VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN HÙNG
TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA LAO
ĐỘNG TRẺ DI CƢ ĐẾN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc)
N n : Xã hội học
M ố 9 31 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2019
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
N ƣời ƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Đặng Nguyên Anh
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Chí Dũng
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Thị Thục
Phản biện 3: PGS.TS. Mai Văn Hai
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Học
viện tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
mặt lý luận chúng tôi đề xuất đề tài cho luận án của mình là Tiếp cận dịch vụ
CSSKSS của lao động trẻ di cư đến các KCN hiện nay, với hi vọng đóng góp
thêm các luận cứ khoa học phục vụ mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay.
2. Mục đíc
Đem lại một sự hiểu biết toàn diện và có hệ thống về thực trạng tiếp cận
dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN tại địa bàn 2 tỉnh
Bắc Giang và Vĩnh Phúc. Không chỉ dừng lại ở việc mô tả hiện tượng, luận án còn
đi sâu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao
động trẻ di cư làm việc tại các KCN trên địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc.
Từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục khó khăn, nhằm tăng cường khả năng
tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN thuộc địa
bàn khảo sát.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN ở
ba khía cạnh đó là: Thông tin, tư vấn về SKSS/KHHGĐ; BPTT và các bệnh
LTQĐTD.
2
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Về không gian
Cuộc nghiên cứu được tiến hành khảo sát thực địa tại 4 KCN thuộc địa
bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc.
3.2.2. Về thời gian
Được tính từ khi lao động trẻ đi làm việc tại các KCN tính đến thời điểm
khảo sát.
3.2.3. Về vấn đề nghiên cứu
Tác giả chỉ tập trung vào 3 khía cạnh là: Việc tiếp nhận thông tin, tư vấn
3
nói chung, cũng như về CSSKSS của họ là khá đa dạng và phong phú. Tuy nhiên,
trong bức tranh chung đó vẫn còn đường nét và mảng mầu bị khuất lấp, hoặc được
phản ánh song khá mờ nhạt, mà chủ đề nghiên cứu về tiếp cận dịch vụ CSSKSS
của lao động trẻ di cư tại các KCN là một ví dụ. Nhiệm vụ của luận án là tập trung
mô tả, phân tích những thuận lợi và khó khăn của lao động trẻ di cư trong tiếp cận
dịch vụ CSSKSS, những rào cản, yếu tố xã hội tác động đến tiếp cận dịch vụ
CSSKSS của họ. Kết quả là luận án đã mang lại một sự hiểu biết mới tương đối
toàn diện và có hệ thống về vấn đề tiếp cận dịch vu CSSKSS của lao động trẻ di
cư tại 4 KCN Song Khê - Nội Hoàng, KCN Đình Trám, KCN Khai Quang và
KCN Kim Hoa thuộc địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc, qua đó góp phần
làm giầu có hơn và mới hơn cho bức tranh về di cư và CSSKSS của những người
di cư đã được định hình từ trước.
6. Ý n ĩa lý luận v ý n ĩa t ực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Ý nghĩa lý luận của luận án này được thể hiện ở chỗ tác giả đã định nghĩa
và thao tác hóa một số khái niệm có liên quan như: “tiếp cận dịch vụ”, “chăm sóc
sức khỏe sinh sản”, “lao động trẻ”, “di cư”, “khu công nghiệp”, v.v... Việc định
nghĩa và thao tác hóa như vậy góp phần làm sáng tỏ hơn nội hàm và ngoại diên
của các khái niệm này với tư cách là khái niệm để làm việc. Bên cạnh đó, việc vận
dụng các lý thuyết xã hội học như: lý thuyết về hành động xã hội; lý thuyết lựa
chọn hợp lý; lý thuyết mạng lưới xã hội trong luận án cũng góp phần kiểm chứng
tính phổ biến và mức độ phù hợp của các lý thuyết này trong điều kiện cụ thể của
Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Xã hội Việt Nam đang ở trong tiến trình thúc đẩy CNH, HĐH, do đó việc
di cư đang ngày càng gia tăng về số lượng và đa dạng về hình thức và trở thành
một quy luật tất yếu. Điều này vừa là cơ hội vừa đặt ra không ít vấn đề cho địa
của người di cư đã đưa ra nhiều nội dung để đo lường, đánh giá bao gồm hiểu biết
về các lệnh LTQĐTD, nhiễm khuẩn đường sinh sản, BPTT. Kết quả cho thấy,
trong số những người đã nghe/biết bất kỳ bệnh LTQĐTD, có 79,1% người
nghe/biết về bệnh lậu, 46,2% người nghe/biết về bệnh Condyloma, 86,1% người
nghe/biết về bệnh giang mai, 14,5% người nghe/biết về bệnh hạ cam và 82,2%
nghe/biết về bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản. Đáng quan tâm hơn có đến 75%
nhận định không sử dụng bất kỳ BPTT nào trong lần quan hệ tình dục đầu tiên.
