Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THẾ HƯỞNG
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VÀO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Tất Tố
HÀ NỘI - 2010

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
6. Những đóng góp về khoa học và cấu trúc của luận văn
Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VÀ THỰC TIỄN
HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
1.1. Nguồn gốc, quá trình hình thành, nội dung tư tưởng và thực tiễn

9
11
12
20

29

30
30
33
35
36

37
38
56
63
66
79 Chương 3: MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ KHUYẾN NGHỊ
3.1. Một số kinh nghiệm
3.1.1. Nắm vững độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển
3.1.2. Chủ động, sáng tạo, linh hoạt, giữ vững mục tiêu và nguyên tắc
3.1.3. Tận dụng lợi thế phát huy vai trò, mở rộng, tạo sức mạnh tổng hợp
3.1.4. Trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
3.2. Một vài khuyến nghị
3.2.1. Vận dụng đường lối “chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả” của
Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân thời kỳ mới

100

103

107
114
118
123

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ của nhân dân ta, người thầy vĩ đại của cách
mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, sứ giả của hòa bình và tình hữu
nghị, danh nhân văn hóa thế giới. Người vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà
chiến lược quân sự, nhà ngoại giao, nhà văn, nhà thơ, nhà báo kiệt xuất của dân
tộc ta. Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng là người sáng

Minh về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng, đã cho Đảng ta
những quan điểm cơ bản trong đường lối đối ngoại đúng đắn dần được hình
thành và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (từ Đại hội VI tới Đại hội
X). Những thành tựu to lớn đạt được trên mặt trận đối ngoại nói chung, đối ngoại
nhân dân nói riêng trong gần 25 năm đổi mới đã minh chứng cho tính đúng đắn,
vận dụng sáng tạo, có hiệu quả của Đảng trong định hướng và phát triển công tác
đối ngoại nhân dân. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ ngày càng được coi trọng, trong Văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) đã chỉ rõ: "Phối hợp chặt chẽ hoạt
động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân" và phát
triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt, sáng
tạo và hiệu quả" [29, tr.115-116].
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công gặt hái được, mặt trận đối ngoại
nhân dân Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ 21 cũng đang gặp phải
không ít những khó khăn, thách thức cần đổi mới trong bối cảnh đất nước đang
hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Tình hình
trong nước và thế giới đang không ngừng vận động và biến đổi, nhiều vấn đề
mới nảy sinh, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách để can thiệp, chi phối
và phá hoại chúng ta, nhất là trên mặt trận đối ngoại.
Trước tình hình đó, với mong muốn đẩy mạnh nghiên cứu một cách sâu sắc,
toàn diện, có hệ thống tư tưởng của Người về công tác đối ngoại nhân dân trong
thời kỳ này và rút ra bài học kinh nghiệm thiết thực. Từ đó khai thác và vận dụng
một cách sáng tạo, linh hoạt, có hiệu quả tư tưởng của Người vào hoạt động đối
ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (cùng phối hợp với hoạt
động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước để tạo thành một binh chủng đối
ngoại chung của đất nước) trong những thập niên đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc. Vì vậy tôi chọn vấn đề "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh vào hoạt động đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới" làm đề tài luận
văn thạc sĩ, chuyên ngành quan hệ quốc tế.

3

- Viện Quan hệ Quốc tế, Vũ Khoan chủ biên, Tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác ngoại giao (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1999). Nội dung cuốn sách đã phân

4
tích một cách sâu sắc quá trình hoạt động đối ngoại của Người từ năm 1941 đến
năm 1969 và rút ra những bài học kinh nghiệm quý, khái quát về tư tưởng đối
ngoại, về phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Luân, Hồ Chí Minh: Trí tuệ lớn của nền
ngoại giao Việt Nam hiện đại (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999), đã cố
gắng làm rõ một số quan niệm của Người về bạn thù, về sách lược tập hợp lực
lượng, về chính sách đối ngoại, về phương pháp dự báo thời cơ.
- Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, Quán triệt tư tưởng Hồ
Chí Minh thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001). Tác giả đã trình bày những nội dung chủ yếu
tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, nêu lên phương pháp, phong cách, nghệ
thuật trong hoạt động ngoại giao của Người. Đặc biệt về việc vận dụng tư tưởng
của Người vào xử lý một số vấn đề đối ngoại của đất nước ta hiện nay.
- Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hoạt động đối ngoại nhân dân
Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003). Đây là một cuốn sách hiếm
hoi chuyên ngành, các tác giả đã cố gắng giới thiệu một cách khái quát nhất bức
tranh về quá trình hình thành, phát triển của công tác đối ngoại nhân dân của
nước ta từ năm 1945 đến nay. Đây là nguồn tư liệu quý cho tác giả khi thực hiện
đề tài luận văn.
- Đinh Xuân Lý, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của
Đảng trong thời kỳ đổi mới (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007). Tác giả cũng
đã khái quát sự ra đời, quá trình phát triển, nguồn gốc, nội dung tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người thời kỳ đổi mới.
- Bộ ngoại giao, Ban nghiên cứu Lịch sử ngoại giao, Vận dụng tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế (Nxb Chính trị quốc gia Hà
Nội, 2009). Các tác giả đề cập tới vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam và vận

