Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật sống tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại xã Tân An, Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ THỊ BÍCH HƢỜNG

TĂNG CƢỜNG KHẢ NĂNG
TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT SỐNG TẠI CỘNG ĐỒNG

(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TẠI XÃ TÂN AN –
CHIÊM HÓA – TUYÊN QUANG) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà Hà Nội – 2013
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu có
nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn
được thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai công
bố trước đây.
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2013
Học viên cao học

Hà Thị Bích Hường

Xác nhận của Chủ tịch hội đồng

Xác nhận của GVHD

GS.TS Phạm Tất Dong PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà


5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1.Lý do chọn đề tài 8
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
3.Ý nghĩa nghiên cứu 17
3.1. Ý nghĩa khoa học 17
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 17
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 19
4.1. Mục đích nghiên cứu 19
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 19
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 19
5.1. Đối tượng nghiên cứu 19
5.2. Khách thể nghiên cứu 19
6. Phạm vi nghiên cứu 20
6.1. Phạm vi thời gian 20
6.2. Phạm vi không gian 20
6.3.Phạm vi nội dung 20
7. Câu hỏi nghiên cứu 20
8. Phương pháp nghiên cứu 21
8.1. Phương pháp luận 21
8.2. Phương pháp thu thập thông tin 22
NỘI DUNG CHÍNH 26
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 26
1.1.Các khái niệm công cụ 26
1.2.Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 29
1.2.1.Thuyết hệ thống 29
1.2.2. Thuyết nhu cầu của Maslow 29
1.2.3. Thuyết vai trò 30
1.3. Một số chính sách về trẻ khuyết tật 31

3.5. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp trẻ khuyết tật phục hồi
chức năng tại cộng đồng 96
KẾT LUẬN 101
KHUYẾN NGHỊ 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 110
7

GIẢI THÍCH Ý NGHĨA CHỮ VIẾT TẮT CBR
Community-based rehabilitation
Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng
đồng
PHCN
Phục hồi chức năng
TKT
Trẻ khuyết tật
UBND
Ủy ban nhân dân
UNICEF
United Nations Children's Fund
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới

sự tài trợ của các tổ chức là một trong những nhiệm vụ của người làm công tác xã
hội phải giải quyết. Việc giúp trẻ khuyết tật được chăm sóc sức khỏe toàn diện, có
cơ hội phục hồi chức năng sớm phù hợp với mục đích, chức năng của công tác xã
hội, đồng thời cũng phù hợp với đường lối chính sách của nhà nước mà cũng là đi
đúng với xu hướng chung của quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em, đem lại cơ hội ngang bằng cho sự phát triển của tất cả trẻ em. Xuất phát từ
nhu cầu thực tế của trẻ khuyết tật và những lợi ích của nghiên cứu mang lại nên tôi
đã lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Tăng cường khả năng tiếp cận hệ dịch vụ chăm
sóc sức khỏe cho trẻ khuyết tật sống ở cộng đồng” với trường hợp điển hình tại xã
Tân An, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
9
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu chung về trẻ khuyết tật
Early Childhood Development and Disability:A discussion paper/World
Health Organization 2012 [39] :Thời thơ ấu là khoảng thời gian từ trước khi sinh
đến 8 tuổi, đây là giai đoạn quan trọng của sự tăng trưởng và phát triển, những kinh
nghiệm tích lũy được trong giai đoạn này sẽ là nền tảng cho sự học tập và phát triển
suốt đời của một con người. Đối với trẻ em khuyết tật việc can thiệp sớm trong giai
đoạn này lại càng quan trọng hơn, nếu được can thiệp sớm trong thời gian này sẽ
giúp trẻ phát huy được hết tiềm năng của bản thân. Tuy nhiên, các thiết kế chương
trình và dịch vu cần thiết cho sự phát triển dường như đang bỏ qua đối tượng trẻ
khuyết tật và trẻ cũng không được nhận sự hỗ trợ cụ thể nào để đáp ứng nhu cầu của
mình. Trẻ khuyết tật và gia đình đang phải đối mặt với những rào cản bao gồm cả
luật pháp và chính sách, sự phân biệt đối xử, kì thị, thiếu các dịch vụ phù hợp…Nếu
trẻ khuyết tật và gia đình không được hỗ trợ và can thiệp sớm phù hợp, hỗ trợ và
bảo vệ thì những khó khăn của họ sẽ ngày càng nghiêm trọng, thường dẫn đến hậu
quả suốt đời, gia tăng nghèo đói và bị loại trừ ra ngoài xã hội.
Monitoring Child Disability in Developing Countries/Results from the
Multiple Indicator Cluster Surveys [29] :Việc hiểu sự phân bố khuyết tật giữa các
khu vực và những nguy cơ dẫn đến khuyết tật ở các nước trên thế giới sẽ có tác