Trong số ít người có sử dụng BPTT, có 85,5% cho rằng họ hài lòng với biện pháp
hiện dùng, 46,6% lực lượng lao động di cư đã không biết về những ưu
điểm/nhược điểm của phương pháp và 75,3% không có kiến thức về ngừa thai
khẩn cấp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có tới 23,4% số người được hỏi trả lời đã
có quan hệ tình dục trước hôn nhân (một tháng trước cuộc điều tra) trong đó có
14,0% sử dụng BCS [73].
Không nằm ngoài biến động chung ở khu vực cũng như trên thế giới. Ở
Việt Nam, vào năm 2004 Tổng cục Thống kê đã thực hiện nghiên cứu về “Cần
đáp ứng nhu cầu CSSKSS/KHHGĐ của người di cư” cho thấy, hiểu biết về chăm
sóc SKSS/KHHGĐ của người di cư chưa đầy đủ; nhận thức về các vấn đề
SKSS/KHHGĐ, phá thai và bệnh LTQĐTD còn hạn chế; tỷ lệ sử dụng các BPTT
thấp (65,8%), nhất là phụ nữ tuổi 15-24 và chưa lập gia đình. Người di cư thường
5
tìm đến các hiệu thuốc khi gặp vấn đề về SKSS, do không biết nơi cung cấp dịch
vụ này [53].
Một nghiên cứu khác cũng nhận định, rất ít nữ di cư đã phải điều trị viêm
nhiễm đường sinh sản, nhưng nguy cơ mắc bệnh của họ vẫn cao vì điều kiện vệ
sinh, nước sinh hoạt của khu ở trọ không đảm bảo. Trong khi đó, môi trường
chính sách chung hiện nay đã có nhiều cải thiện trong việc quản lý người di cư.
Việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cũng không có sự phân biệt giữa người di
cư và người dân tại chỗ. Bản thân chính quyền các địa phương thì cam kết và đáp
6
1.2. Vấn đề tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao độn di cƣ tại các KCN
Hiểu biết của người di cư về SKSS và các bệnh LTQĐTD
Hiện người di cư đã có kiến thức về các bệnh LTQĐTD tương tự như
người dân tại chỗ. Có trên 80% người di cư cũng như người dân tại chỗ đã
nghe/biết đến các bệnh LTQĐTD, trong đó các bệnh được nghe biết đến nhiều
nhất là Lậu, Giang mai, Viên gan B [30].
Đặc biệt nhận thức về sử dụng các BPTT và KHHGĐ của người di cư
tăng lên đáng kể sau khi họ chuyển đến nơi ở mới. Thực tế này cho thấy người di
cư ít có khả năng làm tăng mức sinh tại nơi ở mới. Tuy vậy, số liệu điều tra lại
phát hiện ra vẫn còn 15% số phụ nữ được hỏi đã từng nạo hút thai, trong đó 1/3
trong số này chưa có gia đình [33]. Không những thế, tỷ lệ người nghe biết các
bệnh LTQĐTD đương đối cao (82,1% đến 90,5%). Trong đó nam giới nghe nói
tên các bệnh LTQĐTD cao hơn nữ giới, những người có thời gian cư trú dài tại
nơi ở hiện tại có hiểu biết về các bệnh LTQĐTD cao hơn người di cư có thời gian
cư trú tại nơi ở hiện tại ngắn hơn [55].