- Nguyễn Trọng Phúc: “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao sau
hiệp định Giơnevơ”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 - 1995.
- Phạm Hồng Chương - Phùng Đức Thắng: “Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số 12 - 1999.
- Vũ Xuân Hồng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân”
Tạp chí Cộng sản, số 12 - 2003.
- Nguyễn Dy Niên: “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh ánh sáng soi đường
và đảm bảo thành công cho đối ngoại Việt Nam”, Tạp chí Thông tin đối ngoại số
5 - 2004.

6
- Minh Thắng: “Đổi mới và mở rộng công tác đối ngoại nhân dân: Lý luận
và thực tiễn”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 6 - 2005.
- Vũ Xuân Hồng: “Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi
mới và quan hệ nhân dân với Lào, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 6 - 2007.
- Đức Vượng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ”, Tạp chí Tuyên
giáo, số 1 - 2010.
Các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết trên ngày càng làm rõ hơn tư
tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh nói chung và bước đầu tìm hiểu, nghiên cứu tư
tưởng của Người về công tác đối ngoại nhân dân, phân tích sự vận dụng đó của
Đảng ta trong cách mạnh trước đây và công cuộc đổi mới hiện nay. Tuy nhiên
đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học cụ thể nào trực tiếp đi sâu nghiên
cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động đối ngoại nhân dân trong
thời kỳ đổi mới một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc. Các công trình nghiên
cứu nêu trên là cơ sở để cung cấp luận cứ, luận chứng để tác giả nghiên cứu và
hoàn thành đề tài luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích
Làm rõ nội dung cơ bản về quá trình hình thành tư tưởng và thực tiễn hoạt
động đối ngoại nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời nghiên cứu sự

chức đoàn thể nhân dân ta vào một số lĩnh vực cụ thể trong công tác đối ngoại
nhân dân thời kỳ đổi mới. Bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm, đưa ra
một số khuyến nghị vận dụng trong đối ngoại nhân dân thời kỳ hội nhập.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận
- Luận văn thực hiện trên cơ sở những quan điểm, nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác -Lênin về cách mạng và phương pháp đấu tranh cách mạng.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân và những quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về công tác đối ngoại nhân dân thời kỳ đổi mới.
- Những quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước về công tác
đối ngoại nhân dân.
Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm rõ vấn đề.
- Tuân thủ các nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát
triển để luận giải và dự báo vấn đề nghiên cứu.

8
- Ngoài ra, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: khoa học
xã hội và nhân văn, lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, hệ thống, so sánh,
tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học, để làm rõ nội dung đề tài.
6. Những đóng góp về khoa học và cấu trúc của luận văn
a) Những đóng góp về khoa học
- Góp phần tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống và luận giải những nội
dung chủ yếu, những giá trị thực tiễn trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đối
ngoại nhân dân trong quá trình hoạt động cách mạng.
- Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng, nhân dân ta trong thời kỳ
đổi mới. Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu và các nhà
khoa học đi trước, luận văn cố gắng khái quát, hệ thống, làm rõ hơn nguồn gốc