quyền lợi của trẻ em khuyết tật được hưởng, như quyền được bảo vệ không bị phân
biệt đối xử chỉ vì khuyết tật, quyền được sống trong cộng đồng, quyền được tiếp
cận, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được giáo dục, quyền về danh tính, khai
sinh và năng lực pháp lý. Trong đó nghiên cứu nhấn mạnh đến quyền được tiếp cận
là vấn đề tràn lan nhất mà tất cả những trẻ khuyết tật phải đối mặt là tình trạng thiếu
tiếp cận đến những khu vực công và dịch vụ công: trẻ khuyết tật không được đến
trường, không đến trung tâm y tế, bởi các tòa nhà và phương tiện giao thông đó
không thiết kế làm môi trường cư ngụ cho họ.
“Families of children with disabilities [24] : Positive adaptation across the
life cycle – Gia đình trẻ của trẻ em khuyết tật: sự thích ứng tích cực qua vòng đời”
nội dung nghiên cứu ngoài việc bàn luận việc các gia đình trẻ khuyết tật đã làm thế
11
nào để thích nghi với hoàn cảnh qua từng giai đoạn phát triển của trẻ thì còn nhấn
mạnh đến những vai trò của nhân viên công tác xã hôi trong việc trợ giúp gia đình
và trẻ khuyết tật. Chẳng hạn như nhân viên công tác xã hội phải hành động như một
người biện hộ cho trẻ em và gia đình chúng để những nhu cầu của gia đình và trẻ
em được đáp ứng, tăng cường năng lực cho gia đình để gia đình có cơ hội hành
động vì những quyền và nhu cầu của con em họ. Vai trò thứ hai của nhân viên công
tác xã hội là kết nối các gia đình với các dịch vụ cần thiết sẵn có, như liệt kê các
mạng lưới trợ giúp trước khi kết nối gia đình với các dịch vụ đó. Vai trò cuối cùng
mà nghiên cứu đề cập đến là nhà giáo dục, nhân viên công tác xã hội cần thiết kế
các chương trình giáo dục giành cho các thành viên trong gia đình, bạn bè và các
nhà chuyên môn. Chương trình này phải kết hợp các nội dung về nhu cầu, mong
muốn và các vấn đề mà gia đình của trẻ em khuyết tật phải thường xuyên đối mặt.
Theo báo cáo Tình hình trẻ em thế giới năm 2013 [37] với chủ đề trẻ em
khuyết tật của Unicef chỉ ra rằng trẻ khuyết tật là nhóm trẻ ít được chăm sóc sức
khỏe và được đi học nhất. Nhiều trẻ khuyết tật không được thừa nhận ngay từ khi
mới sinh ra, thiếu sự thừa nhận chính thức cũng đồng thời với việc các em bị loại ra
khỏi các dịch vụ xã hội và sự bảo trợ pháp lý cần thiết cho sự sống còn và phát triển
của mình, thực trạng bị đẩy ra ngoài lề xã hội khiến cho các em bị phân biệt đối xử

