bố này, đến việc bình thường hoá hoàn toàn quan hệ Việt Nam –
23
Hoa Kỳ còn cả một chặng đường dài.
Xuất phát từ tình hình đó, quan điểm và chính sách của Việt Nam đối với Hoa

hiện “diễn biến hoà bình” ở Việt Nam.
Bước vào thế kỷ XXI, những chuyển động của thế giới và khu vực châu Á –
24
Thái Bình Dương, đã tác động đến Việt Nam, trước hết là đến quá trình triển khai
thực hiện chính sách đối ngoại, trong đó có chính sách đối với Hoa Kỳ. Trong giai
đoạn mới, chính sách của Việt Nam đối với Hoa Kỳ là một bộ phận trong chính sách
của Việt nam đối với các nước lớn. Đối với Việt Nam tư tưởng chỉ đạo trong quan
hệ với các nước lớn là tạo lập cân bằng lợ
i ích, một mặt thúc đẩy quá trình cải thiện,
mở rộng và phát triển với từng nước lớn, mặt khác vẫn tiếp tục giữ vững độc lập,
thống nhất và định hướng xã hội chủ nghĩa, không để các nước lớn thao túng, áp đặt
hoặc lôi kéo.
Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4- 2001) khẳng định: “Thúc
đẩy quan hệ đa dạng với các nướ
c phát triển, xuất phát từ nhận thức rằng các nước
lớn, các nước phát triển đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế nhất là trong
lĩnh vực kinh tế, tuy đang chi phối quá trình toàn cầu hoá, nhưng họ cũng có nhu
cầu mở rộng quan hệ hợp tác vì lợi ích của chính họ đồng thời giữa họ với nhau
cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn về lợi ích, cho nên chúng ta cần và có thể tranh thủ
phát triển quan hệ đa dạng, bao gồm cả quan hệ chính phủ và phi chính phủ trên cả
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ… với các nước đó để
thu hút nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, v.v… tạo môi trường hoà bình,
ổn định lâu dài cho sự phát triển đất nước” [18, tr.121-122].
Nghị quyết Trung ương VIII (7-2003) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới), Đảng ta nêu quan điểm v
ề “đối tác”, và “đối tượng”, xác định thúc
đẩy quan hệ với các nước trung tâm lớn trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tạo thế đan xen lợi ích giữa các
nước; tránh bị rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc [5, tr.44]. Đây là bước phát
triển mới trong chính sách của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, đặc biệt,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status