Cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ thanh niên khuyết tật vận động tại hà nội (nghiên cứu tại hội thanh niên khuyết tật hà nội) - Pdf 38

Cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản của nữ thanh niên khuyết tật vận động
tại Hà Nội (Nghiên cứu tại Hội thanh niên
khuyết tật Hà Nội)
Đặng Huyền Trang

Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Công tác xã hội; Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn: GS.TS Đặng Cảnh Khanh
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Công tác xã hội; Sức khỏe sinh sản; Người thiểu năng thể chất;
nữ; Chăm sóc sức khỏe

Phụ

Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Tỉ lệ người khuyết tật trên thế giới ngày càng tăng và hiện chiếm đến 15% dân số toàn cầu,
tương đương 1 tỉ người. Đây là con số thống kê mới nhất của Ngân hàng thế giới (World Bank)
và Tổ chức y tế thế giới (WHO) được công bố ngày 9/6/2011 [21, tr. xi]. Ở Việt Nam, theo thống
kê từ kết quả Tổng điều tra dân số 2009, tỉ lệ khuyết tật là gần 6%[8]. Con số này cũng gần với tỉ
lệ khuyết tật theo báo cáo của Bộ Lao động thương binh xã hội năm 2009, trong đó, tỉ lệ người
khuyết tật ở nữ cao hơn đôi chút so với nam ở tất cả các dạng khuyết tật và mức độ khó khăn.
Hầu hết người khuyết tật đều thuộc các hộ nghèo. Có đến 80% người khuyết tật sống phụ thuộc
vào nguồn trợ cấp từ gia đình hoặc xã hội thông qua Nhà nước hoặc cộng đồng. Chính vì vậy,


vấn đề người khuyết tật đang ngày càng đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội trên nhiều khía
cạnh.
Ngày 13 tháng 12 năm 2006, Liên hợp quốc (UN) đã chính thức thông qua Công ước về

NKT để chỉ nhóm người này. Thuật ngữ này diễn đạt sự khuyết thiếu chủ yếu do khách quan, bất khả kháng, ngoài
mong đợi... Đây là khái niệm vừa mang ý nghĩa tôn trọng, vừa có ý nghĩa động viên NKT phấn đấu vươn lên.‟
(VNU. (2009). „NKT ở nông thôn Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội.‟ Retrieved ngày 23 tháng 3, 2010,
from />

dục của người khuyết tật cũng hết sức quan trọng bởi đây là một phần thiết yếu trong cuộc sống
hàng ngày của tất cả mọi người trong xã hội. Tuy nhiên, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản
(SKSS) của người khuyết tật hiện nay đang còn là một khoảng trống lớn và chưa được đề cập
đầy đủ trong các chính sách, chương trình can thiệp. Các cơ sở y tế chăm sóc SKSS vẫn còn tạo
ra một khoảng cách khá lớn đối với những bệnh nhân là người khuyết tật.
Thực tế cho thấy, người khuyết tật cũng có những nhu cầu, những vấn đề liên quan đến
SKSS cần được chăm sóc như những người không khuyết tật. Ví dụ như nhóm người khuyết tật
vận động có thể gặp tình trạng cơ quan vận động bị tổn thương do bẩm sinh, do chấn thương, tai
nạn hay hậu quả của một số bệnh… Điều đó gây nên cho họ những khó khăn khi di chuyển, hoạt
động cầm nắm, đứng, ngồi… Tuy nhiên, hầu hết người khuyết tật vận động có năng lực trí tuệ
phát triển bình thường cũng như khả năng sinh sản bình thường. Đặc biệt với nữ khuyết tật vận
động, họ đều có thể gặp phải những vấn đề SKSS như mang thai, nạo phá thai, sinh con, viêm
nhiễm đường sinh sản cần được chăm sóc. Thậm chí, do tính dễ bị tổn thương và khả năng tự
phòng vệ thấp, họ còn có nguy cơ bị quấy rối, lạm dụng tình dục cao hơn. Vì vậy, nhu cầu được
chăm sóc SKSS tình dục của họ còn cao hơn so với những người không khuyết tật. Họ cũng phải
đối mặt với các nguy cơ cao trong việc bị ép buộc triệt sản, ép buộc nạo thai, hôn nhân cưỡng
bức. Một cuộc nghiên cứu tại ấn Độ cho thấy phần lớn phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật bị đánh
đập ở gia đình, 25% phụ nữ khuyết tật thất học bị cưỡng hiếp và 6% phụ nữ khuyết tật bị ép buộc
triệt sản. Chính vì vậy, điều 25 trong công ước về quyền người khuyết tật của Đại Hội đồng Liên
hợp quốc kỳ họp 61 năm 2006 đã nêu rõ: “cần phải cung cấp cho người khuyết tật các dịch vụ và
chương trình y tế cùng mức, có chất lượng, đạt tiêu chuẩn, miễn phí hoặc với mức phí có thể
chấp nhận được, tương tự như cung cấp cho những người không khuyết tật khác, bao gồm các
dịch vụ y tế về sức khoẻ tình dục và sinh sản và các chương trình y tế cộng đồng về dân số.
Vì vậy, rất cần thiết phải có sự tìm hiểu về các rào cản đang cản trở việc chăm sóc SKSS đối
với nữ khuyết tật hiện nay. Đó là lý do tôi chọn chủ đề nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao

người khuyết tật không được mong đợi hay lường trước rằng họ sẽ sử dụng dịch vụ (bao gồm
việc tư vấn, điều trị hay cung cấp thông tin) từ các phòng khám kế hoạch hóa gia đình. Như
vậy,các phòng khám kế hoạch hóa gia đình tại Bắc Ai Len đại diện cho một nhóm trong xã hội
từ chối cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình của người khuyết tật [16].
“Những rào cản đối với việc duy trì SKSS ở nữ khuyết tật vận động”: Nghiên cứu
định tính do Margaret A.Nosek và các cộng sự tiến hành năm 1995 tại Mỹ trên 30 phụ nữ khuyết


tật vận động. Nội dung nghiên cứu được chia thành hai phần chính là những trải nghiệm của
người tham gia nghiên cứu, bao gồm sự tương tác với các nơi chăm sóc y tế thời thơ ấu, cơ hội
học về SKSS, những trải nghiệm về lạm dụng tại các nơi chăm sóc y tế và khuyết tật như một
yếu tố nguy cơ của các vấn đề SKSS; và đặc điểm của hệ thống y tế cùng các cán bộ chăm sóc
bao gồm vấn đề bảo hiểm sức khỏe, chính sách hệ thống y tế, thái độ người cung cấp dịch vụ, cơ
sở vật chất tại dịch vụ… Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ của các đặc điểm
hệ thống y tế cùng với cán bộ y tế về kiến thức, niềm tin và trải nghiệm của phụ nữ khuyết tật khi
họ nỗ lực duy trì việc chăm sóc SKSS. Tình trạng khuyết tật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các yếu
tố bên trong dẫn đến các hành vi duy trì SKSS như kiến thức, niềm tin, các yếu tố tâm lý và các
kinh nghiệm về chăm sóc y tế. Trong khi tự bản thân vấn đề khuyết tật không tác động trực tiếp
vào các yếu tố môi trường như hệ thống y tế và người chăm sóc thì điều kiện, cách thức và các
điều kiện y tế phản ứng với người phụ nữ. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến các yếu tố bên
trong. Như vậy, cả hai yếu tố này lần lượt đều ảnh hưởng đến việc chăm sóc SKSS [15].
“Những rào cản trong việc tiếp cận với các dịch vụ SKSS và làm mẹ an toàn: trường
hợp nữ khuyết tật ở Lusaka, Zambia”: Đây là nghiên cứu định tính được thực hiện trên 24
phụ nữ khuyết tật và 25 cán bộ cung y tế tại các dịch vụ chăm sóc SKSS và làm mẹ an toàn tại
Lusaka, Zambia. Nghiên cứu nhằm mục đích xác định chất lượng của các dịch vụ chăm sóc
SKSS và làm mẹ an toàn tại đây liệu có đáp ứng được nhu cầu của phụ nữ khuyết tật hay không.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ khuyết tật đang phải đối mặt với nhiều rào cản khác nhau về
mặt xã hội, thái độ và thể chất trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS và làm mẹ an toàn.
Mong muốn mạnh mẽ về mặt tình cảm và có con có thể làm tăng tính dễ tổn thương bị bóc lột
tình dục. Đồng thời, một giả thuyết tổng quát trong nhóm những người cung cấp dịch vụ chăm

