2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Đỗ Hồng Giang
KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM
CỦA THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
TRONG ĐỘ TUỔI TỪ 18 ĐẾN 25 Ở HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Hà Nội – 2014
Hà Nội - 2014
4
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ với đề tài “Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên
khuyết tật vận động trong độ tuổi từ 18 đến 25 ở Hà Nội”- đã được hoàn
thành với nỗ lực của bản thân tác giả và sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều phía.
Em xin cảm ơn cô giáo hướng dẫn, PGS. TS. Lê Thị Minh Loan đã
nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên em trong quá trình thực hiện luận
văn.
Xin cảm ơn các bạn thanh niên khuyết tật đã tham gia trả lời phỏng
vấn, chia sẻ nhiều thông tin giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và luôn cổ vũ tinh
thần cho tôi.
Luận văn khó tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý
kiến phản hồi và góp ý.
Tác giả
Đỗ Hồng Giang
5
LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ
với đề tài: “Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động trong độ
tuổi từ 18 đến 25 ở Hà Nội”.
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu là kết quả quá trình làm việc của tôi.
Những nội dung tham khảo được trích dẫn nguồn gốc tài liệu. Kết quả nghiên cứu
thực tiễn là do tôi trực tiếp tiến hành khảo sát và chưa được công bố ở bất cứ công
trình khoa học nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong đề tài.
2.2.4. Phương pháp trắc nghiệm 56
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học 57
7
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ KỸ NĂNG TÌM VIỆC
LÀM CỦA THANH NIÊN CÓ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 58
3.1. Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm của thanh
niên khuyết tật vận động 58
3.1.1. Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng
lập kế hoạch nghề nghiệp 58
3.1.2. Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng
tìm kiếm thông tin việc làm 60
3.1.3. Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng
chuẩn bị hồ sơ xin việc 62
3.1.4. Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng
giao tiếp với nhà tuyển dụng 63
3.1.5. Tổng hợp nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của
kỹ năng tìm việc làm 65
3.2. Thực trạng kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 66
3.2.1. Kỹ năng lập kế hoạch nghề nghiệp 66
3.2.2. Kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm 69
3.2.3. Kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc 72
3.2.4. Kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng 74
3.2.5. Tổng hợp mức độ kỹ năng tìm việc làm của
thanh niên khuyết tật vận động 76
3.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết
tật vận động 81
3.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến kỹ năng tìm việc làm 81
3.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến kỹ năng tìm việc làm 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
63
Bảng 3.4
Mức độ nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động
về ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp
64
Bảng 3.5
Mức độ nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động
về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm
66
Bảng 3.6
Thực trạng kỹ năng lập kế hoạch nghề nghiệp của
thanh niên khuyết tật vận động
67
Bảng 3.7
Thực trạng kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm của
thanh niên khuyết tật vận động
69
Bảng 3.8
Thực trạng kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc của thanh
niên khuyết tật vận động
72
Bảng 3.9
Thực trạng kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng của
thanh niên khuyết tật vận động
74
Bảng 3.10
Thực trạng kỹ năng kỹ năng tìm việc làm của thanh niên
khuyết tật vận động
77
Bảng 3.11
quan của thanh niên khuyết tật vận động
86
Bảng 3.18
Kết quả kiểm định hệ số tương quan giữa nhận thức và
kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận
động
87
Bảng 3.19
Thực trạng kỹ năng và nhận thức của thanh niên khuyết
tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm
88
Bảng 3.20
Mức độ các động cơ tìm việc làm của thanh niên khuyết
tật vận động
89
Bảng 3.21
So sánh mức độ kỹ năng tìm việc làm và việc có động cơ
mạnh hay không
90
Bảng 3.22
So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo việc có ít nhất một động cơ
mạnh hay không
90
Bảng 3.23
So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo trình độ học vấn
91
Bảng 3.24
So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
việc làm cho người khuyết tật và thấy được tiềm năng đóng góp của người khuyết tật
cho tổ chức của họ, những cơ hội việc làm cho người khuyết tật đã được mở ra ngày
càng nhiều.
Thế nhưng, nếu như người lao động khuyết tật không biết cách chủ động tìm
kiếm và nắm lấy những cơ hội đó mà chỉ trông chờ vào lòng hảo tâm, tinh thần từ
thiện của các nhà tuyển dụng thì cũng khó có thể có được một việc làm tốt, phù hợp
với điều kiện và khả năng của mình, cũng như khó có cơ hội để phát triển bản thân.
