Thực trạng và triển vọng của Việt Nam trong gia nhập và thực thi Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ NGA
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA VIỆT NAM
TRONG GIA NHẬP VÀ THỰC THI CÔNG ƢỚC
LAHAY NĂM 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC
TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ

LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Luận văn Thạc sĩ Người hướng dẫn khoa học:
PGS - TS HOÀNG PHƯỚC HIỆP Hà Nội - 2012 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5
Chƣơng 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƢỚC LAHAY
NĂM 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC
NUÔI CON NUÔI QUÔC TẾ VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NUÔI
CON NUÔI TRÊN THẾ GIỚI 11

qua 44
2.1.1 Sự tác động của các nhân tố nước ngoài vàohoạt động nuôi con
nuôi quốc tế ở Việt Nam 45
2.1.1.1 Xây dựng cơ chế nuôi con nuôi quốc tế 46
2.1.1.2 Điều phối giữa các nước nhận 48
2.1.1.3 Các thỏa thuận song phương 49
2.1.1.4 Giám sát con nuôi đối với các nước nhận nuôi 51
2.1.2 Hoạt động của các cơ quan con nuôi ở Việt Nam 52
2.1.3 Các vấn đề tài chính 53
2.2 Sự cần thiết việc Việt Nam gia nhập Công ƣớc Lahay năm 1993
về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế 56
2.2.1 Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về vấn đề gia nhập Công ước
Lahay năm 1993 56
2.2.2 Khung pháp luật hiện hành của Việt Nam trong việc điều
chỉnh nuôi con nuôi quốc tế 60
2.2.3 Ý nghĩa thực tiễn khi Việt Nam tham gia công ước 61
2.3 Những hạn chế, bất cập khi Việt Nam gia nhập Công ƣớc Lahay
năm 1993 64
2.3.1 Những bất cập về mặt thể chế 64
2.3.2 Những hạn chế về công tác tổ chức 67
2.3.3 Những hạn chế, bất cập khác 68
Tiểu kết chƣơng 2 70

Chƣơng 3 : NHỮNG KHÓ KHĂN, BẤT CẬP TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM 5

CON NUÔI TRƢỚC YÊU CẦU THỰC THI CÔNG ƢỚC LAHAY- TRIỂN


6

Bảng 1.2 Số lượng trẻ em được nhận nuôi tại 5 quôc gia nhận nuôi chính
(2005-2009) 98
Bảng 1.3 Số lượng trẻ em được nhận nuôi tại 15 quôc gia nhận nuôi chính
(1998-2009) 99
Bảng 1.4 Số lượng trẻ em được cho đi làm con nuôi tại 15 quôc gia cho nuôi
chính (1998-2009) 100
Bảng 1.5 Số lượng trẻ em Nga được cho đi làm con nuôi (2003-2010) 101
Bảng 2.1 Số lượng con nuôi Việt Nam đến các nước nhận nuôi
(2002-2008) 102 10
Biểu đồ 1.1 Xu hướng dòng chảy con nuôi tới 23 nước nhận chính
(1998-2009) 103 10
Biểu đồ 1.2 Con nuôi đến từ 4 quốc gia cho con nuôi chính 104 11
Biểu đồ 1.3 Con nuôi vào Mỹ (1970-2000) 105 11
Biểu đồ 1.4 Lượng con nuôi vào khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu năm 2003 106 11
Biểu đồ 1.5 Lượng con nuôi vào Mỹ (1990-2005) 107 11
Biểu đồ 1.6 Lượng con nuôi vào Pháp và Thụy Điển (1975-2005) 107 11
Biểu đồ 1.7 Con nuôi vào Mỹ từ bốn quốc gia cho con nuôi chính
(1990-2005) 108 11114
Biểu đồ 1.8 Số lượng con nuôi quốc tế được nhận (1970-2011) 109 11115
Biểu đồ 2.1 Lượng con nuôi Việt Nam đến các nước (2002-2008) 110 11
Biểu đồ 2.2 Lượng con nuôi Việt Nam sang Pháp, Ý và Mỹ (2002-2008) 111 11
Phụ lục 1.1 Danh sách các nước là thành viên Công ước Lahay năm 1993 112 11