bang để làm kế "sâu rễ, bền gốc". Tiếp thu tinh hoa kim, cổ, đông, tây về ngoại
giao và trên cơ sở kế thừa tri thức ngoại giao của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí
Minh, vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã xây dựng nền ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trong đó công tác
đối ngoại nhân dân được Người quan tâm rất sớm. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối
ngoại nhân dân được hình thành và phát triển cùng với những biến cố lịch sử của
dân tộc và những hoạt động thực tế trong ngoại giao của Người. Thế giới nay đã
đổi thay, công tác đối ngoại nhân dân Việt Nam ta ngày nay đã có bước trưởng
thành vượt bậc trong thời đại Hồ Chí Minh. Nhưng thời đại mà chúng ta đang
sống với các mối quan hệ quốc tế luôn biến đổi phức tạp, rất khó dự báo. Đòi hỏi
chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm quý,
tri thức tinh hoa về ngoại giao của cha ông ta để lại, đặc biệt là tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh. Do đó việc tìm hiểu nguồn gốc, quá trình hình thành, những
nội dung cơ bản và thực tiễn hoạt động của Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại
nhân dân là cơ sở đảm bảo cho tiếp nối những thành công của kênh đối ngoại
nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
1.1. Nguồn gốc, quá trình hình thành, nội dung tư tưởng và thực tiễn hoạt
động đối ngoại nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.1. Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nói chung và công tác đối
ngoại nhân dân nói riêng được bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, kết
hợp truyền thống văn hóa dân tộc với truyền thống ngoại giao Việt Nam. Việc đi
sứ bang giao của cha ông ta trước đây đều có mối quan hệ đến “an nguy hay tồn
vong” của dân tộc. Người xưa có câu: “Tài trai không làm khanh tướng thì làm
sứ giả”; những người đi sứ xưa kia còn là người phải có ý chí, lòng dũng cảm,

10
độc lập tự cường và không được run sợ trước uy vũ để bảo toàn quốc mệnh.
Đồng thời cũng phải là những người đại diện xứng đáng cho nền văn hiến dân
tộc, thấu suốt cổ kim” [48, tr.34]. Đó còn là chủ nghĩa yêu nước và truyền thống

11
(1930-1945), chỉ đạo công tác ngoại giao Nhà nước, đối ngoại của Đảng, công
tác đối ngoại nhân dân, cho tới khi Người qua đời (1945-1969). Người đã sáng
lập, xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, gồm ba bộ phận cấu thành được kết hợp chặt chẽ với nhau, để tạo nên sức
mạnh tổng hợp to lớn của nền ngoại giao Việt Nam. Tư tưởng và hoạt động thực
tiễn đối ngoại của Người đã trở thành khoa học và nghệ thuật ngoại giao của
nước nhà trong thời đại Hồ Chí Minh.
1.1.2. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
Lịch sử và truyền thống dân tộc ta đã truyền vào con người Hồ Chí Minh
với đầy đủ tố chất của những sứ giả xưa kia, cùng với lịch sử dân tộc với hàng
nghìn năm dựng nước, giữ nước, bề dày lịch sử bang giao quốc tế. Lịch sử bang
giao quốc tế của dân tộc ta còn ghi lại một số hoạt động của các sứ thần nước ta
như: Mạc Đĩnh Chi, Lê Văn Thịnh, Giang Văn Minh, Lê Quý Đôn, những nhà
bác học thông tuệ của Việt Nam đã làm rạng rỡ hai tiếng Việt Nam qua cách ứng
xử trí tuệ khi đi sứ. Với tinh thần yêu nước, mối đồng cảm với những người cần
lao trên thế giới cũng là cơ sở để Người tiếp thu một cách tự nhiên chủ nghĩa
Mác - Lênin. V.I Lênin cho rằng: “Nếu không có sự tham gia của các dân tộc
thuộc địa thì cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thắng lợi, không thể chiến
thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản” [48, tr.28].
Thời kỳ Người hoạt động ở Pháp những năm hai mươi của thế kỷ 20, với sự
vận động quốc tế để ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam,
thực chất là hoạt động đối ngoại nhân dân. Người đã nhận thức đúng vai trò và vị
trí công tác quan trọng này, đã nâng tầm đối ngoại nhân dân thành binh chủng
hợp thành đội quân làm công tác đối ngoại chung của đất nước. Khi ở Liên Xô và
Trung Quốc, ngoài hoạt động Quốc tế Cộng sản, Người còn đi tuyên truyền và
vận động các tổ chức, đoàn thể quần chúng ở Liên Xô, Trung Quốc anh em ủng
hộ nhân dân ta chống thực dân Pháp; giúp các cán bộ, thanh niên và nhi đồng ưu
tú của nước ta đi học tập, bồi dưỡng ở các nước đó. Người còn lập ra ở Trung
Quốc “Hội đoàn kết những dân tộc bị áp bức châu Á”. Trong thời gian diễn ra