Về lây nhiễm HIV/AIDS thì ngược lại, tỷ lệ đã từng nghe đến HIV/AIDS
của người di cư và không di cư rất cao (96,8% người di cư và 97,4% người không
di cư) [30].
Sử dụng dịch vụ SKSS/KHHGĐ của lao động di cư
Về KHHGĐ, bằng phương pháp tổng quan tài liệu, trong bài tham luận về
“Di cư và sức khỏe ở Việt nam, thực trạng, xu hướng và hàm ý chính sách” (Lưu
Bích Ngọc, 2016) cũng đưa ra nhận định rằng ở nhóm phụ nữ 15-49 tuổi có chồng
di và cả chồng họ có tỷ lệ sử dụng BPTT thấp hơn nhóm không di cư (37,7% so
với 58,6%). Một trong những nguyên nhân tạo nên khác biệt ở đây là tỷ lệ phụ nữ
di cư chưa có chồng cao hơn phụ nữ không di cư (61,0% so với 43,2%) và tỷ lệ
phụ nữ di cư muốn có thêm con cũng cao hơn (14,2% so với 10,7%) [30].
Cuộc điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di dân và sức khỏe do Tổng cục
công nhân trong các KCN gặp nhiều khó khăn vì thời gian làm việc của họ rất
“kín” và kéo dài. Ngay cả việc tổ chức đội lưu động vào tại doanh nghiệp để cung
cấp dịch vụ CSSKSS cũng không nhận được sự đồng thuận của lãnh đạo doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, kiến thức về lĩnh vực CSSKSS, KHHGĐ của công nhân còn
thiếu và không đầy đủ. Trong khi đó, phần lớn người lao động là những người trẻ,
trên dưới 30 tuổi, nhu cầu về kiến thức của họ còn rất nhiều trong khi những hành
vi thực hành về SKSS/KHHGĐ còn chưa đúng.
Vai trò của các nhóm, các tổ chức xã hội trong các KCN chưa được thể
hiện rõ nét, chưa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, trong đó có quyền
được chăm sóc SKSS/SKTD của người di cư.
Do điều kiện sống, tình trạng cư trú nhóm lao động di cư đã bị lãng quên
trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách về CSSKSS/KHHGĐ, điều đó
ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận dịch vụ của bản thân họ.
C ƣơn 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Địn n ĩa v iải thích các khái niệm làm việc
2.1.1. Khái niệm “tiếp cận”
Tiếp cận là khả năng, quyền hay cơ hội có hoặc sử dụng những thứ có thể
mang lại lợi ích (Từ điển Mac Millan). Tiếp cận còn có nghĩa sự sẵn có của hệ
thống dịch vụ nào đó khi người sử dụng cần đến.
2.1.2. Khái niệm “sức khoẻ sinh sản”
8
Năm 1994, Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển họp tại Cairô, thủ đô
của Ai-Cập đã đưa ra định nghĩa về SKSS được tất cả các nước trên thế giới chấp
thuận và cam kết thực hiện: “SKSS là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất tinh thần
và xã hội, không chỉ đơn thuần không có bệnh, tật hoặc tàn phế của hệ thống sinh
sản. Điều này cũng hàm ý mọi người kể cả nam và nữ đều có quyền được nhận và
tiếp cận các dịch vụ về CSSKSS, các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả và
xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện,
trình tự và thủ tục quy định [9].
9
Thao tác hóa khái niệm
Sơ đồ thao tác hóa khái niệm
2.2. Các tiếp cận lý thuyết của luận án
2.2.1. Lý thuyết hành động xã hội
Weber đã chỉ ra sự khác nhau giữa hành động xã hội và khác và những
hành vi, hoạt động khác của con người. Nói tới hành động xã hội là nói tới việc
chủ thể gắn cho hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan nào đó. Hành động, kể cả
hành động thụ động và không hành động, được gọi là hành động xã hội khi ý
nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại
hay trong tương lai, ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động. Không phải hành
động nào cũng có tính xã hội hay đều là hành động xã hội, hành động chỉ nhằm tới
các sự vật mà không tính đến hành vi của người khác thì không được gọi là hành
động xã hội [28].