LỜI MỞ ĐẦU

tính cấp thiết được đặt ra đối với Việt Nam là cần nghiên cứu, tham gia các
Công ước quốc tế đa phương, ký kết các điều ước quốc tế song phương nhằm
tạo ra một cơ chế hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa Việt Nam với các nước liên quan
về lĩnh vực này, đảm bảo cho trẻ em được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện
được hưởng những gì tốt đẹp nhất, cũng như tạo thuận lợi hơn về mặt thủ tục 8

cho cha mẹ nuôi trong lĩnh vực này. Mặt khác cũng nhằm hạn chế đến mức tối
đa những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm này.
Hiện nay Việt Nam đang đứng trước yêu cầu của công cuộc hội nhập,
nhất là việc gia nhập và thực thi có hiệu quả Công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ
em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (dưới đây xin được gọi tắt là
Công ước Lahay năm 1993) thì việc tìm hiểu nội dung Công ước Lahay năm
1993 cũng như thực trạng con nuôi quốc tế ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài,
làm hài hoà với thông lệ quốc tế về nuôi con nuôi là việc làm cấp bách. Chính vì
mục đích như vậy tôi đã chọn đề tài “Thực trạng và triển vọng đối với Việt Nam
trong gia nhập và thực thi Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp
tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế “, để thấy rõ những vấn đề bất cập
trong việc nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam, qua đó có những giải pháp phù
hợp trong quá trình Việt Nam gia nhập và thực thi hiệu quả Công ước Lahay
năm 1993.
2. Tình hình nghiên cứu và nguồn tài liệu
Trong tất cả các mối quan hệ nhân đạo, trẻ em luôn là đối tượng được
quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là vấn đề con nuôi. Nuôi con nuôi là hiện tượng
có từ khá lâu nhưng nuôi con nuôi quốc tế thực sự chỉ được quan tâm kể từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam. Trên thế giới
đã có khá nhiều học giả và các nhà nghiên cứu đi sâu nghiên cứu các mối quan
hệ giữa việc cho – nhận con nuôi giữa các nước cũng như việc ảnh hưởng, tác

học Luật Hà Nội)….Tuy nhiên các chuyên gia này chủ yếu tập trung phân tích,
nghiên cứu vấn đề con nuôi theo Luật học chứ chưa có mấy công trình đề cập
đến vấn đề nuôi con nuôi quốc tế trong mối tương quan giữa quan hệ Việt Nam
với các nước trên thế giới. Vơ
́
i mong muốn vâ
̣
n du
̣
n g ca
́
c kiến thức và công
trình đã có, kế thư
̀
a trên cơ sơ
̉

̉
ng hơ
̣
p co
́
cho
̣
n lo
̣
c ca
́
c kết qua
̉

năm 1993 về nuôi con nuôi quốc tế.
Mục tiêu cụ thể:
(i) Đưa ra cái nhìn tổng quan về Công ước Lahay năm 1993 về nuôi con
nuôi quốc tế, nội dung và quá trình xây dựng Công ước;
(ii) Đánh giá tình hình bối cảnh, các vấn đề nuôi con nuôi trên thể giới và
một số khu vực trên thế giới;
(iii) Đánh giá ảnh hưởng của những nhân tố nước ngoài trong hoạt động
cho- nhận con nuôi ở Việt Nam, qua đó đánh giá được tầm quan trọng cũng như
ý nghĩa của việc Việt Nam tham gia Công ước;
(iv) Đưa ra những mục tiêu, quan điểm, đánh giá những thuận lợi và khó
khăn, những tác động mà Việt Nam gặp phải khi thực thi Công ước;
(v) Dự báo xu hướng dịch chuyển dòng cho- nhận con nuôi trên thế giới,
từ đó nhận định xu hướng nuôi con nuôi ở Việt Nam;
(vi) Đưa ra những kiến nghị, giải pháp phương hướng cụ thể để Việt Nam
có thể thực thi có hiệu quả Công ước về việc cho- nhận nuôi con nuôi quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu: 11

- Về mặt không gian: luận văn đặt trọng tâm vào phân tích tình hình, xu
hướng cho- nhận con nuôi trên thế giới, từ đó phân tích cụ thể thực trạng con
nuôi quốc tế ở Việt Nam.
- Về mặt thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu tình hình cho- nhận con
nuôi thế giới và ở Việt Nam từ giữa thập kỷ 1990s trở lại đây.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai Đề tài, các phương pháp nghiên cứu sau đây
đã được sử dụng:
(i) Phương pha
́