Minh, thể hiện nhất quán toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Người về
quan hệ quốc tế, được đúc kết thành chân lý của thời đại “không có gì quý hơn
độc lập tự do”. Người nhấn mạnh: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy
mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào; đồng thời công
việc của ta trước hết ta phải làm lấy”, “Về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính,
ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh” và Người gọi đó “là cái gốc, là điểm mấu
chốt” của mọi vấn đề” [10, tr.6]. Một trong những mối quan hệ quan trọng nhất

13
khi đó là giữa Việt Nam với hai nước trên bán đảo Đông Dương, vì cùng trong
“xứ Đông Dương thuộc Pháp”. Với tầm nhìn chiến lược, ngay từ khi thành lập
Đảng (3-2-1930), Hồ Chí Minh đã đề ra việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,
chứ không thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương như ý kiến của Quốc tế Cộng
sản. Thực tế lịch sử quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia những năm sau này đã
chứng minh tính đúng đắn tư tưởng đó của Người. Khi phong trào Cộng sản và
công nhân quốc tế bị chia rẽ, chính tư tưởng về đoàn kết quốc tế, về quan hệ bình
đẳng giữa các dân tộc, về không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tạo cho
Việt Nam một lợi thế để tranh thủ được tình đoàn kết của phong trào Cộng sản và
công nhân quốc tế đối với cách mạng nước ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu
nước, góp phần đoàn kết phong trào.
Tư tưởng của Người về hoà bình và chống chiến tranh phi nghĩa: Được thể
hiện trong bức thư Người gửi cho nhân dân Pháp năm 1947, với tinh thần “còn
nước còn tát”, Hồ Chí Minh kiên trì tìm kiếm giải pháp cứu vãn hòa bình cho
cuộc xung đột thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương. Người nhấn mạnh: “Chúng
tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng
máu đó chúng tôi đều quý như nhau” và Người nêu cao ngọn cờ hòa bình, ra sức
tập hợp lực lượng rộng rãi chống những thế lực hiếu chiến “Chúng ta không thể
nói khối phương Đông và khối phương Tây. Tôi muốn nói có những người yêu
chuộng hòa bình và có những kẻ chủ trương chiến tranh” [10, tr.7]. Mặt khác, Hồ
Chí Minh cũng cho rằng hòa bình và chống chiến tranh xâm lược phải gắn liền

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, về quyền tự quyết, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ dân tộc, cho tới nay vẫn luôn là mục tiêu và động lực cho các
hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và công tác đối ngoại nhân
dân. Theo tư tưởng của Người thì: “Các nước thuộc địa không phải cứ ngồi chờ
sự giúp đỡ của người đồng chí mình, mà phải “mang sức ta để giải phóng cho ta”,
phải “chủ động” và “tự bản thân mình”. Sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới chính là ở chỗ “phải tự bản
thân mình tạo nên sức mạnh cho mình để khi cách mạng ở thuộc địa thành công
thì họ có thể giúp những anh em mình ở phương Tây trong sự nghiệp giải phóng
hoàn toàn” [48, tr.28]. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người
luôn nêu cao mục tiêu: Nâng cao uy tín đất nước, để “sánh vai cùng các cường
quốc năm châu” và “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản
thế giới”. Vào những năm đầu thế kỷ 20, nước ta có các phong trào yêu nước nổ
ra, nhưng đều thất bại. Trên cơ sở tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã gắn
kết một cách biện chứng giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải

15
phóng xã hội, coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Tư tưởng của Người về cùng tồn tại hòa bình giữa các chế độ chính trị, xã hội
khác nhau và bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau trong quan hệ quốc tế. Theo luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hòa bình
thật sự chỉ khi giai cấp bị bóc lột trên toàn thế giới được giải phóng.
Tư tưởng về đồng minh, về đoàn kết lực lượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
còn thể hiện rõ ở cách chọn đối tượng trong kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, những người cần tranh thủ trước hết là nhân dân chính quốc, tranh thủ làm
công tác địch vận, binh vận. Chính vì vậy trong kháng chiến chống thực dân
Pháp chúng ta có nhiều bạn Pháp đã cùng đứng trong hàng ngũ với chúng ta để
chiến đấu. Cho tới nay số người này họ vẫn đang là những nhà hoạt động tích
cực cho quan hệ hữu nghị Việt-Pháp. Đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ của nhân dân ta, tư tưởng về đối ngoại nhân dân của Người thể hiện rõ trong