Trong nghiên cứu này, lý thuyết hành động xã hội được áp dụng để xác
định bản thân lao động trẻ di cư, khi quyết định rời quê hương để đi tìm kiếm việc
làm tại địa phương khác, hay sử dụng dịch vụ CSSKSS tại nơi ở mới là một hành
động có động cơ và mục đích, quyết định di cư có thể được quyết định từ cá nhân
họ hay do tác động từ yếu tố bên ngoài, chịu sự chi phối bởi bối cảnh xã hội. Và
hành động có chủ đích nhưng cũng phải phù hợp với các khuôn mẫu quan hệ đã
được cấu trúc hóa bên trên các nhóm, tổ chức, thiết chế xã hội.
2.2.2. Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Lý thuyết lựa chọn hợp lý, hay nói đầy đủ hơn là lý thuyết trao đổi và lựa
chọn hợp lý/duy lý. Lý thuyết lựa chọn hợp lý gắn liền với tên thuổi của George
Homans, James Coleman. James Coleman giải thích hiện tượng xã hội bằng
Ứng dụng vào luận án này, lý thuyết mạng lưới xã hội đã gợi ý cho chúng
tôi rất nhiều về vai trò quan trọng của các mối quan hệ xã hội trong việc thúc đẩy
quá trình di cư. Bởi di cư vốn là quá trình mang nhiều bất trắc, một mạng lưới xã
hội tin cậy sẽ góp phần làm giảm bớt những rủi ro. Các liên kết xã hội giữa nơi
xuất cư và nhập cư sẽ góp phần giảm các rào cản (kinh tế, tâm lý, văn hóa) của
quá trình di cư, đồng thời làm tăng vận hội thành công tại nơi đến.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất: Việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư đến các
KCN hiện nay đang diễn ra như thế nào? Những thuận lợi và khó khăn mà họ
đang gặp phải là gì?
Thứ hai: Yếu tố nào ảnh đến tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di
11
cư đến các KCN tại địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc?
Thứ ba: Những khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao
động trẻ di cư tại các KCN là hiện tượng xã hội mang tính phổ biến, hay nói khác
đi là mang tính quy luật trong tiến trình CNH, HĐH, hay đó chỉ là hiện tượng
mang tính ngẫu nhiên và tức thời không cần khắc phục?
2.3.2. Giải thuyết nghiên cứu
Thứ nhất: Việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ tại các KCN
hiện đang gặp phải nhiều khó khăn điều đó được thể hiện không chỉ ở khâu tiếp
nhận thông tin, tư vấn mà còn cả ở việc sử dụng các BPTT, phòng các bệnh
LTQĐTD.
Thứ hai: Những khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao
động trẻ ở các KCN hiện nay có nguồn gốc từ cả hai nhân tố khách quan và chủ
quan. Về khách quan, đó là điều kiện sống và làm việc ở một môi trường mới là
KCN mà lao động trẻ phải có khoảng thời gian để thích nghi. Còn về chủ quan, đó
là do nhận thức chưa đầy đủ của chính bản thân họ đối với vấn đề CSSKSS.
- Mức độ hài lòng
Tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di
cư đến các KCN
13
C ƣơn 3
THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN
CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI CƢ
3.1. T ực trạn tiếp cận t ôn tin, tƣ vấn về CSSKSS/KHHGĐ.
3.1.1. Hiểu biết về dịch vụ
Có tới 86,2% số lao động trẻ di cư biết về dịch vụ thông tin, tư vấn về
CSSKSS/KHHGĐ. Lao động trẻ di cư cũng có ý kiến khác nhau về cơ sở cung
cấp dịch vụ này, có 72,2% số người được hỏi trả lời Trạm Y tế có cung cấp thông
tin, tư vấn về CSSKSS/KHHGĐ, tiếp đến là các cơ sở y tế tư nhân, hiệu thuốc
(65,8% ý kiến).