Kỹ năng tìm việc làm của người lao động đóng một vai trò quan trọng, không chỉ
đối với người tìm việc, mà nó còn giúp cho nhà tuyển dụng nâng cao được hiệu quả
tuyển dụng. Đối với người khuyết tật, kỹ năng tìm việc làm lại càng có ý nghĩa đặc
biệt bởi điều kiện sức khỏe và vẫn còn đó những rào cản về mặt xã hội làm cho cơ
hội việc làm của họ bị hạn chế. Gia nhập thị trường lao động vốn đã rất khó khăn
với thanh niên trong độ tuổi từ 18 đến 25 - những người mới bước vào độ tuổi lao
động- thì đối với thanh niên khuyết tật còn khó khăn hơn nhiều. Bên cạnh những
phẩm chất và năng lực chuyên môn cần phải có, họ cần có kỹ năng tìm kiếm việc
làm tốt. Nhiều người còn yếu về kỹ năng này nên dễ rơi vào tình trạng thất nghiệp,
cuộc sống bấp bênh hoặc làm công việc không phù hợp năng lực, không phù hợp
điều kiện sức khỏe
Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng thì thủ đô là Hà Nội là một trong
những nơi có nhiều cơ sở đào tạo, dạy nghề và có nhiều tổ chức, doanh nghiệp thu
hút được một lực lượng đông đảo thanh niên khuyết tật về học tập, làm việc. Trong
đó, khuyết tật vận động chiếm tỷ lệ lớn. Người bị khuyết tật vận động nhìn chung
11
có rất nhiều thuận lợi so với người khiếm thị, khiếm thính hay khuyết tật trí tuệ
nhưng vấn đề tìm kiếm việc làm đối với họ cũng còn rất nhiều khó khăn.
Trước thực tế đó, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng
kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động và đề xuất những giải pháp
nhằm giúp họ nâng cao kỹ năng này. Đồng thời đề tài cũng mong muốn đóng góp
cho công tác nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học lao động, tâm lý học hướng
-Kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm
-Kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc
-Kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng.
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu nhóm thanh niên khuyết tật vận động đã và đang tìm
kiếm việc làm, trong độ tuổi từ 18 đến 25.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động nói chung ở mức độ
trung bình, trong đó kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng là tốt nhất, kỹ năng tìm
kiếm thông tin việc làm là yếu nhất.
Mức độ biểu hiện của kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động
chịu ảnh hưởng của cả các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan. Trong đó, một
số yếu tố khách quan cơ bản là: nguồn gốc đào tạo kỹ năng tìm việc làm; sự hỗ trợ
của các tổ chức của người khuyết tật; và một số yếu tố chủ quan cơ bản là tính lạc
quan; nhận thức về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu mà đề tài sử dụng là:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp trắc nghiệm
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học 13
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN
của người lao động trong quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Đại diện là các tác
giả V.G.Loox, V.V.Tsebưseva, K.K.Platonov, E.A.Milerian. Trong công trình
nghiên cứu của mình, V.V.Tsebưseva đã trình bày rõ về kỹ năng, kỹ xảo, đưa ra các
phương pháp hình thành kỹ năng. Theo bà, kỹ năng với tư cách là khả năng (trình
độ được chuẩn bị) thực hiện một hành động nào đó dựa trên cơ sở những tri thức và
kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động. V.V.Tsebưseva đã nêu lên