thức – Thái độ - Hành vi): Bố mẹ trẻ khuyết tật thường không chủ động đưa con đi
khám chữa bệnh định kỳ mà chỉ thực sự làm vậy khi các cháu bị bệnh nặng. Thông
thường, một đợt sốt cấp tính nặng, hay một phát hiện tình cờ về những thay đổi đột
ngột trong cách sinh hoạt của trẻ (giật tay, chân, hay mềm xương sọ, bàn chân duỗi
đờ ra, hoặc tay tự nhiên mềm ra) là nguyên nhân khiến họ đưa con đi khám bệnh.
Tuy nhiên, khi bệnh tình của con họ thuyên giảm, họ lại không tiếp tục lo chạy chữa
cho khuyết tật của chúng. Bố mẹ thường đưa con tới khám và điều trị tại các cơ sở y
tế tư nhân, hoặc tự mua thuốc điều trị cho trẻ, và không hứng thú với việc đưa con
tới các cơ sở y tế công. Lý do cơ bản là do cán bộ y tế, ngoài việc cấp phát thuốc,
13
thường không khám chữa tận tình cho trẻ, và không tư vấn chi tiết cho bố mẹ về
bệnh tình của trẻ. Riêng những trẻ trong các trường chuyên biệt và các cơ sở bảo trợ
xã hội của nhà nước thì được khám chữa bệnh miễn phí thông qua các chương trình
liên kết chăm sóc sức khỏe giữa các cơ sở này và bệnh viện lân cận. Song, số trẻ
được hưởng chế độ chăm sóc này cũng rất hạn chế. Về phục hồi chức năng , bố mẹ
trẻ thường tự tìm cách phục hồi chức năng cho trẻ (theo kinh nghiệm của họ), hoặc
nếu được hướng dẫn đi nữa thì cũng tỏ ra thiếu kiên nhẫn trong việc duy trì chế độ
tập luyện, và có xu hướng thoái lui khi tật của trẻ không tiến triển tốt.
2.3. Nghiên cứu về việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật ở
cộng đồng.
Bằng cách điều tra kinh nghiệm của người khuyết tật trong việc sử dụng và
tiếp cận các dịch y tế, các nhà nghiên cứu của Ireland [28]đã đưa ra những bất bình
đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế của nước này như không được cung cấp thông
tin đầy đủ về dịch vụ hỗ trợ hoặc trị liệu, các dịch vụ y tế không có sự liên kết và
phối hợp với nhau trong khi một số nhân viên y tế không có đầy đủ về dạng khuyết
tậ của họ, khiến cho việc cung cấp dịch vụ y tế như nhau đối với các loại khuyết tật
khác nhau, và người khuyết tật khó khăn trong việc lựa chọn cơ sở ý tế đáp ứng
đúng với nhu cầu chữa trị của họ. Tất cả những lý do đó đã làm cho người khuyết
tật không được chăm sóc sức khỏe một cách đầy đủ và toàn diện, ảnh hưởng đến sự
phục hồi cũng như sự phát triển thể chất và tinh thần của họ.