3.1.2. Tiếp cận thông tin, tư vấn về CSSKSS/KHHGĐ
Có 72,7% số lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN đã được thông tin,
tư vấn về CSSKSS/KHHGĐ so với một tỷ lệ nhỏ (27,3%) người chưa được tiếp
cận. Tại các KCN có chính sách hỗ trợ cho công nhân, có tới 79,0% lao động trẻ
trả lời đã tiếp cận dịch vụ, tỷ lệ này của nhóm lao động không được hỗ trợ chỉ là
52,9%. Về giới tính, có 61,6% lao động nam đã được thông tin, tư vấn so với
79,6% lao động nữ trả lời. Về nhóm tuổi, chỉ có 68,2% số người tuổi từ 18-24 đã
được thông tin, tư vấn về SKSS/KHHGĐ, tỷ lệ này của người ở nhóm tuổi từ 2530 là 77,2%. Theo thành phần dân tộc, có 70,6% số người Kinh đã được thông tin,
tư vấn, trong khi có đến 82,1% số người thuộc các dân tộc khác khác (Tày, Nùng,
Dao, Thái...). Về tình trạng hôn nhân, có 68,4% số người chưa kết hôn đang làm
việc tại KCN đã được thông tin, tư vấn về CSSKSS/KHHGĐ so với 75,2% những
người đã kết hôn. Về đăng ký tạm trú, lao động trẻ di cư có đăng ký tạm trú cao
hơn nhiều so với nhóm không đăng ký tạm trú 79,5% so với 56,2%. Về khoảng
trong nghiên cứu, nhóm lao động trẻ di cư đã kết hôn đều có tỷ lệ hiểu biết cao
hơn nhóm chưa kết hôn.
3.2.2. Tiếp cận các biện pháp tránh thai của lao động trẻ di cư
Có 69,7% số lao động trẻ di cư được hỏi trả lời hiện đang sử dụng BPTT.
Có 3 BPTT đang được sử dụng nhiều nhất là BCS (46,1%); viên uống tránh thai
(40,6%) và đặt vòng tránh thai (32,7%). Biện pháp có tỷ lệ người sử dụng thấp
nhất là thuốc tiêm tránh thai và thuốc diệt tinh trùng/phim tránh thai. Theo tình
trạng hôn nhân, có tới 41,4% lao động trẻ chưa lập gia đình có sử dụng BPTT - có
nghĩa rằng họ đã quan hệ tình dục. Về giới tính, có 71,0% nam giới hiện đang sử
dụng ít nhất một BPTT, trong khi tỷ lệ nữ giới sử dụng là 69,0%. Về nhóm tuổi,
có 59,8% lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN tuổi từ 18-24 đang sử dụng ít
nhất 1 BPTT, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm tuổi từ 25-30 là 79,3%. Theo dân tộc,
có 69,9% lao động trẻ di cư là người Kinh đang sử dụng ít nhất một BPTT và tỷ lệ
này ở các thành phần dân tộc khác (Tày, Nùng, Dao, Thái...) là 68,6%. Theo thời gian
sống tại tại nơi đến, có tới 93,0% lao động trẻ di cư sống tại nơi đến > 5 năm trả lời
hiện đang sử dụng ít nhất 1 BPTT, tiếp đến là nhóm sống từ 1- 3 năm (70,5%). Tỷ lệ
của nhóm sống từ 3-5 năm là thấp nhất (58,6%).
3.2.3. Mức độ hài lòng của lao động trẻ di cư khi sử dụng các BPTT
Có 51,8% ý kiến trả lời hài lòng khi sử dụng các BPTT, 28,1% trả lời
bình thường và chỉ có 20,1% ý kiến trả lời không hài lòng. Có 54,4% người làm
15
việc tại KCN có chính sách hỗ trợ trả lời hài lòng khi sử dụng BPTT, tỷ lệ này ở
nhóm làm việc tại nơi không có chính sách hỗ trợ là 48,9%. Theo giới tính, có
58,8% lao động trẻ di cư là nam hài lòng khi sử dụng và tỷ lệ này của nữ giới là
47,4%. Theo nhóm tuổi, có 56,9% lao động trẻ di cư làm việc tại KCN tuổi từ 2530 hài lòng, trong khi tỷ lệ này ở nhóm tuổi từ 18-24 là 45,0%. Theo tình trạng
hôn nhân, có 44,1% người chưa kết hôn trả lời hài lòng khi sử dụng BPTT, tỷ lệ
này cao hơn ở nhóm đã kết hôn (54,1%).