các điều kiện và các bước hình thành kỹ năng. Bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò tích
cực của người học trong quá trình hình thành kỹ năng. Bà đã chỉ ra "quá trình nhận
thức trong học tập càng tích cực bao nhiêu, thì kỹ năng, kỹ xảo càng hình thành
nhanh chóng và hoàn thiện hơn bấy nhiêu". Từ đó, bà quan niệm, trong quá trình
huấn luyện, nhà giáo dục rút dần vai trò của mình để người học tự nắm lấy thì kỹ
năng được hình thành nhanh chóng, ổn định hơn [29, tr. 5]
Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong công tác hoạt động tổ chức. Các
tác giả đã nghiên cứu hệ thống kỹ năng cần thiết giúp cho người làm công tác tổ
chức đạt hiệu quả cao. Đại diện là các tác giả: P.M.Kegensev, N.I.Mikheev,
L.Umansky, A.I.Kinv. P.M.Kegensev đã phân tích và đề xuất những yếu tố cơ bản
của công tác tổ chức như mục đích, các kiểu tổ chức, các phương pháp tổ chức,
những yêu cầu về phẩm chất của người làm công tác tổ chức. Tất cả những yếu tố
trên đều cần cho công tác tổ chức. Nhưng để vận dụng vào tổ chức một hoạt động
cụ thể thì người làm công tác tổ chức cần phải biết nắm vững tri thức về lĩnh vực
hoạt động cụ thể đó và phải có sự mềm dẻo, sáng tạo trong quá trình tổ chức mới
đạt được. N.I.Mikheev, L.Umansky, A.I.Kinv khi nghiên cứu về năng lực tổ chức
coi kỹ năng tổ chức là yếu tố quan trọng của năng lực tổ chức. Theo nhóm tác giả
này, điều kiện hình thành kỹ năng tổ chức thông qua học tập và rèn luyện thường
xuyên của người học. [25, tr. 12]
Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong hoạt động sư phạm nói chung, kỹ
năng của người giáo viên và kỹ năng của học sinh nói riêng. Dựa trên cơ sở nghiên cứu
đối tượng của hoạt động sư phạm là con người, là nhân cách của học sinh, các tác giả
một mặt nghiên cứu hệ thống kỹ năng trong hoạt động dạy học của giáo viên, một mặt
nghiên cứu các kỹ năng cần thiết trong quá trình hình thành nhân cách của học sinh.
bên ngoài nhờ những vận động đã được thực hiện nhiều lần trước đó để cải tạo khách
16
thể. Kỹ năng vận động là khả năng thực hiện những vận động mà không cần đến sự
kiểm soát của ý thức và được hình thành bằng con đường luyện tập. Kỹ năng vận động
bao gồm kỹ năng nhận thức và kỹ năng trí tuệ. Kỹ năng vận động điều khiển hai kỹ
năng này trên cơ sở phản ánh có tính tự động hóa các sự vật, điều kiện và trật tự thực
hiện các thao tác hành động hướng tới việc cải tạo hiện thực khách quan. [10, tr. 401]
Theo tác giả Phạm Tất Dong, có bốn giai đoạn hình thành kỹ năng. Mỗi giai
đoạn có những đặc điểm, đặc trưng và những yêu cầu nhất định:
-Giai đoạn thứ nhất: giai đoạn này được gọi là giai đoạn hình thành những kỹ
năng sơ bộ. Con người trước khi hành động phải nhận thức được hành động. Dựa
vào kỹ năng, kỹ xảo đã nắm được để tìm kiếm phương thức hoạt động. Ở giai đoạn
này hoạt động diễn ra theo phương thức "thử" và "sai".
-Giai đoạn thứ hai: con người có những tri thức về các phương thức thực
hiện hoạt động và sử dụng được những kỹ xảo đã có. Đây là giai đoạn hoạt động
với những kỹ năng chưa thành thạo.
-Giai đoạn thứ ba: con người có những kỹ năng chung, cần thiết cho mọi
hoạt động khác nhau. Đây là điều kiện không thể thiếu được để hình thành kỹ năng
chuyên môn. Trên cơ sở những kỹ năng chung, con người sẽ sử dụng một cách sáng
tạo những tri thức và kỹ xảo cần thiết trong quá trình hoạt động. Đây là giai đoạn
phát triển cao.