5. Bố cục của đề tài
Trên cơ sở những mục đích nghiên cứu đề tài, ngoài phần Mở đầu và Kết
luận khoá luận có bố cục gồm 3 phần chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan về quá trình xây dựng và thông qua Công ước
Lahay năm 1993, chỉ ra những nội dung cơ bản của Công ước,đưa ra những
đánh giá chung về tình hình cho- nhận trẻ em làm con nuôi quốc tế trên thế giới,
xu hướng dòng chảy con nuôi trong thời gian tới.
- Chương 2: Tổng hợp và phân tích thực trạng và tác động của việc nuôi
con nuôi quốc tế ở Việt Nam để từ đó thấy được sự cần thiết gia nhập Công ước
Lahay năm 1993.
- Chương 3: Từ những phân tích, tổng hợp về tình hình cho - nhận con
nuôi quốc tế trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cùng với những 12

nhận định về thách thức khi Việt Nam tham gia Công ước, từ đó đưa ra những
giải pháp đối với Việt Nam trong việc thực thi có hiệu quả Công ước.
Ngoài ra, còn có các Bảng, Biểu đồ và Phụ lục, Danh mục tài liệu tham
khảo


những thập niên gần đây, ở những nước công nghiệp phát triển nhu cầu nhận
con nuôi nước ngoài tăng cao khi trẻ em nhận nuôi trong nước giảm. Sự gia tăng
này do nhiều yếu tố khác nhau như là việc sử dụng các biện pháp tránh thai, việc
hợp pháp hóa cho phép phá thai hay ngày càng nhiều những cặp vợ chồng không
muốn sinh con [55]. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như nghèo đói,
chiến tranh, bất ổn xã hội, thiên tai, bạo hành, HIV/AIDS cũng là những lý do
khiến nhiều gia đình cho con đi làm con nuôi.
Tuy nhiên sự gia tăng mạnh mẽ số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi
quốc tế đã dẫn đến việc xuất hiện những hiện tượng “xuất khẩu ồ ạt” trẻ em từ
một số nước nghèo đang phát triển sang một số nước giàu có phương tây qua
trung gian của một số tổ chức và cá nhân. Vấn đề con nuôi nước ngoài từ thuần
túy mang tính chất nhân đạo đã biến thành một vấn đề mang tính xã hội phức
tạp, bị lợi dụng trong nhiều trường hợp thành một hoạt động vụ lợi mà trong đó
trẻ em bị coi là hàng hóa bị mua đi bán lại [15. Phần lớn việc nhận nuôi con
quốc tế đã không được điều chỉnh cho đến khi xuất hiện những tiêu đề trên các
phương tiện truyền thông đưa tin những câu chuyện buôn lậu trẻ em, đã tạo ra
phản ứng chính trị. Việc nhận nuôi con nuôi quốc tế không được chỉnh đốn có
khả năng dẫn đến việc trẻ em bị đối xử như hàng hóa và những thực tiễn nhận
nuôi con mang tính lạm dụng liên quan đến hành vi thị trường

[51]. 14

Để giải quyết những vấn đề phát sinh trong nuôi con nuôi quốc tế, cụ thể
là việc cần phải đưa ra những chuẩn mực pháp lý có tính chất ràng buộc cùng
một hệ thống giám sát để đảm bảo việc cho- nhận con nuôi mang đúng tính chất
nhân đạo và đảm bảo có sự hợp tác chặt chẽ của các cơ quan có liên quan đến
việc nuôi con nuôi, Hội nghị Lahay về Tư pháp quốc tế đã đề xuất “Công ước