3.3. Tiếp cận dịch vụ phòng tránh các bệnh LTQĐTD của lao động trẻ di cƣ
16
Có 51,8% ý kiến trả lời hài lòng khi đi tư vấn, xét nghiệm, 31,7% trả lời
bình thường và chỉ có 16,5% ý kiến trả lời không hài lòng.
Trong đó, có 51,6% người làm việc tại KCN có chính sách hỗ trợ trả lời
hài lòng khi tư vấn, xét nghiệm các bệnh LTQĐTD, tỷ lệ này ở nhóm làm việc tại
nơi không có chính sách hỗ trợ là 52,5%. Theo thành phần dân tộc, người Kinh trả
lời hài lòng cao hơn so với nhóm dân tộc khác (54,0% so với 43,3%,). Theo tình
trạng hôn nhân, có 43,9% người di cư chưa kết hôn đang làm việc tại KCN hài
lòng khi được tư vấn, xét nghiệm các bệnh LTQĐTD, tỷ lệ này cao hơn ở những
người đã kết hôn (55,9%). Theo trình độ học vấn, có 42,9% lao động trẻ di cư có
trình độ THCS nhận định hài lòng khi sử dụng dịch vụ, 54,3% người có học vấn
THPT và 70,4% người có trình độ trung cấp, dạy nghề, trong khi đó chỉ có 36,2%
người có trình độ CĐ, ĐH trở lên họ hài lòng khi tiếp cận. Mức nhập theo tháng
của lao động trẻ di cư, nhóm người có thu nhập < 3 triệu và từ 5-10 có tỷ lệ trả lời
hài lòng khi sử dụng dịch vụ thấp nhất (25,0% và 42,5%). Nhóm có thu nhập từ 45 triệu có tỷ lệ hài lòng cao nhất (57,1%), tiếp đến là nhóm có nhu nhập từ 4-5
triệu (55,9%).
C ƣơn 4
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ
CSSKSS CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI CƢ
4.1. N ữn yếu tố ản
ƣởn đến tiếp cận t ôn tin, tƣ vấn về
CSSKSS/KHHGĐ
4.1.1. Yếu tố ảnh hưởng đến hiểu biết về dịch vụ thông tin, tư vấn
Phân tích hồi quy logistic liên quan đến hiểu biết của lao động trẻ di cư về
dịch vụ thông tin, tư vấn CSSKSS/KHHGĐ, kết quả cho thấy.
Ở biến số giới tính, lao động trẻ di cư là nữ giới có khả năng hiểu biết về
dịch vụ thông tin, tư vấn CSSKSS/KHHGĐ cao gấp 3,875 lần so với nam giới,
với 95% CI dao động trong khoảng từ 1,946 - 7,717 (p < 0,001).
Ở biến số nhóm tuổi, những người ở nhóm tuổi từ 25-30 có khả năng hiểu
biết về dịch vụ thông tin, tư vấn CSSKSS/KHHGĐ cao gấp 2,682 lần so với
lần so với những lao động trẻ thường xuyên tăng ca, với 95% CI dao động trong
khoảng từ 0,079 - 0,469 (p < 0,001).
Biến số về chính sách hỗ trợ từ các KCN, những lao động trẻ di cư làm
việc tại các KCN có chính sách hỗ trợ khám sức khỏe định kỳ có khả năng được
tiếp cận thông tin, tư vấn về CSSKSS/KHHGĐ cao gấp 3,372 lần so với những
lao động không được hỗ trợ, với 95% CI dao động trong khoảng từ 1,824 - 6,232
(p < 0,001).
4.2. Những yếu tố ản ƣởn đến tiếp cận các BPTT của lao động trẻ di cƣ
4.2.1. Yếu tố ảnh hưởng đến hiểu biết về các BPTT
Phân tích hồi quy logistic về các yếu tố ảnh hưởng đến hiểu biết của lao
động trẻ di cư về các BPTT, kết quả cho thấy:
18
Biến số giới tính có ảnh hưởng đến hiểu biết về các BPTT của lao động
trẻ di cư, cụ thể là nữ giới có khả năng hiểu biết về các BPTT cao gấp 1,776 lần so
với nam giới, với 95% CI dao động trong khoảng từ 1,071 - 2,944 (p < 0,05).