người khuyết tật [14]. Đặc biệt, chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề chăm sóc SKSS cho
người khuyết tật. Công tác xã hội là một ngành khoa học còn mới ở Việt Nam, chính vì vậy cũng
chưa có một nghiên cứu nào liên quan đến vấn đề này nhìn từ góc độ công tác xã hội.
Báo cáo về người khuyết tật của Viện nghiên cứu phát triển xã hội năm 2008 đã đề cập
đến rất nhiều khía cạnh xã hội liên quan đến người khuyết tật, đề cập đến các khó khăn và cách
giải quyết của họ trong các vấn đề về sinh hoạt hàng ngày, giáo dục, việc làm, phục hồi chức
năng, tham gia các hoạt động xã hội và tiếp cận thông tin, dịch vụ y tế nói chung và đặc biệt là
có đề cập đến vấn đề hôn nhân, duy trì hôn nhân và sinh con của người khuyết tật. Tuy nhiên,
vấn đề tình dục của người khuyết tật chưa được quan tâm nghiên cứu sâu, nghiên cứu chỉ ra rằng
một trong những lý do người khuyết tật cảm thấy khó khăn trong duy trì hôn nhân là thiếu hòa
hợp về tình dục, chiếm 8% trong tổng số các lý do về khó khăn trong việc duy trì hôn nhân, bên


cạnh các lý do chiếm đa số khác là khó đảm bảo được điều kiện sống cho gia đình (38%), cảm
thấy nuôi con vất vả (38%), và sinh con bị dị tật bẩm sinh (10%) và một lý do thiếu sự thông
cảm và khuyến khích từ vợ/chồng (5%). Tuy nhiên, việc thiếu hòa hợp về tình dục ở đây chưa
được chỉ ra một cách cụ thể [14].
Như vậy, rất cần thiết phải có thêm những nghiên cứu cụ thể về vấn đề chăm sóc SKSS của
nữ khuyết tật vận động nói riêng và người khuyết tật nói chung ở Việt Nam.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1.Ý nghĩa lý luận
Đề tài cung cấp những thông tin lý luận cơ bản về ảnh hưởng của những yếu tố khách quan
và chủ quan tác động đến tình trạng chăm sóc SKSS của người khuyết tật, đặc biệt là nữ thanh
niên khuyết tật vận động, đồng thời giúp những người làm trong lĩnh vực công tác xã hội nhận
thức đúng đắn những lý thuyết và phương pháp công tác xã hội trong lĩnh vực này.
3.2.Ý nghĩa thực tiễn
Giúp hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận của nữ thanh niên khuyết tật vận động với
các dịch vụ chăm sóc SKSS trong bối cảnh xã hội hiện nay, từ đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể
nhằm tăng cơ hội chăm sóc SKSS cho họ. Đồng thời, vận dụng các kiến thức đã học vào việc can
thiệp với một trường hợp cụ thể để thấy được hiệu quả của phương pháp công tác xã hội cá nhân

hợp, việc phối kết hợp các phương pháp sẽ mang lại hiệu quả cao trong trợ giúp thân chủ. Tuy
nhiên, trong phần thực hành của luận văn này, tác giả chỉ vận dụng phương pháp công tác xã hội
cá nhân trong viê ̣c hỗ trợ nữ thanh niên khuyết tật về mặt tâm lý và cung cấp thông tin về SKSS
nhằm tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của họ.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng vấn đề SKSS và việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên khuyết
tật vận động hiện nay như thế nào?
- Những rào cản nào ngăn cản cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên
khuyết tật vận động?
- CTXH cần làm gì để tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS đối với nữ thanh niên
khuyết tật vận động?

7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1.Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu những rào cản ngăn cản nữ khuyết tật vận động tiếp cận với các dịch vụ chăm
sóc SKSS, thông qua việc vận dụng các kiến thức về công tác xã hội trong nghiên cứu và can
thiệp đưa ra giải pháp của công tác xã hội trong việc cải thiện vấn đề này
7.2.Nhiệm vụ nghiên cứu:


-

Khảo sát thực trạng chăm sóc SKSS và việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc của nữ
thanh niên khuyết tật vận động