developmental disabilities [30]- tạm dịch là hỗ trợ chăm sóc gia đình đối với cá
nhân khuyết tật phát triền” cũng nói đến những rào cản trong khi tiếp cận với cách
dịch vụ hỗ trợ cho trẻ khuyết tật: thiếu thông tin, các điều kiện để nhận được sự hỗ
trợ, những hình thức hỗ trợ không đầy đủ hoặc không linh hoạt, rào cản hành chính
có nghĩa là cha mẹ trẻ phải chờ đợi rất lâu để được nhận một nguồn hỗ trợ nào đó,
sự hạn chế về nhà cung cấp dịch vụ, thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp, những
rào cản hệ thống như thiếu sự hợp tác trong việc cung cấp dịch vụ giữa các tổ chức
khác nhau cũng tạo ra những rào cản cho các gia đình muồn tiếp cận với sự hỗ trợ.
Đồng thời bài viết nói đến vai trò công tác xã hội và những người làm trong lĩnh
15
vực công tác chăm sóc sức khỏe cũng có thể trợ giúp cải thiện cơ hội tiếp cận dịch
vụ bằng cách cũng cấp thông tin đến các gia đình, giáo dục, đào tạo, phối hợp giữa
các dịch vụ và biện hộ.
Khác với nghiên cứu trên nói về những bất bình đẳng vào rào cản của người
khuyết tật khi tham gia dịch vụ y tế, Nghiên cứu Health Insurance and Children
with Disabilities /2005/ Peter G. Szilagyi Peter G /một chuyên gia về nhi khoa của
Trường đại học Rochestor) [29] lại đưa ra vai trò quan trọng của bảo hiểm y tế đối
với trẻ khuyết tật, nghiên cứu đã chứng minh rằng những trẻ khuyết tật có bảo hiểm
y tế thường xuyên đến các dịch vụ y tế để chăm sóc sức khỏe hơn là những trẻ
không có bảo hiểm y tế, bởi nó liên quan đến chi phí để chi trả cho mỗi lần khám
chữa bệnh. Bởi vậy, theo ông, việc cấp bảo hiểm y tế cho trẻ khuyết tật là một việc
làm cần thiết và quan trọng trong việc cải thiện hiện trạng chăm sóc sức khỏe cho
trẻ khuyết tật hiện nay.
Trong hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của tổ chức y tế thế
giới (community-based rehabilitation: CBR guidelines/ World Health Organization
2010) [38] cho biết có một tỷ lệ rất nhỏ người khuyết tật ở các nước thu nhập thấp
được tiếp cận với các dịch vụ phục hồi chức năng và các hệ thống chăm sóc sức
khỏe phù hợp với nhu cầu của họ. Chăm sóc y tế cần phải dựa trên khái niệm “sức
khỏe cho mọi người” như chăm sóc sức khỏe ban đầu, có nghĩa là tất cả mọi người
dân trong cộng đồng đều có thể tiếp cận và sử dụng dịch vụ, với mức chi phí phù

trường của họ, nó có liên quan đối với cả những người khuyết tật có được trong suốt
cuộc đời của họ và cho những người có khuyết tật bẩm sinh. Dịch vụ phục hồi chức
năng dao động từ cơ bản đến chuyên ngành và được cung cấp ở nhiều địa điểm
khác nhau ví dụ như bệnh viện, gia đình và môi trường cộng đồng. Phục hồi chức
năng thường được khởi xướng bởi các lĩnh vực y tế nhưng đòi hỏi phải có sự hợp
tác giữa các thành phần .
Thiết bị trợ giúp: Một thiết bị đã được thiết kế , thực hiện hoặc điều chỉnh để
hỗ trợ một người để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể được biết đến như một thiết bị
hỗ trợ. Nhiều người khuyết tật được hưởng lợi từ việc sử dụng một hoặc nhiều thiết
17
bị hỗ trợ. Một số loại phổ biến của thiết bị hỗ trợ là: các thiết bị di động ( ví dụ như
cây gậy chống , xe lăn ), bộ phận giả (ví dụ như chân nhân tạo ) , dụng cụ chỉnh
hình (ví dụ như tay nẹp) , các thiết bị hình ảnh (ví dụ như kính , gậy màu trắng ) và
thiết bị trợ thính ( máy trợ thính ) .Để đảm bảo rằng thiết bị hỗ trợ được sử dụng có
hiệu quả , các khía cạnh quan trọng của cung cấp bao gồm giáo dục người sử dụng,
sửa chữa, thay thế và thích nghi môi trường trong gia đình và cộng đồng
Như vậy các chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một
công cụ hữu hiệu để người khuyết tật được chăm sóc một cách tốt nhất, phù hợp với
điều kiện kinh tế của các nước đang phát triển.
Có thể nói, trong các nghiên cứu đã đề cập trên, vấn đề tiếp cận dịch vụ chăm
sóc sức khỏe cho trẻ khuyết tật đã được đề cập đến, tuy nhiên, đó chỉ là một phần
nhỏ trong một nghiên cứu về các vấn đề chung mà trẻ khuyết tật đang gặp phải chứ
không phải là một nghiên cứu chi tiết về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức
khỏe cho trẻ khuyết tật. Thêm vào đó, các nghiên cứu phần lớn chỉ nêu ra thực trạng
vấn đề tiếp cận như thế nào, chứ không đề cập đến việc sẽ giải quyết vấn đề đó như
thế nào, cần phải tiến hành cụ thể ra sao để cải thiện tình hình, góp phần trợ giúp trẻ
khuyết tật và gia đình có thể dễ dàng hơn trong việc chăm sóc sức khỏe.
 Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đã đề cập và căn cứ vào thực trạng của tình
hình chăm sóc trẻ khuyết tật hiện nay, thiết nghĩ cần phải có một nghiên cứu về việc
tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ khuyết tật ở cộng