Cũng tương tự, biến số về nhóm tuổi, hiểu biết về các BPTT của nhóm lao
động trẻ dư cư tuổi từ 25-30 có khả năng cao gấp 1,816 lần so với những người ở
nhóm tuổi từ 18-24, với 95% CI dao động trong khoảng từ 1,063 - 3,100 (p
Phân tích hồi quy logistic về các yếu tố ảnh hưởng đến hiểu biết của lao
động trẻ di cư về các bệnh LTQĐTD. Về biến số giới tính, kết quả cho thấy nữ
giới có khả năng nghe biết về các bệnh LTQĐTD cao gấp 5,097 lần so với nam
giới, với 95% CI dao động trong khoảng từ 2,211 - 1,175 (p < 0,001).
Biến số nhóm tuổi cũng tương tự, khi phân tích đa biến cho thấy những
người ở nhóm tuổi từ 25-30 có khả năng hiểu biết về các bệnh LTQĐTD dục cao
gấp 3,708 lần so với người ở nhóm tuổi từ 18-24, với 95% CI dao động trong
khoảng từ 5,539 - 9,074 (p < 0,05).
Biến số đăng ký tạm trú, những lao động trẻ đăng ký tạm trú có khả năng
hiểu biết về các bệnh LTQĐTD cao gấp 2,830 lần so với nhóm không đăng ký
tạm trú, với 95% CI dao động trong khoảng từ 1,103 - 7,261 (p < 0,05).
Bên cạnh đó, với biến số về thời gian sống tại nơi đến, so với những lao
động trẻ sống tại nơi đến < 1 năm, những người sống tại nơi đến trên 5 năm khả
năng hiểu biết về các bệnh LTQĐTD cao gấp 5,526, với 95% CI dao động trong
khoảng từ 1,063- 2,872 (p < 0,05).
Biến số về mức độ tăng ca của lao động trẻ di cư cũng có ảnh hưởng đến
hiểu biết về các bệnh LTQĐTD. So với nhóm lao động trẻ thường xuyên tăng ca,
những người không bao giờ tăng ca có xu hướng hiểu biết chỉ bằng 0,271 lần, với
95% CI dao động trong khoảng từ 0,079 - 0,926 ( p < 0,05).
Biến số thu nhập, lao động trẻ di cư có thu nhập hàng tháng từ 3-4 triệu
đồng có khả năng hiểu biết về các bệnh LTQĐTD chỉ cao bằng 0,042 lần so với
những lao động trẻ di cư có thu nhập dưới 3 triệu, với 95% CI dao động trong
khoảng từ 0,002 - 0,675 (p < 0,05). Người có thu nhập từ 4-5 triệu đồng có khả
năng hiểu biết chỉ cao bằng 0,054 lần, với 95% CI dao động trong khoảng từ
0,003 - 0,870 (p < 0,05)
Về biến số chính sách, những lao động làm việc tại các KCN có chính
sách hỗ trợ công nhân đi khám sức khỏe định kỳ có xu hướng hiểu biết về các
bệnh LTQĐTD cao gấp 3,563 lần so với những người không nhận được chính
sách hỗ trợ, với 95% CI dao động trong khoảng từ 1,504 - 8,439 (p < 0,001).