trước hết là đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, những người cùng chung nỗi
nhục mất nước. Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã tham gia
thành lập Liên hiệp Hội các dân tộc bị áp bức. Đoàn kết giữa các nước thuộc địa
và chính quốc là liên hiệp giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức, để “hình
thành một lực lượng khổng lồ”. Cũng theo tư tưởng của Người, đoàn kết là làm
cho các thuộc địa từ chỗ “cách biệt nhau” đến “hiểu biết nhau hơn và đoàn kết
hơn”. Nếu xét về địa lý chính trị, thì tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trước hết phải đoàn kết giữa các nước láng giềng cùng chung cảnh ngộ.
Đây là tư tưởng về xây dựng mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt - Lào và
Campuchia; mối quan hệ hữu nghị Việt - Trung; các quan hệ hợp tác hữu nghị
giữa Việt Nam và Ấn Độ. Có thể nói rằng, đối ngoại nhân dân Hồ Chí Minh đã
góp công to lớn trong phát huy sức mạnh toàn dân tộc và nhân dân thế giới, làm
nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ
về Đông Dương (7-1954) giải phóng miền Bắc, tạo cơ sở quyết định giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước (4-1975). Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, hoạt động đối ngoại nhân dân được phát triển mạnh mẽ trong quan hệ
với các nước láng giềng (Trung Quốc, Lào, Campuchia), với nhân dân, bè bạn
trên thế giới, nhất là nhân dân Mỹ. Chính sự hiểu biết khách quan của nhân dân
Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của chính quyền Mỹ ở Việt Nam đã
thúc đẩy phong trào đấu tranh chống Mỹ xâm lược Việt Nam lên cao. Chính cuộc
đấu tranh này đã góp phần ngăn cản Quốc hội Mỹ trong giai đoạn cuối của cuộc
chiến tranh không thông qua quyết định sai lầm để tiếp tục dính líu sâu vào cuộc
chiến, đẩy chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã bị suy yếu mau chóng tan rã. Tư tưởng

17
Hồ Chí Minh về “thêm bạn, bớt thù” còn xuất phát ở tính nhân dân cao cả, với
một tầm nhìn chính trị rất sâu sắc, Người luôn phân biệt ai là bạn, ai là thù trong
quan hệ quốc tế. Năm 1941, Người sang Trung Quốc và bị bắt, khi ở trong tù
được biết J.Nê-ru, lãnh tụ phong trào giải phóng Ấn Độ cũng bị thực dân Anh bắt
giam, Người đã viết bài thơ gửi J.Nê-ru, nội dung bài thơ thể hiện rõ tầm nhìn về

Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là đảm bảo cho sự thành công về
đối ngoại nói chung và công tác đối ngoại nhân dân Việt Nam trong mọi thời kỳ
cách mạng. Nội dung tư tưởng của Người còn thể hiện bản chất của nền ngoại
giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là: hoà bình, hữu nghị và
hợp tác, chống chiến tranh xâm lược trong quan hệ với các nước, đặc biệt coi
trọng quan hệ với các nước lớn. Bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản và đề cao đạo
lý trong quan hệ quốc tế; gắn Việt Nam với thế giới, giữa độc lập dân tộc gắn với
chủ nghĩa xã hội; giữa độc lập, tự chủ, tự cường với đoàn kết hợp tác quốc tế, coi
ngoại giao là một mặt trận, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đặc
biệt, với phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, đã để
lại cho chúng ta những mẫu mực trong cách ứng xử các vấn đề ngoại giao trong
mọi thời kỳ cách mạng. Tư tưởng ngoại giao ở Người luôn trở thành một mặt
trận của cách mạng, đàm phán các hiệp định quốc tế lớn, có ý nghĩa quan trọng
để phát huy cao độ thắng lợi trên chiến trường, tạo tiền đề kết thúc cuộc chiến
vào thời điểm có lợi nhất cho dân tộc.
Hai là; dự báo, nắm bắt kịp thời cơ, vững vàng nguyên tắc, linh hoạt về
sách lược trong thực tiễn với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Như vậy
cái “bất biến” đó là nguyên tắc độc lập, thống nhất, tự do, hạnh phúc của nhân
dân và chủ quyền quốc gia; còn “vạn biến” là sách lược tuỳ từng hoàn cảnh, điều
kiện mà ta áp dụng biện pháp linh hoạt, mềm dẻo, hòa hoãn khi cần thiết, thỏa
hiệp có nguyên tắc, để đạt mục đích cao nhất cho dân tộc. Ngoại giao “tâm công”
và 5 điều biết (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến hóa) là
những phương pháp ngoại giao tiêu biểu nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì đối
ngoại là hoạt động đa dạng, phức tạp trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi phải
biết nắm vững, kết hợp quyền biến, linh hoạt, chủ động, sáng tạo, có phương
pháp phù hợp và bối cảnh cụ thể. Dự báo và nắm bắt thời cơ cho đất nước không
chỉ là trí tuệ và khả năng tiên tri của Người, còn là yêu cầu có ý nghĩa quyết định
trong hoạt động đối ngoại. Với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ
Chí Minh vừa dựa trên nền tảng đó, vừa là đỉnh cao của việc kết hợp hài hòa giữa
kiên định mục tiêu, nguyên tắc với linh hoạt, chủ động về sách lược. Coi trọng