-

Những rào cản ngăn cản việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ thanh niên
khuyết tật


danh sách, tác giả đã liên hệ trực tiếp với từng người để phỏng vấn. Ngoài ra, tác giả còn phỏng
vấn sâu 02 phụ huynh của nữ khuyết tật vận động và 01 cán bộ y tế tại cơ sở chăm sóc SKSS
nhằm tìm hiểu những suy nghĩ của họ về những rào cản nữ khuyết tật vận động đang gặp phải
trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS.
Khi được liên hệ, mỗi người tham gia phỏng vấn đều được giới thiệu về mục đích nghiên
cứu, nội dung nghiên cứu và xin phép ghi âm cuộc phỏng vấn. Các cuộc phỏng vấn đều được
tiến hành một cách riêng tư, kín đáo tại nơi làm việc, nhà riêng của người tham gia phỏng vấn


hoặc địa điểm công cộng như quán café. Trung bình một cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 30 – 45
phút.
8.1.3. Phương pháp quan sát
Phương phá p này đươ ̣c sử du ̣ng trong quá trình làm viê ̣c và tiế p xúc với thân chủ cu ̣
thể . Quan sát hành vi , thái độ , cách ứng xử , sinh hoa ̣t của thân chủ và gia đình thân chủ giúp
tác giả có thêm thông tin cơ sở để nhận định vấn đề .
8.2.

Phương pháp thực hành

Phương pháp công tác xã hội cá nhân: là phương pháp thực hành để can thiệp với một trường
hợp điển cứu là nữ thanh niên khuyết tật vận động. Thông qua phương pháp này, nhân viên
CTXH giúp đỡ, hỗ trợ thân chủ vượt qua khó khăn bằng cách giúp họ đánh giá, xác định vấn đề,
trang bị thêm cho họ thông tin, kiến thức và tìm kiếm tiềm năng, tăng cường sức mạnh và nâng
cao năng lực tự giải quyết vấn đề của họ. Trong quá trình sử dụng phương pháp CTXH cá nhân,
nhân viên CTXH dùng các quan điểm giá trị, kiến thức, kinh nghiệm và chủ yếu vận dụng các kỹ
năng tham gia vào việc giải quyết vấn đề của thân chủ như kỹ năng thấu cảm, kỹ năng quan sát,
kỹ năng phản hồi, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng cung cấp thông tin…
Phương pháp này là một tiến trình hoạt động của nhân viên CTXH, trong đó bao gồm các
bước chính như: Tiếp cận thân chủ, xác định vấn đề, thu thập thông tin dữ liệu, chuẩn đoán, lên
kế hoạch trị liệu, trị liệu và lượng giá.

13. Heather Becker (1997), Reproductive health care experiences of women with physical
disabilities: A qualitative study, Archives of Physical Medicine and Rehabilitation Vol. 78,
Issue 12, Supplement 5, Pg S26-S33
14. Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng et al (2008). People with disabilities in Vietnam,
National political publishing house.


15. Margaret A.Nosek et al (2009), Barriers to Reproductive Health Maintenance Among
Women with Physical Disabilities, of Women's Health, Volume: 4 Issue 5: April 25, Pg
505-518
16. Paul Anderson, Rob Kitchin (2000), Disability, space and sexuality: access to family
planning services, Social Science & Medicine, Volume 51, Issue 8, Pg 1163-1173
17. UN (2006). Convention on the Rights of Persons with disabilities Assembly, UN. 61th
session
18. USAID (2005), Vietnam disability situation assessment and program review
19. UNFPA (2009), A situation analysis of the Sexual and Reproductive health of Women
with disabilities, United Nation Population Fund
20. WHO & UNFPA (2009). Promoting sexual and reproductive health for persons with
disabilities.
21. WHO and World Bank (2011), World report on disability, World Bank

III. TÀI LIỆU TRỰC TUYẾN
22. Bình An (2011), Những giải pháp trong chăm sóc sức khỏe sinh sản,
ngày 17/11/2011
23. Bình An (2011), Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 –
2010 đã đạt nhiều chỉ tiêu quan trọng, ngày 17/11/2011
24. Bộ lao động thương binh vã xã hội, Các khái niệm về dịch vụ xã hội và dịch vụ xã hội
cho người yếu thế,
/>25. Hồng Kỳ (2011), Nhân loại có một tỷ người khuyết tật, ngày 11/06/2011
26. HP,

ngày 12/12/2012
29. Phan Anh (2012), Sức khỏe sinh sản và tình dục của người khuyết tật,
/>v&p_p_lifecycle=0&p_p_state=normal&_62_INSTANCE_Z5vv_struts_action=%2Fjour
nal_articles%2Fview&_62_INSTANCE_Z5vv_version=1.0&_62_INSTANCE_Z5vv_gr
oupId=18&_62_INSTANCE_Z5vv_articleId=2317




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status