trước (chương 1), cũng như với cơ sở lý luận và thực tiễn đã được chọn lựa một
cách kỹ càng (chương 2), chúng ta đã đi sâu tìm hiểu một vấn đề xã hội vừa quan
21
trọng vừa mang tính thời sự là tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư
đến các KCN tại các địa bàn được khảo sát thuộc hai tỉnh Bắc Giang và Vĩnh
Phúc (Chương 3 và 4). Đến đây xin được điểm lại một số nét chính như sau:
Thứ nhất: Để thấy được thực tế tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ
tại các KCN hiện nay đã và đang vận hành ra sao, những lý do xã hội nào dẫn đến
tình trạng đó, chúng có phản ánh tính quy luật hay không, luận án đã tập trung vào
3 nội dung cơ bản – đó là tiếp cận các dịch vụ thông tin, tư vấn về
CSSKSS/KHHGĐ, sự hiểu biết và sử dụng BPTT và phòng chống các bệnh
LTQĐTD. Nhìn một cách tổng thể, cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng không chỉ việc
tiếp cận ở ba nội dung này là không đều đều, mà ở từng nội dung cũng có những
khác biệt nhất định giữa các nhóm nam và nhóm nữ, tuổi đời cao hay thấp, là
người kinh hay dân tộc ít người, đã lập gia đình hay chưa lập gia đình, có đăng ký
tạm trú hay không, thời gian sống tại KCN dài hay ngắn, mức độ tăng ca nhiều
hay ít, mức thu nhập cao hay thấp…Sự khác biệt cả ở đối tượng tiếp cận (tức nội
dung) lẫn chủ thể tiếp cận (tức các nhóm xã hội khác nhau) như vừa nêu cố nhiên
đã và đang dẫn đến không ít những khó khăn, bất cập không chỉ cho công tác
truyền thông dân số, mà quan trọng hơn còn cho CSSKSS của chính người lao
động. Cần nhấn mạnh ở đây là những khó khăn, bất cập như vừa nêu không chỉ có
ở Bắc Giang và Vĩnh Phúc, các nghiên cứu về đời sống và việc làm của lao động
trẻ tại các KCN của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và của nhiều nhà nghiên
cứu độc lập trên phạm vi cả nước – như ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Định,
Quảng Nam, Đà Nẵng – cũng cho kết quả tương tự - nghĩa là những khó khăn, bất
cập là hiện tượng mang tính quy luật của tiến trình CNH, HĐH ở bất cứ nơi nào.
Nếu so sánh với hệ thống luật pháp và các chính sách xã hội mà Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra về CSSK cho người lao động (được trình bầy trong chương 2 của
không tránh khỏi trong quá trình chuyển đổi từ lối sống nông nghiệp cổ truyền
sang lối sống công nghiệp và hiện đại. Và như vậy, dưới nhãn quan xã hội học,
luận án đã góp phần khẳng định tính phổ biến và mức độ chính xác các lý thuyết
trên trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba: So sánh kết quả nghiên cứu của luận án với Nghị quyết số 21NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội Nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương Khóa XII về Công tác Dân số trong tình hình mới, ban hành ngày
ngày 25 tháng 10 năm 2017, chúng ta dễ dàng nhận thấy giữa những yêu cầu và
mục tiêu về nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao, trong đó có việc CSSKSS cho người lao động nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước mà Nghị quyết đã đặt ra với thực tiễn đời sống đang diễn ra tại các
KCN hiện vẫn còn một khoảng cách. Trách nhiệm này không phải của riêng ai, nó
đòi hỏi sự lỗi lực không phải của các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các
chủ doanh nghiệp mà ở chính những lao động trẻ đang sống và làm việc tại các
23
KCN, mà còn ở giới khoa học, nhất là những người làm xã hội học dân số. Chỉ có
sự kết hợp đồng bộ như vậy chúng ta mới hy vọng xóa bỏ dần đi cái khoảng trống
đó.
Thứ tư: sau cùng, xét trên bình diện khoa học, cũng cần nói rằng dẫu đã
cố gắng rất nhiều nhưng chúng tôi tự biết, luận án của mình vẫn không tránh khỏi
những khiếm khuyết nhất định. Chẳng hạn, để nắm bắt một cách toàn diện về đối
tượng nghiên cứu là tiếp cận dịch vụ CSSKSS tất yếu phải đi phân tích cả các yếu
tố vi mô (như giới tính, nhóm tuổi, học vấn, tộc người, thời gian đến các KCN,
mức tăng ca, mức thu nhập ….) và vĩ mô (như tiến trình CNH, HĐH, nền kinh tế
thị trường, sự chi phối của TCH, HNQT và văn hóa cổ truyền …). Tuy nhiên, do
khuôn khổ của luận án có hạn, phần khác cũng do sự hạn chế về thời gian và cả
năng lực nữa, trong luận án này chúng tôi đã tập trung nhiều hơn vào loại yếu tố
vi mô, còn loại yếu tố mang tính vĩ mô vẫn chưa được phân tích một cách đầy đủ.
Hi vọng là sau luận án này, với những điều kiện đầy đủ hơn, chúng tôi sẽ còn