-Giai đoạn thứ tư: con người sử dụng một cách sáng tạo những kỹ năng khác
nhau. Đây là giai đoạn cao nhất của sự phát triển kỹ năng. Ở trình độ này, con người
dễ dàng thực hiện công việc. [25, tr. 15]
Tác giả Phạm Thành Nghị nghiên cứu về kỹ năng học tập đã chỉ ra "kỹ năng
học tập là tập hợp những hành động học tập như phân tích, mô hình hóa, khái quát
hóa các đối tượng nhận thức bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có
để đạt được những kết quả học tập một cách thành thục”. Theo tác giả này, việc
thực hiện bất cứ kỹ năng nào cũng cần những cơ sở lý thuyết nhất định, điều quan
biểu hiện của kỹ năng đối thoại và đánh giá thực trạng mức độ thành thạo trong việc
sử dụng các kỹ năng này, thể hiện qua ba mặt biểu hiện là kỹ năng hỏi, kỹ năng tiếp
nhận ý kiến của người được tuyên truyền và kỹ năng giải đáp ý kiến. [18, tr. 293]
Tác giả Trần Thị Thu Hằng khi nghiên cứu “Một số vấn đề tâm lý về kỹ năng
nghề cơ khí ô tô”, đã quan niệm “kỹ năng là sự thực hiện một hành động nào đó đạt
18
kết quả, trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những
mục tiêu, điều kiện thực tế đã cho” và “kỹ năng nghề cơ khí ô tô là sự thực hiện một
hành động nghề nào đó đạt kết quả, trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh
nghiệm nghề nghiệp đã có phù hợp với những mục tiêu, điều kiện cụ thể.” Tác giả
chỉ ra các nhóm kỹ năng cơ bản của nghề cơ khí ô tô là: kỹ năng chuẩn bị (gồm: kỹ
năng chuẩn bị phương tiện, thiết bị) và kỹ năng chuẩn bị vật tư, vật liệu), kỹ năng
thực hiện (gồm kỹ năng sử dụng phương tiện, thiết bị, kỹ năng thực hiện các thao
tác kỹ thuật và kỹ năng phối hợp công việc với các thành viên trong nhóm) và kỹ
năng kiểm tra và hoàn thiện công việc (gồm: kỹ năng kiểm tra và hoàn thiện chất
lượng sản phẩm và kỹ năng an toàn vệ sinh lao động). Các kỹ năng được đánh giá
theo ba tiêu chí gồm: tính chính xác (tính đúng đắn trong từng thao tác), tính thành
thạo (tốc độ thực hiện nhanh) và tính mềm dẻo, linh hoạt (khả năng thực hiện tốt
hành động trong điều kiện thay đổi). [18, tr. 556 ]
Tác giả Trần Thị Thanh Tâm nghiên cứu về “Kỹ năng làm việc nhóm trong
học tập ở tuổi thiếu niên” đã nghiên cứu mức độ thường xuyên trong việc sử dụng
và mức độ thành thạo của các nhóm kỹ năng ở học sinh trung học cơ sở, bao gồm
kỹ năng lắng nghe tích cực, kỹ năng trình bày mạch lạc vấn đề, kỹ năng điều khiển,
điều chỉnh hành vi và cảm xúc của mình và người khác. Tác giả còn nghiên cứu ảnh
hưởng của các yếu tố giáo dục từ gia đình và nhà trường đến việc hình thành các kỹ
năng làm việc nhóm của học sinh. [29, tr. 114]
Về kỹ năng tìm việc làm, tuy những năm gần đây đã có rất nhiều tài liệu
được phát hành, nhưng đại đa số là những tài liệu tập huấn, rất ít các công trình
nghiên cứu khoa học. Một trong số các nghiên cứu về đề tài này là “Giải pháp nâng
Trên thực tế ở Việt Nam cũng đã bước đầu phát triển các nghiên cứu về đời
sống tâm lý người khuyết tật nhưng phần lớn xuất phát từ các nhà nghiên cứu
chuyên nghiệp hoặc không chuyên hoạt động trong lĩnh vực y tế và công tác xã hội.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tìm được một số trong các
công trình nghiên cứu đó.
Nghiên cứu "Tình yêu và đời sống hôn nhân từ góc nhìn của phụ nữ khuyết
tật" của tác giả Nguyễn Hồng Hà và Đỗ Thanh Toàn năm 2006 được thực hiện theo
phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp nhằm tìm hiểu nhận thức,
thực trạng và mong đợi của phụ nữ khuyết tật về tình yêu và hôn nhân và nhận thức
20
của những người thân của họ (chồng, người yêu, cha mẹ) về vấn đề này. Đa số phụ
nữ khuyết tật trong nghiên cứu có tâm lý mặc cảm, tự ti trong tình yêu và tự định
kiến, cho rằng hôn nhân là một điều xa vời với người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ
khuyết tật. Họ thường không bày tỏ tình cảm của mình và cũng cảm thấy khó khăn
khi đón nhận tình cảm của người khác. Một số chị đã lập gia đình, kể cả với người
chồng không khuyết tật vẫn cảm thấy không tự tin, lo sợ mình là gánh nặng cho
chồng, lo lắng về việc sinh con và nuôi dạy con, sợ con cũng bị khuyết tật Chồng
và người yêu của những phụ nữ này cũng phải trải qua nhiều khó khăn tâm lý của
bản thân và những rào cản từ phía gia đình, xã hội, có những người đàn ông vượt
qua được và quyết định kết hôn nhưng đa số trường hợp họ không vượt qua được.