trong việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cho cha mẹ, người chăm sóc
trẻ để trẻ có cơ hội được chăm sóc về sức khỏe một cách tốt nhất.
 Đối với chính sách về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
Phải thừa nhận rằng trong những năm qua, người khuyết tật đã và đang nhận
được sự quan tâm của nhà nươc, điều đó thể hiện qua việc Luật người khuyết tật đã
được ban hành kèm theo đó là những nghị định, nghị quyết hướng dẫn thực hiện.
Tuy nhiên hiệu quả thực hiện Luật lại chưa được như mong đợi, khi rất nhiều trẻ em
khuyết tật chưa thực sự tiếp cận được với các dịch vụ hỗ trợ mà Luật đã quy định,
bởi vậy, nghiên cứu sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách,
19
Luật pháp mà nhà nước đã ban hành, cũng là góp phần đảm bảo quyền lợi cho trẻ
khuyết tật đang sống ở cộng đồng.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
 Nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu thực trạng việc tiếp cận dịch vụ
chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật ở cộng đồng, trên cơ sở đó đưa ra các
giải pháp giúp trẻ khuyết tật ở cộng đồng có nhiều cơ hội và điều kiện thuận
lợi để được theo dõi, chăm sóc sức khỏe dễ dàng hơn, và mở ra hi vọng phục
hồi một phần nào đó các chức năng bị khiếm khuyết.
 Nghiên cứu cũng nhằm mục đích xác định vai trò của công tác xã hội trong
việc hỗ trợ, cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ
khuyết tật ở cộng đồng.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
 Chỉ rõ và mô tả thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho trẻ khuyết tật ở
địa phương.
 Phân tích những điểm thuận lợi và hạn chế mà trẻ khuyết tật và gia đình đã
trải qua trong khi tìm cách tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
 Đưa ra các giải pháp cấp thiết để trẻ khuyết tật tiếp cận được với dịch vụ
chăm sóc sức khỏe phù hợp với dạng khiếm khuyết của bản thân.
 Chỉ rõ vai trò của người làm công tác xã hội trong việc giúp trẻ khuyết tật