giao đã trở thành những câu chuyện huyền thoại” [10, tr.8]. Phong cách ngoại
giao Hồ Chí Minh phản ánh nhân cách của Người, thể hiện tư duy độc lập, tự chủ
và sáng tạo, nhạy bén, thấm nhuần chất văn hóa, phong cách mới, viết giản dị, dễ
hiểu, giàu sức cảm hóa và thuyết phục. Người cho rằng: “Nắm vững nghệ thuật
của điều có thể, không ngừng mở rộng giới hạn của điều có thể” [10, tr.9]. Điểm

20
nổi bật trong nghệ thuật này là lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương và
biết nhân nhượng có nguyên tắc, đúng lúc để bảo vệ, phát triển thực lực cách
mạng, đi tới giành thắng lợi.
Tư tưởng của Người luôn coi nhân dân là bạn, phân biệt rõ nhân dân ở
chính quốc với thực dân và kẻ xâm lược. Người luôn giải thích và thực hiện mối
quan hệ thân thiện, hữu nghị, đoàn kết với nhân dân các nước, đó là khẩu hiệu
“bốn phương vô sản đều là anh em”. Người cũng giáo dục nhân dân ta cần biết
phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là thù, phân biệt bọn thực dân Pháp và bọn xâm lược
Mỹ, với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ. Có thể thấy rằng, trong thế kỷ 20 chưa
có nước nào trên thế giới có khả năng tập hợp lực lượng toàn thể nhân loại tiến
bộ để đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa, giải phóng dân tộc cho tổ
quốc mình như Việt Nam. Vì thế mặt trận đối ngoại nhân dân ta mang đậm dấu
ấn tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh, lấy bản sắc truyền thống văn hóa dân
tộc Việt Nam, với tinh hoa văn hóa của thế giới, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin, gắn cách mạng Việt Nam với phong trào tiến bộ của nhân dân thế
giới. Lấy đoàn kết là sức mạnh theo tinh thần "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết -
Thành công, thành công, đại thành công" làm nền tảng đối ngoại nhân dân. Nội
dung tư tưởng đó của Người đều hàm chứa những định hướng chiến lược, những
giải pháp giàu tính nghệ thuật cách mạng và ý chí tiến công như: Lấy yếu đánh
mạnh, biết lợi dụng và khai thác xu thế dân chủ đi tới gây tiếng vang lớn, tạo sức
mạnh dư luận. Nhờ đó mà đấu tranh ngoại giao nhân dân Việt Nam được thực
hiện liên tục và luôn giành thắng lợi trong mọi hoàn cảnh và mọi thời kỳ cách
mạng khác nhau.

động đối ngoại của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân trong
thời kỳ này đã tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả của Quốc tế Cộng
sản, của Liên Xô và cách mạng Trung Quốc đối với cách mạng nước ta. Thông
qua Mặt trận Việt Minh tăng cường phối hợp với cuộc đấu tranh giải phóng của
nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Lào, nhân dân
Campuchia; ủng hộ cuộc chiến đấu chống phát xít của nhân dân Liên Xô, nhân
dân Trung Quốc. Gắn cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống Nhật - Pháp với
cuộc chiến đấu của lực lượng Đồng minh chống phát xít, tạo điều kiện thuận lợi
cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Với Bản Tuyên ngôn độc lập
của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” và độc lập chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ là quyền thiêng liêng của mọi dân tộc. Đây là thể hiện
một sự sáng tạo về hoạt động ngoại giao nhân dân của Hồ Chí Minh. Nếu như

Trích đoạn HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚ Về khái niệm đối ngoại nhân dân Vai trò, mục đích và nhiệm vụ của đối ngoại nhân dân Hình thức, lực lượng, phương thức và nguyên tắc hoạt động Đối tác của hoạt động đối ngoại nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status