Một số phụ nữ khuyết tật lựa chọn làm bà mẹ đơn thân với mong muốn có đứa con
làm chỗ dựa sau này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các bậc cha mẹ có con gái bị
khuyết tật thường ít quan tâm giáo dục cho con về giới tính cũng như vai trò của
một người phụ nữ trong gia đình tương lai. Các cha mẹ hầu như chỉ quan tâm chăm
sóc, cải thiện về sức khỏe, về việc làm cho con chứ không mong đợi về tình yêu và
hôn nhân cho con gái mình. Điều này đã làm tăng sự mặc cảm, tự ti cho trẻ em gái
và phụ nữ khuyết tật ngay từ nhỏ. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp phụ nữ
khuyết tật lập gia đình và có được một gia đình hạnh phúc với người chồng khuyết
tật hoặc không khuyết tật. [39, tr. 13]
được làm việc, được sống tự lập bằng công sức lao động của mình, được giao lưu,
giao tiếp, để trợ giúp gia đình và đóng góp cho xã hội.
Phần lớn thanh niên khuyết tật hiện nay có mong muốn làm công việc cụ thể,
mang tính thực tế, gắn với điều kiện hoàn cảnh, tình trạng sức khỏe của họ. Nhìn
chung, thanh niên khuyết tật mong muốn về thái độ của mọi người ở nơi làm việc
với mình là: hòa đồng, bình đẳng, giúp đỡ, tôn trọng, thân thiện, cởi mở…
Nhìn chung thanh niên khuyết tật hiện nay đều làm các công việc tương đối phù
hợp với hoàn cảnh khuyết tật của mình. Đa số người khuyết tật chỉ cảm thấy hài
lòng ở mức độ nhất định với công việc hiện nay của mình.
Trung bình mức thu nhập của thanh niên khuyết tật trên địa bàn Hà Nội hiện nay
là rất thấp so với điều kiện kinh tế xã hội. Thanh niên khuyết tật rất khó khăn trong
việc đảm bảo cuộc sống và những chi phí cá nhân cho mình.
22
Đa số thanh niên khuyết tật đều có những hành động tích cực để kiếm việc làm
cho mình, họ đã biết huy động nhiều nguồn lực khác nhau, đặc biệt là từ những
người cùng hoàn cảnh, sự trợ giúp của gia đình và xã hội.
Nhìn chung, thanh niên khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn trong công việc. Những
khó khăn đó chủ yếu là về sức khỏe, trình độ văn hóa, tay nghề và sự kỳ thị, bất bình
đẳng của xã hội trong việc nhìn nhận và tuyển dụng người khuyết tật vào làm việc.
Những mong muốn, đề nghị của thanh niên khuyết tật vận động vẫn tập trung đi sâu
vào những vẫn đề giúp đỡ học nghề, hướng nghiệp và khắc phục những thiếu hụt do
điều kiện sức khỏe để làm việc một cách tốt nhất. [23, tr. 110]
Nghiên cứu "Nhu cầu, năng lực học nghề và tìm kiếm việc làm của nữ thanh
niên khuyết tật- Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Vĩnh Phúc" do tác giả Bùi Kim Chi
chủ trì, năm 2006. Đề tài đã tìm hiểu nhu cầu và năng lực tìm kiếm việc làm của nữ
thanh niên khuyết tật, các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu và năng lực tìm kiếm việc
làm và đề xuất những biện pháp giúp họ đáp ứng nhu cầu việc làm, phát huy khả
năng của bản thân và đóng góp cho gia đình, xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy
nhu cầu về học nghề và việc làm của nữ thanh niên khuyết tật ở đây chủ yếu tập
lực tìm việc làm. Khách thể nghiên cứu được xem xét là những người thụ động chờ cơ
hội việc làm do các cơ quan đoàn thể giới thiệu. Kỹ năng tìm việc làm chưa được đề
cập đến ở nghiên cứu này.