thế nào?
 Những khó khăn nào mà trẻ khuyết tật và gia đình đang phải đối mặt trong
việc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe ?
 Những giải pháp nào đã được thực hiện để cải thiện khả năng tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật và cần thay đổi hay cải thiện những
gì để trẻ khuyết tật và gia đình tiếp cận được với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
một cách tốt nhất ?
 Công tác xã hội có vai trò như thế nào trong việc cải thiện và thay đổi tình
hình hiện tại?
21
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp luận
 Phương pháp luận duy vật biện chứng
Phương pháp luận duy vật biện chứng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện,
tổng thể từng khía cạnh của mọi sự vật hiện tượng trong quá trình vận động và phát
triển, trên cơ sở đó có sự đánh giá khách quan, chính xác, đồng thời xử lý hiệu quả
các vấn đề tồn tại trong cuộc sống thực tiễn.
Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp với lý thuyết của công
tác xã hội trong nghiên cứu sẽ giúp người nghiên cứu thấy được mối quan hệ tương
tác giữa khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe với các yếu tố ảnh hưởng đến
nó, như mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khỏe, năng lực của các cán bộ thực hiện
nhiêm vụ hỗ trợ, năng lực của người chăm sóc trẻ, để từ đó có được cái nhìn toàn
diện, tổng thể và đưa ra được giải pháp đúng đắn nâng cao khả năng tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật ở cộng đồng.
 Lý thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu để lý giải mối liên
quan liên ngành trong việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật và gia đình tiếp cận được với
dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bởi việc trợ giúp không thể thành công chỉ phụ thuộc vào
các ban ngành trong một hệ thống.
 Thuyết nhu cầu (Maslow)

cáo cụ thể của địa phương.
 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn là phương pháp cụ thể để thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội
học thông qua việc tác động tâm lý – xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và người
được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
nghiên cứu. Tùy theo mục đích thu thập thông tin mà người làm nghiên cứu sử dụng
các loại phỏng vấn khác nhau. Với mong muốn tìm hiểu quan điểm, thái độ cũng
như nhận thức của một số khách thể trong nghiên cứu, tác giả đã lựa chọn phương
pháp phỏng vấn sâu để tiến hành thu thập thông tin. Cụ thể, tác giả nghiên cứu đã
tiến hành 23 phỏng vấn sâu ở 11 khách thể với những nội dung sau:

23
Đối tượng phỏng vấn
Số lượng
Mục đích
Trẻ khuyết tật
5
Hoạt động thường ngày của trẻ: gặp khó
khăn gì
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trẻ
Cha mẹ, người chăm sóc trẻ
khuyết tật
7
Các nguồn thông tin về hệ thống chăm sóc
sức khỏe
Mức độ tiếp cận với hệ thống chăm sóc
sức khỏe
Những khó khăn khi tiếp cận với hệ thống
chăm sóc sức khỏe
Những đề xuất để việc tiếp cận với hẹ

phương của hội
24
Giáo viên đứng lớp có trẻ
khuyết tật
2
Kiến thức về trẻ khuyết tật
Phương pháp hỗ trợ trẻ khuyết tật trong
lớp học.
Cán bộ phòng lao động xã
hội
1
Thủ tục làm hồ sơ để hưởng các quyền lợi
của trẻ khuyết tật.
Những khó khăn trong quá trình hoàn
thiện hồ sơ cũng như giám định trường
hợp để xác định đối tượng được hưởng trợ
cấp.
Cán bộ phòng bảo hiểm xã
hội
1
Những lợi ích mà bảo hiểm y tế đem lại
cho trẻ khuyết tật trong quá trình khám
chữa bệnh.
Tổng số phỏng vấn sâu : 23

 Vãng gia
Vãng gia là đi thăm viếng tại gia đình; tiếp cận và thăm hỏi thân chủ tại gia
đình của họ vì lý do chuyên môn, không giống như thăm bạn bè xã giao thông
thường.
- Mục đích: Tạo sự gần gũi, thân mật với gia đình thân chủ, quan sát thân chủ trong

Trích đoạn Đánh giá của trẻ khuyết tật và gia đình về dịch vụ chăm sóc sức khỏe Rào cản tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật Sơ lƣợc về hệ thống đội ngũ nhân viên trong hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật sống ở cộng đồng Các hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật sống ở cộng đồng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Mô hình điển hình về tăng cƣờng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật ở cộng đồng[3]
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status