nhận con nuôi hiện đại đã không quy định cụ thể cho- nhận con nuôi quốc tế.
Những trẻ em được cha mẹ nuôi là người nước ngoài có nguy cơ không có quốc
tịch. Hơn nữa còn thiếu các hướng dẫn rõ ràng xác định thẩm quyền của các cơ
quan trong việc tham gia vào quá trình nhận con nuôi quốc tế [19].
Các sáng kiến đầu tiên về việc thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế công nhận
pháp lý việc nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện đầu tiên vào năm 1960. Theo
đó, năm 1961, Công ước Liên Hợp Quốc về việc giảm thực trạng không quốc
tịch (United Nations Convention on the Reduction of Statelessness (1961)) [83]
đã ra đời bao gồm các quy định để ngăn chặn và giảm tình trạng trẻ em được
nhận làm con nuôi không có quốc tịch. Sau đó năm 1965, Công ước về quyền
tài phán, luật áp dụng và công nhận các Nghị định liên quan đến nuôi con nuôi
(Convention on Jurisdiction, Applicable Law and Recognition of Decrees
Relating to Adoptions)[41] ra đời tại Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế (the
Hague Conference on International Private Law).
1
Công ước này là một trong
những công cụ đa phương đầu tiên thiết lập các quy định chung về thẩm quyền,
luật pháp và tạo điều kiện cho việc công nhận các Nghị định liên quan đến việc
nhận con nuôi. Rõ ràng Công ước này đáng được lưu tâm, mặc dù thực tế là ba
nước thành viên đã phê chuẩn nó là Áo, Thụy Sĩ và Anh, sau đó đều lên án nó,
ngụ ý rằng Công ước này không còn có tác dụng đối với họ nữa [55]. Công ước
Châu Âu [23] về việc cho- nhận con nuôi có hiệu lực ba năm sau đó với mục
đích hài hòa hóa luật pháp, quy định và thực tiễn giữa các nước thành viên của
Hội đồng châu Âu. Những công ước này phần lớn dựa vào tình hình châu Âu
những năm 1960 khi mà việc nhận nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện trong
khoảng cách địa lý tương đối ngắn và không có sự khác biệt lớn giữa các hệ
thống kinh tế - xã hội, văn hóa và pháp luật của các nước trong khu vực.
Trong thập niên 1980, quy mô việc nhận nuôi con nuôi quốc tế ngày càng
tăng, kết hợp với nhận thức rằng hiện tại các văn bản pháp luật trong nước và

thông qua, có hiệu lực từ ngày 2-9-1990, là văn bản quốc tế đầu tiên đề cập toàn
diện và luật pháp hóa các quyền của trẻ em. Công ước công nhận sự dễ bị tổn
thương của trẻ em và khẳng định tuổi thơ có quyền được hưởng sự chăm sóc và
giúp đỡ đặc biệt. Lời mở đầu và nhiều điều khoản đã nhấn mạnh tầm quan trọng
của gia đình và nhu cầu thiết lập một môi trường tập trung vào sự lớn lên và
phát triển của trẻ em [48].
Một trong những mục tiêu của Công ước này là phải đảm bảo các nguyên
tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em trở thành việc xem xét quan trọng nhất
trong mọi quyết định liên quan đến việc nuôi con nuôi quốc tế. 17

Bốn năm sau, Công ước Lahay về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực
nuôi con nuôi quốc tế đã được thông qua tại Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế
với mục tiêu xác định tiêu chuẩn, biện pháp bảo vệ và thủ tục tòa án, cơ quan
hành chính và các tổ chức con nuôi trung gian tham gia vào việc nhận con nuôi
quốc tế.
Trong số nhiều văn kiện về quyền trẻ em, “Tuyên bố của Liên Hợp Quốc
về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ
em, đặc biệt là việc bảo trợ, nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài”, “Công
ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và Công ước Lahay số 33 về bảo về trẻ
em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế” là những văn kiện quốc tế
cơ bản nhất và liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề con nuôi nước ngoài[63].
Trong hệ thống pháp luật về quyền trẻ em còn có những công ước khác
liên quan đến vấn đề con nuôi nước ngoài không do Liên hợp quốc thông qua
song vẫn có giá trị pháp lý ràng buộc việc thực hiện với các quốc gia thành viên
như các Công ước Lahay (the Hague conventions). Các công ước này được
thông qua tại Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế. Hội nghị Lahay đề cập nhiều
vấn đề quốc tế và xây dựng các công ước khác nhau để giải quyết những vấn đề

em [51]. Chương trình hành động năm 1994 của Hội nghị quốc tế về Dân số và
Phát triển cũng đã kêu gọi các nước cho con nuôi phải có những biện pháp ngăn
chặn việc cưỡng chế hoạt động con nuôi [74].
Liên Hợp quốc luôn tích cực trong việc khuyến khích các quốc gia thành
viên phê chuẩn hay gia nhập Công ước về quyền trẻ em và Công ước Lahay năm
1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Năm
2000, Nghị định thư bổ sung Công ước về quyền trẻ em về Buôn bán trẻ em, mại
dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (The United Nations Optional
Protocol to the Convention on the Rights of the Child on the Sale of Children,
Child Prostitution and Child Pornography) [58] đã được Liên Hợp Quốc thông
qua, ký kết và phê chuẩn tại Nghị quyết Đại hội đồng 54/263 ngày 25/5/2000.
Ủy ban của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng
cường hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức khác nhau của Liên Hợp Quốc có thẩm
quyền trong lĩnh vực này. Ủy ban của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em cũng là 19

tổ chức duy nhất cấp quốc tế theo dõi việc thực hiện các chuẩn mực quốc tế về
vấn đề con nuôi nước ngoài.[60]
Rõ ràng, bảo vệ trẻ em, trong đó có việc phòng chống việc lạm dụng vấn
đề nuôi con nuôi nước ngoài đã và đang là mối quan tâm to lớn của cộng đồng
quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc và nhiều quốc gia thành viên của tổ chức
quốc tế lớn nhất hành tinh này trong những năm qua với các chuẩn mực quốc tế
(international standards) làm những cơ sở pháp lý quan trọng cho các tổ chức
quốc tế, khu vực và các quốc gia tham khảo [68]. Đó là các tuyên ngôn, tuyên
bố, công ước quốc tế và điều ước quốc tế song phương trực tiếp hay gián tiếp
nêu ra những ý tưởng và nguyên tắc về vấn đề nuôi con nuôi thành một chế định
của pháp luật quốc tế và quốc gia mà hầu hết các nước trên thế giới đã và đang
tuân thủ ở các mức độ khác nhau.

viên và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã kí Công ước Lahay vào năm 1992. Vào
tháng 7 năm 2010, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước
Lahay, chính thức có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày mùng 1 tháng 11 năm
2011. Khi một quốc gia đã phê chuẩn Công ước Lahay thì quốc gia đó đã là
quốc gia thành viên và được quyền áp dụng một cách hợp pháp các điều khoản
của Công ước này vào hệ thống luật trong nước. Tuy nhiên, việc ký kết Công
ước Lahay không bắt buộc phải phê chuẩn Công ước. Do đó việc phê chuẩn
Công ước Lahay là một tầng nấc phát triển cao hơn trong việc tuân thủ các quy
tắc pháp lý về nuôi con nuôi quốc tế mà quốc gia ký Công ước đó đã cam kết
khi ký Công ước [52].

1.2. Những nội dung cơ bản của Công ƣớc Lahay năm 1993 về Bảo vệ
trẻ em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
1.2.1 Cấu trúc tổng quát của Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ
em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
Tại khoá họp lần thứ XVII Hội nghị La Hay (từ 10-29/05/1993) các đại
biểu của sáu mươi tư (64) nước trong số đó có đại biểu Việt Nam (với tư cách là
khách mời) đã nhất trí thông qua và ký Văn kiện cuối cùng bao gồm nội dung
Công ước với tên gọi chính thức là “Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp
tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước “.
Công ước gồm lời nói đầu, 7 chương, 48 điều, chủ yếu đưa ra khung pháp 21

lý cho việc hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Tính đến
tháng 10/2010 Công ước đã có 81 nước thành viên, trong đó nước cho trẻ em

22

đẩy thủ tục nuôi con nuôi; báo cáo đánh giá tổng kết, kinh nghiệm…).
Về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, Công ước nghiêm cấm người
nhận con nuôi tiếp xúc với cha mẹ đẻ/ người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ em trước
khi bắt đầu các thủ tục nhận con nuôi; Nước nhận phải chịu trách nhiệm về việc
người nhận con nuôi có đủ điều kiện theo pháp luật nước mình; Nước gốc chịu
trách nhiệm trẻ em cho làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo pháp luật nước
mình.
Về công nhận việc nuôi con nuôi, theo Công ước, quyết định về nuôi con
nuôi của Nước ký kết này được mặc nhiên công nhận có giá trị pháp lý tại các
Nước ký kết khác, sau khi được Cơ quan Trung ương xác nhận.
Về hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi, Công ước quy định việc nuôi con
nuôi sẽ làm phát sinh quan hệ cha mẹ, con giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; phát
sinh trách nhiệm của cha mẹ nuôi đối với con nuôi; làm chấm dứt quan hệ pháp
lý giữa trẻ em và cha mẹ đẻ, nếu pháp luật của nước nơi thực hiện việc nuôi con
nuôi có quy định (ngược lại, nếu pháp luật nơi thực hiện việc nuôi con nuôi
không quy định, thì sau khi làm con nuôi, trẻ em vẫn giữ quan hệ pháp lý với
cha mẹ đẻ).

1.2.1. Những nội dung cơ bản của Công ước Lahay năm 1993
 Mục đích và phạm vi áp dụng Công ước
Công ước nhằm mục đích :
i. Định ra những đảm bảo để việc nuôi con nuôi giữa các nước là vì lợi ích
tốt nhất của đứa trẻ và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được pháp luật
quốc tế công nhận đặc biệt trong Công ước của Liên Hợp Quốc ngày 20/11/1989
về quyền trẻ em.
ii. Thiết lập hệ thống hợp tác, thông qua cơ chế liên hệ giữa các nhà chức
trách trung ương của Nước gốc và Nước nhận nhằm tôn trọng những đảm bảo
trên và ngăn chặn việc bắt cóc, mua bán trẻ em.

giải pháp thay thế như nuôi con nuôi, giám hộ hoặc chăm sóc ở trung tâm bảo
trợ xã hội;
iv. Chỉ cho phép những người ngoài gia đình ruột thịt của trẻ em nhận
trẻ em làm con nuôi, nếu không có khả năng tìm thấy một nơi ở phù hợp cho trẻ
em ngay từ gia đình gốc của mình;
v. Việc nuôi con nuôi làm phát sinh đầy đủ quan hệ cha mẹ và con theo 24

pháp luật;
vi. Ưu tiên thu xếp cho trẻ em làm con nuôi trong nước; việc cho trẻ em
làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được coi là giải pháp cuối cùng, sau khi chắc
chắn rằng, không thể tìm được gia đình thay thế cho trẻ em ngay tại nước mình;
vii. Nghiêm cấm mọi việc thu lợi bất minh từ việc cho trẻ em làm con
nuôi; mọi hành vi lạm dụng và buôn bán trẻ em phải bị xử lý nghiêm minh.
 Điều kiện nuôi con nuôi (đối với người xin nhận con nuôi và trẻ em
được nhận làm con nuôi)
Theo Điều 2 của Công ước, thì Công ước được áp dụng khi trẻ em và cha
mẹ nuôi thường trú tại các nước khác nhau. Công ước không áp dụng khi trẻ em
và cha mẹ nuôi cùng thường trú tại một quốc gia thành viên, cũng như cha mẹ
nuôi thường trú ở một quốc gia không phải là thành viên Công ước.
Công ước quy định việc nuôi con nuôi được áp dụng đối với trẻ em dưới
18 tuổi.
 Chỉ định Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế
Công ước yêu cầu cả Nước nhận và Nước gốc phải chỉ định một cơ quan
ở trung ương có đủ thẩm quyền, làm đầu mối trong việc bảo đảm thực thi Công
ước. Việc chỉ định Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế là bắt buộc. Theo
Điều 8, Điều 9, Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế có nghĩa vụ áp dụng
trực tiếp hoặc với sự giúp đỡ của các cơ quan Công quyền, tất cả các biện pháp

việc nuôi con nuôi có hệ quả như vậy tại nước nơi thực hiện việc nuôi con nuôi
(Nước nhận). Mục đích của quy định này là nhằm đảm bảo rằng, trẻ em được
nhận làm con nuôi phù hợp với quy định của Công ước sẽ có địa vị pháp lý và
được bảo vệ như bất kỳ trẻ em nào khác trên lãnh địa của Nước nhận. Tuy nhiên
việc chấm dứt quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và trẻ em cũng không phải là một
giải pháp chắc chắn, vì pháp luật của các nước quy định rất khác nhau về vấn đề
này.
Vì thế, Điều 27 của Công ước cho phép chuyển đổi hình thức nuôi con
nuôi. Nước nhận sẽ áp dụng pháp luật của mình để cho phép chuyển đổi hình
thức nuôi con nuôi. Việc chuyển đổi này, cũng như hệ quả pháp lý của nó, sẽ
được công nhận tại các quốc gia thành viên khác.
1.2.3 Đánh giá mức độ tương thích giữa Công ước Lahay năm 1993 với
pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi
Nội dung Công ước Lahay về cơ bản là tương thích với các quy định của

Trích đoạn Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở Mỹ Tổng quan thực tiễn nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam thời gian Xây dựng cơ chế nuôi con nuôi quốc tế Các thỏa thuận song phương Giám sát con nuôi đối với các nước nhận nuôi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status