Tóm lại, các nghiên cứu về người khuyết tật dưới góc độ tâm lý học còn ít và chủ
yếu đi vào nghiên cứu về nhận thức và nhu cầu xoay quanh một số vấn đề đời sống và
việc làm của người khuyết tật. Vấn đề kỹ năng tìm việc làm của người khuyết tật nói
chung và kỹ năng tìm việc làm của người khuyết tật vận động nói riêng, chưa được
nghiên cứu. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu này.
1.2. Một số vấn đề lý luận chung về kỹ năng tìm việc làm của thanh niên
khuyết tật vận động
1.2.1. Khái niệm kỹ năng
1.2.1.1. Một số định nghĩa về kỹ năng
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều
định nghĩa khác nhau cho khái niệm kỹ năng. Trong từ điển tiếng Anh, thuật ngữ
chỉ kỹ năng "Skill" được định nghĩa là: “the ability (from training and practise) to
24
do something well”, (dịch nghĩa: “khả năng (do được huấn luyện và thực hành) để
làm tốt một việc nào đó" [42; pg. 589]
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa "Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế" [27, tr. 520]
Dưới góc độ tâm lý học, có thể khái quát thành hai luồng tư tưởng là quan
niệm coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động và quan niệm coi kỹ năng là mặt
năng lực của con người:
-Hướng quan niệm coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động.
Theo quan niệm này, kỹ năng là phương thức hành động đã được con người
nắm vững. Có nghĩa là con người có tri thức về một hành động nào đó, là con người
nắm được các tri thức về cách thức tiến hành hành động đó và thực hiện hành động
đúng yêu cầu của nó. Với quan niệm này, các tác giả không đề cập đến vấn đề kết
quả của hành động. Bởi họ quan niệm thực hiện đúng kỹ thuật hành động thì chắc
Paul Hersey, Ken Blanc Hard quan niệm: "Kỹ năng là khả năng sử dụng tri
thức, các phương pháp, kỹ thuật và thiết bị cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhất
định có được từ kinh nghiệm, giáo dục và đào tạo." [29, tr. 10]
Trong "Từ điển Tâm lý học" do Vũ Dũng chủ biên: "Kỹ năng là năng lực vận
dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực
hiện những nhiệm vụ tương ứng." [9, tr. 131]
Theo tác giả Phạm Thành Nghị (2011), "kỹ năng là khả năng vận dụng kiến
thức để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể." [24, tr. 78]
Theo các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát và Nguyễn Quang Uẩn (1995),
"Kỹ năng là một hệ thống các hành động thể lực và trí tuệ, các biện pháp và cách thức
mà nhờ đó, một dạng hoạt động nào đó được thực hiện và đạt tới mục đích đề ra."
Kỹ năng không đồng nhất với kiến thức. Bất kỳ một kỹ năng nào cũng đều đòi
hỏi phải có sự hiểu biết, có kiến thức nhất định. Song không phải kiến thức nào
cũng có sự liên hệ với một kỹ năng tương ứng. Ví dụ như kiến thức lịch sử. Kiến
thức biểu hiện chủ yếu trong các phán đoán và lập luận trong đó phản ánh đúng đắn
hiện thực. Còn kỹ năng biểu hiện rõ nét trong các hành động thể chất hoặc trí tuệ.
Kỹ năng thuộc về hoạt động thực tế và sự vận dụng kiến thức. Thiếu kiến thức thì
không thể hình thành được kỹ năng
26
Kỹ năng cần phải tương ứng với dự định của bản thân. Bất kỳ một kỹ năng nào
cũng đòi hỏi sự đầy đủ, sự đúng đắn nhất định của các thao tác riêng lẻ. [6, tr. 105]
Về thực chất, quan niệm coi kỹ năng là mặt năng lực của con người không phủ
nhận quan niệm coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, mà chỉ là mở rộng thêm
thành phần cấu trúc của kỹ năng, đặc biệt là các yếu tố định tính như tinh thần, tri
thức, khả năng trí tuệ. Trong cuộc sống, điều kiện hành động không phải là ổn định
trong mọi trường hợp. Do vậy, khi thực hành động chủ thể phải tùy hoàn cảnh, mục
đích mà sử dụng các thao tác cho phù hợp.
Từ các quan niệm trên, chúng tôi đưa ra cách hiểu về khái niệm kỹ năng trong
đề tài nghiên cứu này như sau: